(069). 518.055

Từ Công an nhân dân vũ trang đến Bộ đội Biên phòng: Nhiệm vụ nặng nề - Trách nhiệm vẻ vang

Ngày 15/08/202110904

Trải qua hàng nghìn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước, biên cương luôn là “phên giậu” của Tổ quốc. Biên cương đất nước, lãnh thổ quốc gia - là gia tài thiêng liêng, vô cùng quý giá của ông cha biết bao đời, đã đổ nhiều mồ hôi, xương máu để trao truyền lại cho con cháu. Kế thừa và phát huy truyền thống bảo vệ bờ cõi của tổ tiên, Đảng, Nhà nước Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn giành sự quan tâm đặc biệt đến việc tổ chức và xây dựng các lực lượng làm nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới đất liền, bờ biển, giới tuyến và các mục tiêu quan trọng ở nội địa.  

Ngày 16 - 2 - 1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 141/SL, thành lập Công an Biên phòng thuộc Bộ Công an; được tổ chức biên chế theo hình thức các đồn công an biên phòng dọc biên giới, trực thuộc ty công an các tỉnh có biên giới. Tiếp đó, ngày 28 - 7 - 1956 Chính phủ ra Nghị định số 982/TTg, thành lập lực lượng Cảnh sát vũ trang thuộc Bộ Công an, làm nhiệm vụ bảo vệ các trại giam, tham gia tiễu phỉ, trừ gian.

Cùng với hai lực lượng trên còn có các đơn vị quân đội thuộc Bộ Quốc phòng làm nhiệm vụ bảo vệ (gọi là Bộ đội Bảo vệ), gồm: Trung đoàn Tây Bắc đảm trách bảo vệ biên giới Việt Nam - Lào, Đại đoàn 350 (Sư đoàn 350) làm nhiệm vụ bảo vệ các cơ quan Trung ương, bảo vệ các mục tiêu chính trị, kinh tế, quân sự quan trọng ở miền Bắc và Tiểu đoàn 25 (sau này là Tiểu đoàn 41) chuyên trách bảo vệ giới tuyến quân sự tạm thời.

Để có một lực lượng vũ trang thống nhất, chuyên trách, vững mạnh về chính trị, chặt chẽ về tổ chức, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới, ngày 19 - 11 - 1958, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa II) ra Nghị quyết số 58/NQ-TW “Về việc thành lập lực lượng Cảnh vệ nội địa và biên phòng”. Đây là nghị quyết đầu tiên của Đảng về công tác biên phòng, nội địa và giới tuyến, khẳng định vai trò, vị trí, tầm quan trọng của biên giới quốc gia. Nghị quyết xác định rõ nhiệm vụ của lực lượng Cảnh vệ là: Trấn áp mọi hành động phá hoại của bọn phản cách mạng trong nước và bọn phản cách mạng ngoài nước xâm nhập phá hoại nước ta, luôn luôn sẵn sàng, chiến đấu để bảo vệ an ninh biên giới, bờ biển, giới tuyến và nội địa, bảo vệ an toàn cho các cơ sở kinh tế, văn hóa quan trọng.

Thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị, ngày 3 - 3 - 1959, Thủ tướng Chính phủ ra Nghị định số 100/TTg thành lập lực lượng Công an nhân dân vũ trang, nêu rõ:“Thống nhất các đơn vị bộ đội quốc phòng đang làm công tác bảo vệ nội địa, bảo vệ biên giới, giới tuyến và các đơn vị công an biên phòng, cảnh sát vũ trang thành một lực lượng vũ trang chuyên trách công tác biên phòng và bảo vệ nội địa, lấy tên là Công an nhân dân vũ trang, đặt dưới sự lãnh đạo của Bộ Công an”; và cơ cấu biên chế tổ chức gồm 3 cấp: ở trung ương có Ban Chỉ huy Trung ương Công an nhân dân vũ trang (tháng 7 - 1961 đổi tên thành Bộ Tư lệnh Công an nhân dân vũ trang); cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có Ban chỉ huy Công an nhân dân vũ trang tỉnh, thành phố; cấp cơ sở có các đồn công an nhân dân vũ trang và đơn vị cơ động. Từ đó, ngày 3 - 3 hàng năm trở thành ngày truyền thống của Công an nhân dân vũ trang - nay là Bộ đội Biên phòng.

Hơn nửa thế kỷ xây dựng và trưởng thành của Công an nhân dân vũ trang trước đây, Bộ đội Biên phòng ngày nay liên tục có sự phát triển về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức, biên chế, gắn liền với quá trình vận động, phát triển của tình hình, nhiệm vụ cách mạng cả nước, được cụ thể hóa bằng các chỉ thị, nghị quyết của Đảng và quyết định của Chính phủ.

Ngày 10 - 10 - 1979, Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khóa IV) ra Nghị quyết số 22-NQ/TW, về việc “Chuyển giao nhiệm vụ và lực lượng Công an nhân dân vũ trang sang Bộ Quốc phòng”. Tiếp đó, ngày 30 - 11 - 1987, Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khóa VI) ra Nghị quyết số 07/NQ-TW, về “Nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự an toàn xã hội trong tình hình mới”, “Chuyển giao Bộ đội Biên phòng cho Bộ Nội vụ trực tiếp phụ trách” (nay là Bộ Công an). Ngày 31 - 5 - 1988, Ban Bí thư ra Chỉ thị số 41-CT/TW, về “Chuyển giao lực lượng Bộ đội Biên phòng từ Bộ Quốc phòng sang Bộ Nội vụ” đã ghi rõ: Bộ Quốc phòng chuyển giao nhiệm vụ, toàn bộ tổ chức, biên chế, trang bị và cơ sở vật chất, kỹ thuật của toàn bộ lực lượng Bộ đội Biên phòng sang Bộ Nội vụ. Lực lượng Bộ đội Biên phòng đặt dưới sự chỉ đạo, chỉ huy toàn diện của Bộ trưởng Bộ Nội vụ.

Ngày 8 - 8 - 1995, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khóa VII) ra Nghị quyết số 11-NQ/TW về “Xây dựng Bộ đội Biên phòng trong tình hình mới” đã quyết định chuyển Bộ đội Biên phòng từ Bộ Nội vụ sang Bộ Quốc phòng và xác định nhiệm vụ của Bộ đội Biên phòng: Bảo vệ biên giới trên bộ, trên biển; bảo vệ chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của đất nước; bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, chống xâm nhập trái phép và chống buôn lậu qua biên giới; bảo vệ tài nguyên của đất nước; xây dựng biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác, phát triển với các nước láng giềng. Phối hợp với lực lượng biên phòng các nước láng giềng thi hành các điều ước quốc tế, các hiệp ước, hiệp định; tuyên truyền vận động nhân dân vùng biên giới tăng cường đoàn kết, thực hiện tốt các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước; xây dựng cơ sở chính trị, xây dựng nền biên phòng toàn dân, thế trận biên phòng toàn dân vững mạnh.

Ngày 22 - 12 - 2004, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khóa IX) ra Thông báo số 165-TB/TW, về tổ chức Bộ đội Biên phòng đã nhấn mạnh: Công tác bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia và xây dựng Bộ đội Biên phòng phải bảo đảm sự lãnh đạo tập trung, thống nhất của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Chủ tịch nước, Chính phủ, Đảng ủy Quân sự Trung ương, Bộ Quốc phòng và các Tỉnh ủy, Thành ủy (nơi có Bộ đội Biên phòng). Bộ đội Biên phòng mang tính chất như một quân chủng thuộc Bộ Quốc phòng, được chỉ huy, đảm bảo thống nhất theo ngành dọc từ trung ương đến cơ sở, với 3 cấp: Bộ Tư lệnh, bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh, thành phố và đồn biên phòng.

Từ khi thành lập và trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành, cán bộ, chiến sỹ Bộ đội Biên phòng rất vinh dự, tự hào, thường xuyên được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát, toàn diện của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trải qua 55 năm xây dựng và phát triển, Bộ đội Biên phòng đã không ngừng nỗ lực phấn đấu, hoàn thành xuất sắc “nhiệm vụ nặng nề, trách nhiệm vẻ vang” qua từng giai đoạn cách mạng.

1. Bảo vệ cac mục tiêu trọng yếu ở nội địa, bảo vệ biên giới, giới tuyến quân sự tạm thời, xây dựng phòng tuyến nhân dân, tiễu phỉ, chống gián điệp, biệt kích (1959 - 1965)

Ngay từ khi ra đời, tuy vũ khí trang bị còn rất thô sơ, thiếu thốn mọi mặt, địa bàn hoạt động rộng, xa xôi hẻo lánh, thời tiết, khí hậu vô cùng khắc nghiệt, nhưng cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân vũ trang đã đoàn kết một lòng, vượt qua muôn vàn khó khăn thử thách, nhanh chóng triển khai lực lượng, dựng đồn, lập trạm, bám bản, gây dựng cơ sở chính trị, tuyên truyền vận động đồng bào các dân tộc vùng biên giới, xây dựng phòng tuyến nhân dân, chiến đấu tiễu phỉ, chống gián điệp, biệt kích, thám báo, bảo vệ biên giới đất liền, bờ biển, giới tuyến quân sự tạm thời; bảo vệ Đảng, Nhà nước và các mục tiêu nội địa quan trọng thuộc 33 khu, tỉnh, thành phố miền Bắc và thủ đô Hà Nội. Trong những năm từ 1959 - 1965, với khẩu hiệu hành động “Chỉ biết còn Đảng là còn mình”; coi “Đồn là nhà, biên giới là quê hương, đồng bào các dân tộc là anh em ruột thịt”, cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân vũ trang đã nỗ lực vươn lên, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

2. Vừa bảo vệ biên giới, giới tuyến quân sự tạm thời, các mục tiêu trọng yếu ở nội địa, vừa tham gia đánh thắng chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ra miền Bắc và chi viện cho An ninh vũ trang miền Nam (1965 - 1975)

Từ năm 1965, các đơn vị Công an nhân dân vũ trang cùng quân và dân miền Bắc chống chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân của đế quốc Mỹ, chi viện miền Nam, làm nhiệm vụ quốc tế giúp bạn Lào và Campuchia anh em.

Ở miền Bắc, thực hiện lời kêu gọi kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các đơn vị Công an nhân dân vũ trang thường xuyên bám trụ ở những điểm đánh phá ác liệt nhất của đế quốc Mỹ, tích cực tham gia chiến đấu chống chiến tranh phá hoại. Từ năm 1965 - 1975, toàn lực lượng trực tiếp bắn rơi 219 máy bay Mỹ, phối hợp với các đơn vị bạn bắn rơi 225 chiếc, bắn bị thương 128 chiếc, bắt nhiều giặc lái; đồng thời, bắt và tiêu diệt nhiều toán gián điệp, biệt kích của địch, bảo vệ biên giới, giới tuyến quân sự tạm thời. Nhiều cán bộ, chiến sĩ đã lặn lội trong bom đạn cứu dân, cứu tài sản Nhà nước; tháo gỡ bom mìn, thủy lôi của địch, giữ vững an ninh trật tự khu vực biên phòng và các mục tiêu nội địa, góp phần bảo vệ an toàn tuyến hành lang vận chuyển chi viện cho chiến trường miền Nam (đường Hồ Chí Minh trên bộ, trên biển) và chi viện 5.000 cán bộ, chiến sĩ cho lực lượng An ninh vũ trang miền Nam (1965 - 1975) . Ngoài ra, các đơn vị Công an nhân dân vũ trang miền Bắc còn cử nhiều đội công tác đặc biệt sang giúp bạn Lào xây dựng cơ sở chính trị, vận động nhân dân tham gia quân đội, ủng hộ cách mạng Lào và tổ chức tuyên truyền đặc biệt, chiến đấu phá nhiều cụm phỉ ở mặt trận K5 (đối diện các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh) và các tỉnh của Lào đối diện 3 tỉnh Điện Biên, Sơn La, Quảng Trị.

Trên chiến trường miền Nam, lực lượng An ninh vũ trang lúc đầu là Đại đội 180, sau này phát triển thành Trung đoàn 180 được giao nhiệm vụ bảo vệ vòng ngoài, đánh địch đổ bộ, càn quét, đánh biệt kích, thám báo để bảo vệ các khu căn cứ và Trung ương Cục. Về tổ chức, ở cấp khu biên chế tiểu đoàn, ở cấp tỉnh biên chế đại đội an ninh vũ trang. Tuy lực lượng An ninh vũ trang miền Nam mới được thành lập, song cán bộ, chiến sĩ luôn phát huy tinh thần sắt son, kiên trung với Đảng, với cách mạng, kiên trì, bền bỉ, bám đất, bám dân, trụ vững giữa lòng địch, xây dựng cơ sở, vận động và tổ chức quần chúng đấu tranh trực diện với kẻ thù, tiến hành công tác binh địch vận, phá vỡ nhiều tổ chức tình báo, mật vụ, hỗ trợ đắc lực cho các cuộc nổi dậy của quần chúng phá ấp chiến lược, mở rộng vùng giải phóng; táo bạo, mưu trí tiến công phá hủy nhiều căn cứ quân sự, mục tiêu quan trọng của Mỹ, chính quyền và quân đội Sài Gòn và tiêu diệt bọn ác ôn, bảo vệ an toàn tuyệt đối Trung ương Cục, các Khu ủy, Tỉnh ủy, Thành ủy cách mạng ở miền Nam. Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh mùa Xuân 1975, được sự chi viện của Công an nhân dân vũ trang miền Bắc, lực lượng An ninh vũ trang miền Nam đã phối hợp với các lực lượng khác trực tiếp tham gia chiến đấu, bắt sống, tiêu diệt nhiều tên gián điệp, ác ôn nằm vùng của địch và tham gia dẫn đường cho các cánh quân tiến vào giải phóng thành phố Sài Gòn, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

3. Quản lý, bảo vệ biên giới trên phạm vi toàn quốc, đấu tranh chống kế hoạch hậu chiến của địch, tham gia chiến đấu bảo vệ biên giới, làm nhiệm vụ quốc tế ở Lào và Campuchia (1975 - 1986)

Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã mở ra giai đoạn mới: cả nước thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, bọn phản động trong nước vẫn ráo riết kết cấu với chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch triển khai kế hoạch “hậu chiến”; lôi kéo người Việt Nam vượt biên, vượt biển di cư ra nước ngoài; sử dụng tàn quân FULRO, tổ chức lực lượng phản động xâm nhập vào biên giới, móc nối xây dựng cơ sở ngầm hòng chống phá cách mạng Việt Nam.

Trước tình hình đó, toàn lực lượng Công an nhân dân vũ trang đã khẩn trương triển khai hệ thống đồn, trạm biên giới, vận động nhân dân xây dựng phòng tuyến bảo vệ chủ quyền, an ninh trên chiều dài gần 8.000km biên giới đất liền, bờ biển thuộc địa bàn của 1.078 xã, phường, thị trấn, 227 quận, huyện, thị xã, 44 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có biên giới thuộc 7 quân khu; khẩn trương cùng các đơn vị quân đội, công an và nhân dân cả nước quyết tâm đấu tranh chống kế hoạch “hậu chiến”, truy quét tàn quân FULRO, chống vượt biên, vượt biển trái phép, bóc gỡ cơ sở ngầm của địch, củng cố chính quyền cơ sở mới thành lập ở các tỉnh biên giới phía Nam; trực tiếp đương đầu với cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam (1975 - 1978), biên giới phía Bắc (1979) và chống “chiến tranh phá hoại nhiều mặt”, giữ vững an ninh quốc gian trật tự an toàn xã hội khu vực biên giới, bảo vệ toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ Tổ quốc. Thực hiện chủ trương của Đảng “giúp bạn là tự giúp mình” Bộ đội Biên phòng đã triển khai 9 trung đoàn biên phòng phối hợp với các đơn vị quân đội và công an, kề vai sát cánh cùng lực lượng vũ trang và nhân dân Campuchia đấu tranh chống Khơme đỏ, xóa bỏ chế độ diệt chủng; giúp bạn bảo vệ chủ quyền biên giới trên các tuyến; đồng thời cử nhiều đội công tác giúp nhân dân Lào đấu tranh chống phỉ và bọn phản động, góp phần củng cố tình đoàn kết chiến đấu giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân Lào và nhân dân Campuchia anh em.

4. Đổi mới đồng bộ, toàn diện công tác biên phòng, xây dựng Bộ đội Biên phòng vững mạnh toàn diện, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước giao trong thời kỳ hội nhập quốc tế (1986 đến nay)

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, từ năm 1986 nước ta bước vào thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế. Công tác biên phòng vừa phải giữ vững chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia, vừa tạo điều kiện thuận lợi cho giao lưu, phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và nhân dân. Quán triệt đường lối đổi mới của Đảng, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng đã lãnh đạo, chỉ đạo các đơn vị tích cực nghiên cứu, đổi mới toàn diện các biện pháp công tác biên phòng, đổi mới tư duy lý luận về công tác biên phòng; đổi mới chủ trương, đối sách đấu tranh với các loại đối tượng; đổi mới về bố trí, sử dụng lực lượng, phương tiện và đổi mới hình thức, biện pháp phối hợp với các ngành, các lực lượng trong bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới... Trong đó, xác định biện pháp trinh sát là mũi nhọn, vận động quần chúng là cơ bản, tuần tra vũ trang, kiểm soát hành chính, công trình kỹ thuật là quan trọng và nâng tầm công tác đối ngoại biên phòng thành một biện pháp nghiệp vụ trọng yếu của Bộ đội Biên phòng trong bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới; kết hợp chặt chẽ quốc phòng, an ninh và đối ngoại, tích cực tham gia phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói, giảm nghèo ở khu vực biên giới, phòng, chống thiên tai, khắc phục hậu quả bão, lụt... Kết hợp chặt chẽ các lực lượng và các biện pháp công tác, Bộ đội Biên phòng từng bước vươn ra bảo vệ chủ quyền các vùng biển, đảo của Tổ quốc, chủ động quan hệ hợp tác chặt chẽ với nhân dân và lực lượng bảo vệ biên giới các nước láng giềng.

Về phân giới cắm mốc biên giới, Bộ đội Biên phòng đã phối hợp chặt chẽ với các lực lượng và các địa phương hoàn thành công tác phân giới cắm mốc biên giới với nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, công tác tăng dày tôn tạo mốc quốc giới với nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào và tổ chức bảo vệ biên giới theo các văn bản pháp lý về biên giới và cửa khẩu mà Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký kết với Chính phủ hai nước; đồng thời đang tích cực hoàn thành công tác phân giới cắm mốc trên tuyến biên giới Tây Nam với Vương quốc Campuchia.

Để phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân, ngày 22 - 2 - 1989, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ra Quyết định số 16/HĐBT về tổ chức “Ngày Biên phòng” trong cả nước (chính thức có hiệu lực từ ngày 3 - 3 - 1989). Tiếp đó, ngày 17 - 6 - 2003, tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (khóa XI) đã thông qua Luật Biên giới quốc gia, trong đó quy định lấy ngày 3/3 hàng năm làm Ngày Biên phòng toàn dân. Trong những năm gần đây, cả nước đã có nhiều phong trào, mô hình hay như: phong trào “Quần chúng tham gia tự quản đường biên, cột mốc biên giới’, phong trào “Cả nước hướng về biên giới, hải đảo” và nhiều phong trào khác được hình thành phát triển sâu rộng. Trong Bộ đội Biên phòng cũng có nhiều mô hình, cách làm thiết thực như: “Thầy giáo quân hàm xanh”, “Thầy thuốc quân hàm xanh”, “Chiến sĩ tuyên truyền văn hóa quân hàm xanh” và “Cán bộ xã quân hàm xanh”, “Mái ấm cho người nghèo nơi biên giới, biển đảo”; “Mái ấm chiến sĩ nơi biên giới”; “Quỹ hiếm muộn”; “Chương trình bò giống cho người nghèo nơi biên giới”; dự án bảo tồn dân tộc người Đan Lai (Nghệ An), La Hủ (Lai Châu)..., góp phần quan trọng xây dựng nền biên phòng toàn dân, thế trận biên phòng toàn dân vững mạnh ở khu vực biên giới, biển. Ngoài ra, Bộ đội Biên phòng còn tham gia công tác tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn, giúp đỡ nhân dân khắc phục hậu quả thiên tai, sự cố môi trường và đấu tranh chống tội phạm vì sự bình yên cuộc sống và hạnh phúc của nhân dân.

Trải qua 56 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Biên phòng đã đoàn kết nỗ lực phấn đấu vượt qua mọi khó khăn, thử thách, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Ghi nhận những đóng góp lớn lao đó, Đảng và Nhà nước ta quyết định tặng thưởng Bộ đội Biên phòng danh hiệu Đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân (2 lần); 1 Huân chương Sao Vàng; 3 Huân chương Hồ Chí Minh; 2 Huân chương Độc lập hạng Nhất, hạng Nhì; 2 Huân chương Quân công hạng Nhất, hạng Ba; 1 Huân chương Lao động hạng Ba. Có 149 lượt tập thể và 64 cá nhân được Đảng, Nhà nước tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, trong đó có 8 tập thể được tuyên dương lần thứ 2; 33 lượt tập thể, 7 cá nhân được tuyên dương danh hiệu Anh hùng trong thời kỳ đổi mới và nhiều phần thưởng cao quý khác.

Trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành (1959 - 2015), các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Biên phòng đã không ngừng kế thừa và phát huy bản chất tốt đẹp, của dân tộc, quân đội nhân dân và công an nhân dân để xây dựng nên truyền thống vinh quang của mình; cụ thể:

Một là, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân, vượt qua mọi khó khăn gian khổ, quyết tâm bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia trong mọi tình huống.

Hai là, cảnh giác, mưu trí, dũng cảm trong chiến đấu, chủ động sáng tạo trong công tác, quyết thắng mọi kẻ thù và các loại tội phạm, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

Ba là, gắn bó máu thịt với nhân dân; đoàn kết, phối hợp với các ngành, các lực lượng; phát huy sức mạnh tổng hợp trong xây dựng và bảo vệ biên giới.

Bốn là, đoàn kết nội bộ, trên dưới một lòng, đồng cam cộng khổ, vượt mọi khó khăn; thực hiện “liêm, chính, kiệm, cần”, xây dựng lực lượng ngày càng vững mạnh

Năm là, tăng cường đoàn kết quốc tế, xây dựng biên giới hòa bình, hữu nghị với các nước láng giềng.

Những năm tới, hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế chung của thế giới và khu vực. Tuy nhiên, những thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức vẫn đan xen, tiềm ẩn những nhân tố phức tạp, khó lường, có thể gây mất ổn định như: tranh chấp biên giới, lãnh thổ, tài nguyên thiên nhiên; xung đột dân tộc, sắc tộc, tôn giáo; khủng bố…, nhất là tình hình tranh chấp chủ quyền giữa các nước trên biển Đông. Bên cạnh đó, công cuộc đổi mới, tạo ra những cơ hội mới đưa đất nước phát triển nhanh và toàn diện hơn; song cũng bộc lộ nhiều yếu kém, khuyết điểm, khó khăn, thách thức gay gắt. Các thế lực thù địch đẩy mạnh chiến lược “Diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam, tác động của mặt trái cơ chế kinh tế thị trường; sự suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức và lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, là nguy cơ lớn liên quan đến sự sống còn của Đảng và chế độ… Thực tế tình hình đã đặt ra cho công tác bảo vệ chủ quyền lãnh thổ rất toàn diện, nặng nề và phức tạp; đòi hỏi Bộ đội Biên phòng phải chủ động nắm chắc tình hình, xử lý tốt các tình huống xảy ra trên biên giới, bảo vệ vững chắc chủ quyền, an ninh biên giới trong mọi tình huống. Đây thực là nhiệm vụ nặng nề, trách nhiệm và vinh dự vẻ vang của Bộ đội Biên phòng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Trung tướng Võ Trọng Việt

Tin tức khác

Zalo phone Hotline