Ngày 27/02/20243001
Ngày 3/3/2024, Bộ đội Biên phòng (BĐBP) tròn tuổi 65. Trong suốt chặng đường 65 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, dù có những tên gọi khác nhau, đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, chỉ huy của Bộ Quốc phòng hay Bộ Công an và trong bất kỳ điều kiện, hoàn cảnh nào, BĐBP (tiền thân là lực lượng Công an nhân dân vũ trang) cũng luôn nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng, phát huy bản chất tốt đẹp và truyền thống vẻ vang của Đảng, của dân tộc, của CAND và QĐND.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, Đảng ủy Công an Trung ương, Bộ Công an, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, sự giúp đỡ tận tình của các cấp ủy Đảng, chính quyền và nhân dân địa phương, lớp lớp các thế hệ cán bộ, chiến sĩ BĐBP đã hết lòng tận trung với Đảng, tận hiếu với dân, khắc phục mọi khó khăn, bám trụ kiên cường nơi biên giới, luôn nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, góp phần to lớn vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.
Sự ra đời của lực lượng CANDVT, nay là BĐBP
Ngay sau thắng lợi của Chiến dịch Biên giới 1950, nhận rõ ý đồ Mỹ đang ráo riết hất cẳng Pháp ra khỏi Đông Dương để thống trị miền Nam nước ta bằng chủ nghĩa thực dân mới; thực hiện âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta, Trung ương Đảng và Bác Hồ đã quyết định thành lập 3 lực lượng trực thuộc Bộ Quốc phòng và Bộ Công an làm nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới đất liền, bờ biển, giới tuyến và các mục tiêu quan trọng ở nội địa gồm: Công an Biên phòng, Cảnh sát vũ trang thuộc Bộ Công an; Bộ đội Bảo vệ trực thuộc Bộ Quốc phòng.
Tuy nhiên, sau một thời gian thực hiện, nhận thấy cần phải có một lực lượng vũ trang thống nhất, chuyên trách, vững mạnh về chính trị, chặt chẽ về tổ chức; nắm vững đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; hiểu biết sâu về pháp luật, có năng lực quản lý, bảo vệ biên giới, giới tuyến, nội địa bằng các biện pháp nghiệp vụ chuyên sâu và khả năng chiến đấu vũ trang giỏi, ngày 19/11/1958, Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa II) ra Nghị quyết số 58/NQ-TW “Về việc thành lập lực lượng Cảnh vệ nội địa và Biên phòng”, sau này là lực lượng Công an nhân dân vũ trang (CANDVT), tiền thân của BĐBP ngày nay.
Đây là nghị quyết đặc biệt, đầu tiên của Đảng về công tác biên phòng, nội địa và giới tuyến, khẳng định vai trò, vị trí, tầm quan trọng của biên giới quốc gia; thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và nhân dân đối với lực lượng vũ trang chuyên trách, nòng cốt bảo vệ biên giới, giới tuyến và các mục tiêu nội địa. Nghị quyết của Bộ Chính trị xác định lực lượng Cảnh vệ nội địa và Biên phòng có nhiệm vụ: “Trấn áp mọi hành động phá hoại của bọn phản cách mạng trong nước và bọn phản cách mạng ngoài nước xâm nhập phá hoại nước ta, luôn luôn sẵn sàng chiến đấu để bảo vệ an ninh biên giới, bờ biển, giới tuyến và nội địa, bảo vệ an toàn cho các cơ sở kinh tế, văn hóa quan trọng”.
Thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị, ngày 3/3/1959, Thủ tướng Chính phủ ra Nghị định số 100/TTg thành lập lực lượng CANDVT, nêu rõ: “Thống nhất các đơn vị bộ đội thuộc Bộ Quốc phòng đang làm công tác bảo vệ nội địa, bảo vệ biên giới, giới tuyến và các đơn vị Công an Biên phòng, Cảnh sát vũ trang thành một lực lượng vũ trang chuyên trách công tác biên phòng và bảo vệ nội địa, lấy tên là CANDVT, đặt dưới sự lãnh đạo của Bộ Công an”.
Từ đây, lần đầu tiên trong lịch sử nước Việt Nam có một lực lượng vũ trang cách mạng, chính quy, tập trung thống nhất, chuyên trách làm nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới, các mục tiêu trọng yếu ở nội địa và giới tuyến quân sự tạm thời, tập trung thống nhất từ Trung ương đến cơ sở, gồm 3 cấp: Trung ương có Ban Chỉ huy Trung ương CANDVT (tháng 7/1961 đổi tên thành Bộ Tư lệnh CANDVT) do đồng chí Thiếu tướng Phan Trọng Tuệ, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Công an làm Tư lệnh, kiêm Chính ủy đầu tiên của lực lượng; cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có Ban Chỉ huy CANDVT tỉnh, thành phố; cấp cơ sở có các đồn CANDVT và đơn vị cơ động. Từ đó, ngày 3/3/1959 chính thức trở thành Ngày truyền thống của lực lượng CANDVT và BĐBP ngày nay.
Ngay từ khi thành lập và trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành, cán bộ, chiến sĩ BĐBP vinh dự tự hào khi thường xuyên được đón nhận sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát, toàn diện của Đảng, Bác Hồ kính yêu, sự lãnh đạo sâu sát của Đảng ủy Công an Trung ương, Bộ Công an và Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng. Tại buổi Lễ thành lập lực lượng, ngày 28/3/1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến dự và huấn thị cán bộ, chiến sĩ CANDVT: “Đoàn kết, cảnh giác/ Liêm chính, kiệm cần/ Hoàn thành nhiệm vụ/ Khắc phục khó khăn/ Dũng cảm trước địch/ Vì nước quên thân/ Trung thành với Đảng/ Tận tụy với dân”.
Khắc ghi lời Bác Hồ dạy, tuy còn gặp nhiều khó khăn trong buổi đầu thành lập, nhưng Ban Chỉ huy Trung ương CANDVT đã có nhiều cố gắng, sáng tạo trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, các đơn vị trong toàn lực lượng hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới, bờ biển, giới tuyến và các mục tiêu trọng yếu nội địa, phù hợp với đặc điểm từng địa bàn và tính chất nhiệm vụ từng đơn vị. Về biên chế tổ chức, Ban Chỉ huy Trung ương CANDVT tập trung chỉ đạo tăng cường quân số chiến đấu cho các đồn biên phòng và các đơn vị bảo vệ nội địa; hợp nhất đầu mối chỉ huy đối với những tỉnh có hai cơ quan chỉ huy biên phòng và chỉ huy nội địa; từng bước giảm bớt phân đội bảo vệ các mục tiêu không trọng yếu ở nội địa do tình hình cách mạng có nhiều chuyển biến tích cực và các lực lượng bảo vệ tại chỗ đã trưởng thành, đủ sức hoàn thành nhiệm vụ.
Và trong suốt chặng đường xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của CANDVT và BĐBP ngày nay, sau Nghị quyết số 58/NQ-TW ngày 19/11/1958 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa II) về việc “Thành lập lực lượng bảo vệ nội địa và biên phòng”, để lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới, bờ biển, giới tuyến và các mục tiêu trọng yếu nội địa, Đảng, Nhà nước tiếp tục ban hành nhiều Nghị quyết liên quan đến tình hình thực hiện nhiệm vụ và xây dựng lực lượng CANDVT như: Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 10/10/1979 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IV) về việc “Chuyển giao nhiệm vụ và lực lượng CANDVT sang Bộ Quốc phòng thành lực lượng BĐBP”.
Nghị quyết số 07/NQ-TW ngày 30/11/1987 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VI về “Nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự an toàn xã hội trong tình hình mới”. Nghị quyết đã chỉ rõ: “Chuyển giao lực lượng BĐBP cho Bộ Nội vụ trực tiếp phụ trách” (tức Bộ Công an hiện nay). Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 8/8/1995 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VII) về “Xây dựng BĐBP trong tình hình mới” đã quyết định chuyển BĐBP từ Bộ Nội vụ sang Bộ Quốc phòng và xác định nhiệm vụ công tác biên phòng trong tình hình mới rất toàn diện, bao gồm: “Bảo vệ biên giới trên bộ, trên biển; bảo vệ chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của đất nước; bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, chống xâm nhập và chống buôn lậu qua biên giới; bảo vệ tài nguyên của đất nước; xây dựng biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác, phát triển với các nước láng giềng. Phối hợp với lực lượng bảo vệ biên giới các nước láng giềng thi hành các điều ước quốc tế, các hiệp ước, hiệp định; tuyên truyền, vận động nhân dân vùng biên giới tăng cường đoàn kết, thực hiện tốt các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; xây dựng cơ sở chính trị, xây dựng nền biên phòng toàn dân, thế trận biên phòng toàn dân vững mạnh”.
Ngày 22/12/2004, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) ra Thông báo số 165-TB/TW về tổ chức BĐBP nhấn mạnh: Công tác bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia và xây dựng BĐBP phải bảo đảm sự lãnh đạo tập trung, thống nhất của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Chủ tịch nước, Chính phủ, Đảng ủy Quân sự Trung ương (nay là Quân ủy Trung ương), Bộ Quốc phòng và các tỉnh ủy, thành ủy (nơi có BĐBP). Giữ ổn định lâu dài hệ thống tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của BĐBP như Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 8/8/1995 của Bộ Chính trị. BĐBP là một quân chủng thuộc Bộ Quốc phòng, được chỉ huy, đảm bảo thống nhất theo ngành dọc từ Trung ương đến cơ sở, với 3 cấp: Bộ Tư lệnh, Bộ Chỉ huy BĐBP tỉnh, thành phố và đồn Biên phòng. Thường xuyên phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ với các lực lượng trên địa bàn; khi có chiến tranh thực hiện theo quy chế của Bộ Quốc phòng.
Năm 2018, trước yêu cầu nhiệm vụ quản lý, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia, ngày 28/9/2018, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 33-NQ/TW về "Chiến lược Bảo vệ biên giới quốc gia". Đây là một chiến lược chuyên ngành quan trọng, cụ thể hóa các quan điểm, đường lối quốc phòng, an ninh, thể hiện rõ tư duy, tầm nhìn chiến lược của Đảng về xây dựng, quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong đó, Chiến lược Bảo vệ biên giới quốc gia xác định rõ: “Quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, của cả hệ thống chính trị và cả nước; dựa vào dân, lấy dân làm gốc, nhân dân là chủ thể, “mỗi người dân biên giới là một cột mốc sống”; lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt; BĐBP là lực lượng chuyên trách, lực lượng chiến đấu đầu tiên, bám trụ đến cùng để bảo vệ và giữ vững biên giới quốc gia”. Nghị quyết cũng đặt vấn đề phải ổn định tổ chức biên chế và xác định BÐBP là một quân chủng thuộc Bộ Quốc phòng, BÐBP là lực lượng chuyên trách, cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, trong đó, một số thành phần tiến thẳng lên hiện đại.
Quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng trong Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 8/8/1995 của Bộ Chính trị (khóa VII) về “Xây dựng BĐBP trong tình hình mới”, Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 28/9/2018 về “Chiến lược Bảo vệ biên giới quốc gia”, Bộ Tư lệnh BĐBP tham mưu Bộ Quốc phòng trình Quốc hội và Chính phủ ban hành những văn bản pháp luật hết sức quan trọng về xây dựng BĐBP và nhiệm vụ của BĐBP như: Pháp lệnh BĐBP, Luật Biên giới quốc gia, Luật Biên phòng Việt Nam và các văn bản quy định chi tiết... Như vậy, với sự quan tâm sâu sắc của Đảng, Nhà nước và của toàn dân, BĐBP đã có những cơ sở chính trị, pháp lý cơ bản, quan trọng để tiến hành các hoạt động quản lý, bảo vệ biên giới và thực thi nhiệm vụ, công tác biên phòng trong tình hình mới.
Trong suốt chặng đường 65 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cán bộ, chiến sĩ CANDVT và BĐBP ngày nay luôn nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng và truyền thống quyết chiến, quyết thắng của CAND, QĐND, đoàn kết gắn bó máu thịt với nhân dân; phát huy cao độ năng lực sáng tạo, tự lực tự cường, tinh thông về nghiệp vụ, giỏi về kỹ, chiến thuật, nắm chắc pháp luật, am hiểu phong tục, tập quán của đồng bào, sẵn sàng chiến đấu cao, kịp thời xử lý các tình huống, ứng phó hiệu quả với các thách thức an ninh phi truyền thống, đặc biệt là đại dịch Covid-19 và các đợt thiên tai, bão lũ. Qua đó, nêu cao phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” và truyền thống quý báu của lực lượng hai lần được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.
2. Tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân, kiên quyết bảo vệ vững chắc chủ quyền an ninh biên giới của Tổ quốc
Ngay sau khi được thành lập, CANDVT đã nhanh chóng triển khai lực lượng làm nhiệm vụ trên các tuyến biên giới, bờ biển, giới tuyến quân sự tạm thời. Hội nghị CANDVT lần thứ 2 (tháng 3/1960) xác định rõ phải xây dựng CANDVT thành một lực lượng vũ trang cách mạng vững mạnh về mọi mặt, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chính quy, từng bước hiện đại. Chính vì vậy, trong công tác lãnh đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị và xây dựng lực lượng, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh CANDVT và BĐBP ngày nay luôn quán triệt quan điểm tư tưởng của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, đường lối của Đảng, Nhà nước để xây dựng lực lượng vững mạnh theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại, đảm bảo sự lãnh đạo, chỉ đạo tuyệt đối, trực tiếp, toàn diện của Đảng, Nhà nước, Đảng ủy Công an Trung ương, Bộ Công an, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng; xây dựng nền tảng chính trị, tư tưởng vững chắc, đảm bảo cho BĐBP hoàn thành tốt nhiệm vụ trong mọi hoàn cảnh, mọi tình huống.
Bên cạnh đó, từ thực tiễn công tác, tính chất, đặc điểm, nhiệm vụ của lực lượng nên những đồng chí được biên chế vào CANDVT được chọn lọc kỹ, thật sự tin cậy về chính trị và thông thạo về quân sự, nắm vững đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; tinh thông nghiệp vụ, phát hiện địch và đánh địch, đấu tranh với các loại tội phạm bằng biện pháp công tác nghiệp vụ; biết làm tốt công tác vận động quần chúng và biện pháp quản lý hành chính, đồng thời, được huấn luyện thông thạo kỹ - chiến thuật quân sự, có khả năng chiến đấu vũ trang nhằm bảo vệ an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội trong mọi tình huống.
Chính vì vậy, trong suốt chặng đường 65 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, trên các tuyến biên giới, bờ biển, hải đảo, giới tuyến, nội địa, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ CANDVT và BĐBP ngày nay luôn thể hiện lòng trung thành vô hạn với Đảng, với cách mạng, bảo vệ an toàn tuyệt đối Trung ương Đảng, Chính phủ, Bác Hồ, các cơ quan đầu não của Đảng, Nhà nước ở Trung ương và các tỉnh, thành phố; bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia.
Trong hoàn cảnh vừa chiến đấu, vừa xây dựng lực lượng, cán bộ, chiến sĩ CANDVT đã vượt qua muôn vàn khó khăn, phát huy cao độ truyền thống yêu nước, nêu cao tinh thần chiến đấu dũng cảm, kiên quyết tiêu diệt quân thù; không ngừng nâng cao ý thức cảnh giác cách mạng, chịu đựng gian khổ, hy sinh, bám dân, bám địa bàn, nêu cao tinh thần quyết chiến, quyết thắng, hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ Đảng, bảo vệ nhân dân, bảo vệ thành quả cách mạng XHCN, bảo vệ an ninh Tổ quốc. Dù chiến đấu trong hoàn cảnh nào, CANDVT đều tỏ rõ bản chất của một đội quân cách mạng, đội cận vệ trung thành của Đảng, Nhà nước và nhân dân, khẳng định vị trí của CANDVT trong sự nghiệp bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia.
Cán bộ, chiến sĩ CANDVT đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ giới tuyến quân sự tạm thời, bảo vệ khu phi quân sự, thi hành nghiêm Hiệp định Giơ-ne-vơ, bảo vệ cầu Hiền Lương và cột cờ đầu cầu, hàng trăm lần dũng cảm đập tan âm mưu phá hoại Hiệp định Giơ-ne-vơ của Mỹ - ngụy, tiêu diệt nhiều tên, nhiều tổ chức gián điệp, tình báo, ác ôn của địch ở Nam giới tuyến. Đồng thời, hoàn thành nhiệm vụ chi viện cho lực lượng An ninh vũ trang chiến đấu trên chiến trường miền Nam, bảo vệ các đồng chí lãnh đạo Trung ương Cục và bộ máy lãnh đạo cách mạng miền Nam. Đặc biệt, mặc dù chiến đấu trong hoàn cảnh cực kỳ gian nan, ác liệt, song, cán bộ, chiến sĩ An ninh vũ trang chiến đấu trên chiến trường miền Nam luôn giữ vững tấm lòng sắt son, kiên trung, bất khuất, kiên trì, bền bỉ bám trụ trong lòng địch “một tấc không đi, một ly không rời”, mưu trí, táo bạo, “xuất quỷ nhập thần” giữa sào huyệt địch, làm bè lũ Mỹ - ngụy nhiều phen kinh hồn khiếp đảm, lập nhiều thành tích vẻ vang trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà.
Nhiều đồng chí đã anh dũng hy sinh trong chiến đấu bảo vệ biên giới, đấu tranh chống bọn phản động, tội phạm dù bị địch tra tấn dã man, cực hình vẫn giữ vững khí tiết, tiêu biểu như Anh hùng, liệt sĩ: Phạm Thành Lượng, Lê Hồng Nhị, Trương Thành Chỏi, Trần Thị Tính, Nguyễn Kim Vang, Nguyễn Đình Xướng, Đỗ Nam, Phan Ngọc Nhân, Ngô Tiến Dũng và các anh hùng: Nguyễn Thị Hồng Châu, Kiều Văn Niết, Nguyễn Văn Điện, Phạm Văn Vàng, Hoàng Thức Bảo, Trần Phong, Đỗ Văn Quả, Hồ Văn Lý, Cao Văn Trung, Lý Hữu Trí, Trần Văn Sỹ... Trên lĩnh vực xây dựng phòng tuyến nhân dân bảo vệ biên giới có Anh hùng, liệt sĩ Trần Văn Thọ đã nêu cao tấm gương “Trung với Đảng, tận tụy với dân”, hết lòng vì hạnh phúc của nhân dân. Anh đã sống mãi với đồng bào các dân tộc biên giới nói chung và đồng bào dân tộc Hà Nhì, tỉnh Điện Biên nói riêng...
Năm 1979, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 22/NQ-TW ngày 10/10/1979 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IV) về việc chuyển giao nhiệm vụ và lực lượng CANDVT từ Bộ Nội vụ sang Bộ Quốc phòng, chuyển thành BĐBP. Đến năm 1987, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VI) tiếp tục ra Nghị quyết số 07/NQ-TW ngày 30/11/1987 đã chỉ rõ: “Chuyển giao lực lượng BĐBP cho Bộ Nội vụ trực tiếp phụ trách” (tức Bộ Công an hiện nay). Và đến năm 1995, Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 8/8/1995 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VII) về “Xây dựng BĐBP trong tình hình mới” đã quyết định chuyển BĐBP từ Bộ Nội vụ sang Bộ Quốc phòng. Trong bối cảnh tình hình đất nước đứng trước nhiều khó khăn, thử thách, lực lượng lại có sự chuyển đổi về tổ chức, phương thức lãnh đạo, tên gọi, song, tiếp nối truyền thống của lực lượng CANDVT anh hùng, cán bộ, chiến sĩ BĐBP luôn thể hiện lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, nêu cao tinh thần trách nhiệm, lập nhiều chiến công trong sự nghiệp bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia. Nhiều tấm gương anh hùng, liệt sĩ đã hy sinh trong đấu tranh phòng chống, tội phạm, cứu dân như các Anh hùng, liệt sĩ: Nguyễn Cảnh Dần, Và Bá Giải, Phạm Xuân Phong (BĐBP Nghệ An), Phạm Văn Điền, Lê Đình Tư (BĐBP Thừa Thiên Huế), Lù Công Thắng (BĐBP Sơn La)...
Đặc biệt, khi xuất hiện đại dịch Covid-19, cán bộ, chiến sĩ BĐBP đã thể hiện rõ lòng trung thành, ý chí, quyết tâm, trách nhiệm với Tổ quốc, với nhân dân, không quản ngại khó khăn, gian khổ, “ăn lán, ngủ rừng”, ngày đêm bám trụ tại chốt phòng, chống dịch để bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới quốc gia, ngăn chặn sự xâm nhập của dịch bệnh, để góp phần cùng Đảng, Nhà nước, các cấp chính quyền, nhân dân cả nước sớm kiểm soát và đẩy lùi được dịch bệnh. Đảng ủy, Bộ Tư lệnh BĐBP đã phối hợp triển khai hơn 1.900 tổ, chốt phòng chống dịch với gần 15.000 người tham gia, trong đó có trên 9.000 cán bộ, chiến sĩ BĐBP. Đã có nhiều hy sinh, mất mát của cán bộ, chiến sĩ BĐBP trong quá trình thực hiện nhiệm vụ phòng, chống dịch Covid-19. Ghi nhận chiến công và thành tích của cán bộ, chiến sĩ BĐBP tham gia phòng, chống dịch, ngày 15/12/2021, Chủ tịch nước đã ký quyết định tặng thưởng Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Ba cho Cơ quan Thường trực Bộ Tư lệnh BĐBP phía Nam; Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen cho 5 tập thể, 5 cá nhân; hàng trăm tập thể, cá nhân được Bộ Quốc phòng và các Bộ, ban, ngành Trung ương, địa phương khen thưởng, biểu dương; Bộ Tư lệnh BĐBP tặng Bằng khen cho 771 tập thể, cá nhân.
Trong chặng đường 65 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, cán bộ, chiến sĩ CANDVT và BĐBP ngày nay luôn đồng cam cộng khổ, chia ngọt sẻ bùi, “ba bám”, “bốn cùng” với đồng bào các dân tộc trên biên giới, coi “đồn là nhà, biên giới là quê hương, đồng bào các dân tộc là anh em ruột thịt”, tình nguyện gắn bó cả cuộc đời với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ biên cương Tổ quốc, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân.
Trong giai đoạn cách mạng mới, tình hình, nhiệm vụ công tác biên phòng ngày càng phức tạp và toàn diện. Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đang đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình”, xuyên tạc đường lối, chủ trương, phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, âm mưu “phi chính trị hóa quân đội”, làm cho cán bộ, chiến sĩ quân đội nói chung, BĐBP nói riêng dao động về tư tưởng, mất phương hướng chính trị, giảm sút lòng tin vào Đảng, vào chế độ XHCN, từ bỏ lòng trung thành với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân. Trước tình hình trên, cán bộ, chiến sĩ BĐBP luôn nhận rõ trách nhiệm chính trị của mình, thường xuyên nêu cao bản chất cách mạng, vững vàng về chính trị, tư tưởng, tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, cùng với toàn quân, toàn dân vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia, góp phần đánh bại mọi âm mưu “diễn biến hòa bình” bạo loạn lật đổ của địch, xứng đáng là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước, Quân đội và nhân dân.
3. Mưu trí, dũng cảm, kiên quyết tấn công tội phạm, bảo vệ toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia
Mưu trí, linh hoạt trong chiếu đấu bảo vệ giới tuyến quân sự tạm thời, bảo vệ an toàn cơ quan đầu não của Đảng, Nhà nước và hoạt động chống gián điệp, biệt kích
Ngay từ khi mới ra đời, trong bối cảnh hòa bình vừa được lập lại trên miền Bắc, nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biên giới, vùng biển và giới tuyến quân sự tạm thời của CANDVT rất nặng nề và phức tạp. Tuy nhiên, lớp lớp cán bộ, chiến sĩ CANDVT đã lên đường đi biên giới, ra hải đảo, vừa bảo vệ phên dậu của Tổ quốc, vừa tham gia cùng cấp ủy, chính quyền địa phương xây dựng cơ sở chính trị, giúp đỡ đồng bào ổn định sản xuất, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; phối hợp với các lực lượng vũ trang kịp thời ngăn chặn và dập tắt âm mưu, thủ đoạn hoạt động gây phỉ và bạo loạn vũ trang của bọn phản động ở khu vực biên giới phía Bắc.
Một trong những trọng tâm của nhiệm vụ bảo vệ an ninh miền Bắc giai đoạn 1959-1965 là tiêu diệt phỉ, trấn áp phản cách mạng và đánh bắt gián điệp, biệt kích; trong đó, tiễu phỉ, dẹp bạo loạn được xác định là nhiệm vụ cấp bách. Trong giai đoạn này, các đơn vị CANDVT đã phối hợp với các lực lượng tiêu diệt hàng chục toán gián điệp, biệt kích, thám báo, bắt sống và tiêu diệt hàng trăm tên; phát hiện và xử lý hàng trăm đối tượng hoạt động thu thập tình báo, móc nối cơ sở, phát hiện hàng chục tổ chức phản động; tiến hành sưu tra, xác minh hàng chục nghìn đối tượng, hàng nghìn vụ việc nghi vấn; tập trung cải tạo hàng nghìn đối tượng và di chuyển hàng nghìn đối tượng ra khỏi khu vực biên giới để làm trong sạch địa bàn...
Đặc biệt, thực hiện lời kêu gọi kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các đơn vị CANDVT mặc dù hạn chế về quân số, vũ khí, trang bị, thường xuyên bám trụ ở những điểm đánh phá ác liệt nhất của đế quốc Mỹ..., nhưng do làm tốt công tác tổ chức, công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, nên mọi cán bộ, chiến sĩ luôn kiên cường chiến đấu dũng cảm, mưu trí, sáng tạo trong chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ra miền Bắc, chiến đấu bảo vệ biên giới, giới tuyến quân sự tạm thời, các mục tiêu quan trọng ở nội địa và chi viện cho lực lượng An ninh vũ trang miền Nam. Nhiều đồng chí đã không quản ngại hy sinh, gian khổ, vượt qua bom đạn cứu dân, cứu tài sản Nhà nước; tháo gỡ bom mìn, thủy lôi của địch, giữ vững an ninh trật tự khu vực biên giới và các mục tiêu nội địa, góp phần bảo vệ an toàn tuyến hành lang vận chuyển chi viện cho chiến trường miền Nam (đường Hồ Chí Minh trên bộ, trên biển). Từ năm 1965 đến 1975, toàn lực lượng trực tiếp bắn rơi 219 máy bay Mỹ, phối hợp với các đơn vị bạn bắn rơi 225 chiếc, bắn bị thương 128 chiếc, bắt sống nhiều giặc lái Mỹ và chi viện trên 5.000 cán bộ, chiến sĩ cho An ninh vũ trang miền Nam.
Trong công tác quản lý, bảo vệ biên giới, với quan điểm “không để mất một tấc đất của Tổ quốc, không để lọt một phần tử nguy hiểm”, trong 10 năm từ 1965 - 1975, các đơn vị CANDVT đã phối hợp với các ngành, các lực lượng kiểm soát, làm thủ tục xuất nhập cảnh cho hàng chục nghìn lượt tàu thuyền, với hàng vạn lượt thuyền viên, thủy thủ; hơn 3 triệu lượt người, gần 2 triệu lượt phương tiện; gần 8 triệu tấn hàng hóa ra vào biên giới, giới tuyến, cảng biển; đăng ký quản lý trên 5.000 tàu thuyền đánh cá với hàng vạn thủy thủ, thuyền viên; bắt hơn 600 vụ buôn lậu, nộp về cho Nhà nước hàng trăm triệu đồng... Đi đôi với nhiệm vụ bảo vệ biên giới, CANDVT đã cùng với địa phương tiến hành điều tra cơ bản 442/444 xã biên giới trên miền Bắc, xây dựng được mạng lưới nắm tình hình rộng khắp, phát hiện và ngăn chặn kịp thời các hoạt động phá hoại của địch.
Trong đấu tranh bảo vệ giới tuyến quân sự tạm thời, các đơn vị CANDVT đã kiên trì bám dân, bám đất, vừa chiến đấu bảo vệ bờ Bắc, bảo vệ cột cờ giới tuyến Hiền Lương, tấn công chính trị trong hàng ngũ địch, xây dựng địa đạo Vịnh Mốc cho cán bộ và nhân dân bám trụ chiến đấu, vừa đấu tranh thực hiện Hiệp nghị Giơ-ne-vơ. Đồng thời xây dựng mạng lưới điệp báo ở Nam giới tuyến tạo thế liên hoàn với mạng lưới phản gián bờ Bắc; thành lập các đội trinh sát chính trị, phân đội trinh sát đặc công, phân đội trinh sát vũ trang đưa vào phía Nam giới tuyến hoạt động diệt ác phá kìm, phá ấp chiến lược, phục vụ bảo vệ giới tuyến.
Cùng với nhiệm vụ bảo vệ biên giới, giới tuyến quân sự tạm thời, chiến đấu bắn máy bay Mỹ, tiêu diệt các toán gián điệp biệt kích, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh đã tập trung lãnh đạo, tổ chức vũ trang bảo vệ an toàn các lãnh tụ, cơ quan đầu não của Đảng và Nhà nước và các mục tiêu trọng yếu ở nội địa trong bối cảnh phần lớn cơ quan trọng yếu phải sơ tán nên số lượng mục tiêu phải bảo vệ tăng gấp nhiều lần. Vượt qua mọi khó khăn, các đơn vị CANDVT đã bảo vệ tuyệt đối an toàn các đồng chí lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, các cơ quan đầu não, các đại sứ quán, nhiều đoàn khách quốc tế, các mục tiêu kinh tế, văn hóa quan trọng.
Trên chiến trường miền Nam, mặc dù chiến đấu trong hoàn cảnh cực kỳ gian nan ác liệt, lực lượng An ninh vũ trang vừa tham gia vận động, tổ chức quần chúng đấu tranh với kẻ thù, vừa tiến hành công tác binh địch vận, phá vỡ nhiều tổ chức tình báo, mật vụ cài cắm ở thôn ấp, hỗ trợ đắc lực cho các cuộc nổi dậy của quần chúng phá ách kìm kẹp, mở rộng vùng giải phóng. Lực lượng An ninh vũ trang làm nhiệm vụ cảnh vệ, cận vệ đã phối hợp cùng các lực lượng khác kịp thời đánh trả, ngăn chặn nhiều đợt hành quân truy quét của địch vào khu căn cứ, bảo vệ an toàn tuyệt đối cho các đồng chí lãnh đạo Trung ương Cục và các cơ quan đầu não của cách mạng miền Nam. Từ năm 1964 - 1975, với sự chi viện của CANDVT miền Bắc, lực lượng An ninh vũ trang ngày càng lớn mạnh lập được nhiều thành tích trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, góp phần tích cực vào cuộc Tổng tấn công và nổi dậy của quân và dân ta giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.
4. Chủ động nắm chắc tình hình từ sớm, từ xa, vận dụng linh hoạt các hình thức đấu tranh, giữ đúng nguyên tắc để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ
Sau năm 1975, đất nước thống nhất, giang sơn liền một dải, lực lượng CANDVT nhanh chóng, khẩn trương triển khai hệ thống các đồn trạm ra cả nước để bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia của Tổ quốc Việt Nam thống nhất. Dưới sự chỉ đạo của Bộ Tư lệnh CANDVT, các đơn vị đã nhanh chóng ổn định tổ chức nhằm tăng cường sức mạnh bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, trong đó chú trọng bảo vệ biên giới và bờ biển phía Nam, vận động nhân dân xây dựng phòng tuyến bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới; bảo vệ tuyệt đối an toàn lãnh tụ, các cơ quan đầu não của Đảng và Nhà nước, sẵn sàng làm nhiệm vụ quốc tế với cách mạng Lào và Campuchia.
Thời gian này, vừa tổ chức triển khai lực lượng trên cả nước, CANDVT vừa tham gia chiến đấu trong hai cuộc chiến tranh ở biên giới phía Tây Nam và biên giới phía Bắc. Trong hai cuộc chiến tranh đầy ác liệt này, cán bộ, chiến sĩ CANDVT đã nêu cao ý chí kiên cường, dũng cảm, mưu trí tiến công tiêu diệt và ngăn chặn quân xâm lược để bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, phối hợp tác chiến với các lực lượng vũ trang khác, phản công tiêu diệt quân xâm lược, giữ vững chủ quyền, an ninh biên giới thiêng liêng của Tổ quốc. Trong chiến đấu, CANDVT tuyến Tây Nam đã đánh hàng nghìn trận, diệt hàng nghìn tên địch, thu hàng ngàn súng các loại. Còn trong cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc, CANDVT đã dũng cảm chiến đấu tiêu diệt hàng nghìn tên địch, bắn cháy hàng chục xe tăng, xe kéo pháo...
Để động viên và ghi nhận những thành tích lực lượng CANDVT đã đạt được trong hơn 20 năm qua, ngày 20 tháng 12 năm 1979, Chủ tịch nước ký Lệnh số 188/CT tuyên dương danh hiệu "Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân" cho 25 tập thể và 18 cá nhân.
Đồng thời, thực hiện phương châm “đánh địch từ xa để bảo vệ biên giới”, với quan điểm “giúp bạn là tự mình giúp mình”, CANDVT đã giúp bạn Lào xây dựng và củng cố cơ sở chính trị, xây dựng lực lượng vũ trang, bảo vệ trị an, phát triển sản xuất, ổn định đời sống nhân dân. Bằng biện pháp nghiệp vụ, CANDVT phối hợp cùng bạn phát hiện đấu tranh chống phỉ và bọn phản động, góp phần giành lại độc lập, chủ quyền, củng cố hòa bình. Đặc biệt, thực hiện nghĩa vụ quốc tế cao cả đối với nhân dân Campuchia anh em, BĐBP triển khai 9 trung đoàn (e2, e4, e6, e8, e10, e11, e14, e20, e180) phối hợp với các đơn vị Quân đội và Công an, kề vai sát cánh cùng lực lượng vũ trang và nhân dân Campuchia đấu tranh chống Khơme đỏ, đánh đổ chế độ diệt chủng ở Campuchia, giúp bạn bảo vệ chủ quyền biên giới trên các tuyến. Những tấm lòng đoàn kết, thủy chung, tình hữu nghị vô tư, trong sáng của người chiến sĩ biên phòng Việt Nam đã để lại những tình cảm tốt đẹp trong lòng nhân dân nước bạn Lào và Campuchia, góp phần tăng cường tình đoàn kết, hòa bình, hữu nghị với các nước láng giềng.
Có thể khẳng định, trong bất cứ hoàn cảnh nào, cán bộ, chiến sĩ CANDVT và BĐBP ngày nay luôn phát huy bản chất cách mạng, nêu cao truyền thống mưu trí, dũng cảm trong chiến đấu, bền bỉ, sắc bén trong đấu tranh, linh hoạt, sáng tạo trong công tác, gắn bó máu thịt với nhân dân, sẵn sàng hy sinh để bảo vệ tài sản, tính mạng của nhân dân. Đồng thời, giữ gìn và phát huy tốt phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống của người quân nhân cách mạng, phẩm chất cao quý của “Bộ đội Cụ Hồ”, góp phần quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia, xứng đáng với truyền thống đơn vị 2 lần được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
5. Đoàn kết thống nhất, giữ nghiêm kỷ luật, xây dựng BĐBP vững mạnh
Chấp hành Nghị quyết số 58/NQ-TW, ngày 19/11/1958 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Nghị định số 100/TTg, ngày 3/3/1959 của Thủ tướng Chính phủ, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Đảng ủy Công an Trung ương, Bộ Công an, CANDVT đã nhanh chóng triển khai lực lượng trên toàn miền Bắc theo hệ thống dọc từ Ban Chỉ huy Trung ương CANDVT xuống các Ban Chỉ huy hai khu Việt Bắc, Tây Bắc và các tỉnh với hệ thống đồn, trạm ra sát biên giới; tổ chức lực lượng bảo vệ an ninh các mục tiêu nội địa và giới tuyến quân sự tạm thời.
Lực lượng mới ra đời, công việc bộn bề, tổ chức chưa được kiện toàn, song Ban Chỉ huy Trung ương CANDVT (tháng 7/1961 đổi tên thành Bộ Tư lệnh CANDVT) đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo làm tốt công tác xây dựng đảng, coi đó là khâu then chốt trong công tác xây dựng lực lượng; tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng nhằm thống nhất ý chí, nâng cao bản lĩnh chính trị, năng lực nghiệp vụ, xây dựng tinh thần đoàn kết, thống nhất, ý chí quyết tâm vượt qua khó khăn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao cho cán bộ, chiến sĩ toàn lực lượng.
Sau 6 năm thành lập, năm 1965, trước hành động leo thang chiến tranh ra miền Bắc của đế quốc Mỹ và tay sai, việc bảo vệ an ninh miền Bắc trở nên cấp bách, đòi hỏi phải điều chỉnh nhiệm vụ của CANDVT cho phù hợp và ngày 28/4/1965, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ra Nghị quyết số 116/NQ-TW về phân công nhiệm vụ giữa QĐND và CAND trong bảo vệ trị an miền Bắc và điều chỉnh tổ chức lực lượng CANDVT. Nghị quyết xác định rõ “CANDVT là một thành phần trong lực lượng CAND có nhiệm vụ: Bảo vệ trị an biên giới, giới tuyến, bờ biển chủ yếu bằng biện pháp chính trị và nghiệp vụ công an; vũ trang trực tiếp bảo vệ lãnh tụ, cơ quan đầu não của Đảng, Nhà nước, các cơ quan ngoại giao, các vị khách nước ngoài của Đảng và Nhà nước, các cơ sở kinh tế, văn hóa, khoa học-kỹ thuật trọng yếu; vũ trang canh giữ trại giam”.
Đến cuối năm 1965, các tỉnh, thành phố biên giới và nội địa miền Bắc đã cơ bản triển khai xong việc bố trí lực lượng theo Nghị quyết số 116; đồng thời tiếp tục tăng cường lực lượng chi viện cho An ninh vũ trang miền Nam. Trong giai đoạn (1965-1975), công tác xây dựng, củng cố, kiện toàn và nâng cao sức chiến đấu của các tổ chức đảng và xây dựng đội ngũ cán bộ được Đảng ủy, Bộ Tư lệnh CANDVT đặc biệt coi trọng; công tác đảm bảo chỉ huy chiến đấu và bảo vệ cũng có nhiều đổi mới, sáng tạo phù hợp với yêu cầu thời chiến. Từ một lực lượng chuyên trách bảo vệ biên giới và các mục tiêu trọng yếu ở nội địa, CANDVT đã trở thành một đội quân công tác, đội quân chiến đấu bằng biện pháp chính trị, nghiệp vụ, vũ trang, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
Đất nước thống nhất, CANDVT đã khẩn trương kiện toàn cơ quan Bộ Tư lệnh để chỉ huy, chỉ đạo cả 2 miền; củng cố các đơn vị phía Bắc, tập trung chỉ đạo xây dựng các đơn vị miền Nam đi vào nền nếp, trong đó chú trọng vào các đơn vị làm nhiệm vụ ở hải đảo, ở những khu vực biên giới phức tạp và chuẩn bị cho 2 cuộc chiến đấu chống chiến tranh xâm lược ở biên giới phía Tây Nam và phía Bắc.
Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chiến đấu, bảo vệ biên giới quốc gia ở biên giới phía Tây Nam và phía Bắc, trước yêu cầu cấp thiết đặt ra trong giai đoạn cách mạng mới, để thống nhất lãnh đạo và chỉ huy các lực lượng vũ trang, tăng cường sức mạnh chiến đấu, đồng thời, phát huy sở trường của các lực lượng nhằm góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN, ngày 10/10/1979, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết số 22/NQ-TW về chuyển giao nhiệm vụ và tổ chức biên chế CANDVT từ Bộ Nội vụ sang Bộ Quốc phòng, đổi tên thành BĐBP. Nghị quyết ghi rõ: “Chuyển giao sang Bộ Quốc phòng và chuyển thành BĐBP toàn bộ lực lượng và tổ chức CANDVT hiện nay thuộc Bộ Nội vụ, bao gồm các đơn vị chiến đấu ở biên giới, bờ biển, hải đảo và trên chiến trường Campuchia, các cơ quan, nhà trường, các cơ sở vật chất kỹ thuật của lực lượng CANDVT".
Chuyển sang tổ chức mới, theo cơ chế lãnh đạo mới, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh BĐBP đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo toàn lực lượng làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng, quán triệt đường lối, nhiệm vụ chính trị, quân sự của Đảng, của Quân đội và BĐBP để đưa cơ quan, đơn vị vào khuôn khổ chung trong tổ chức quân đội, khẳng định vị trí của BĐBP trong sự nghiệp bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia. Trong công tác xây dựng đơn vị, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh BĐBP đã tập trung lãnh đạo các đơn vị thực hiện tốt 5 mục tiêu của cuộc vận động “Phát huy bản chất tốt đẹp, nâng cao sức mạnh chiến đấu” để đưa cơ quan, đơn vị vào khuôn khổ chung trong tổ chức của quân đội; thực hiện nghiêm túc chỉ thị của Quân ủy Trung ương về “Xây dựng quân đội chính quy, thống nhất và từng bước hiện đại”. Vì vậy, trước những khó khăn, thử thách của tình hình đất nước, sự chuyển đổi tổ chức và phương thức lãnh đạo mới đối với lực lượng, song, cán bộ, chiến sĩ BĐBP đều tuyệt đối trung thành với Đảng, nêu cao tinh thần trách nhiệm, hoàn thành nhiều mặt công tác có chất lượng cao, khẳng định vai trò, vị trí của BĐBP trong sự nghiệp bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia.
Sau gần 7 năm thực hiện Nghị quyết số 22/NQ-TW, trước yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững an ninh quốc gia nói chung và an ninh chính trị, trật tự xã hội khu vực biên giới nói riêng, ngày 30/1/1987, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Nghị quyết số 07/NQ-TW "về nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự an toàn xã hội trong tình hình mới", quyết định chuyển giao lực lượng BĐBP cho Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) trực tiếp phụ trách.
Trong giai đoạn này, BĐBP đã có những bước chuyển biến vững chắc về chính trị, tư tưởng, tổ chức và thực hiện nhiệm vụ. Cùng với công tác ổn định tổ chức, biên chế, các đơn vị đã chủ động, tích cực xây dựng lực lượng vững mạnh, chính quy, bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia trong tình hình mới, phục vụ công cuộc đổi mới của Đảng. Bên cạnh nhiệm vụ thường xuyên, Bộ Tư lệnh BĐBP đã chỉ đạo các đơn vị tích cực, chủ động tham mưu, phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương, xây dựng hệ thống chính trị cơ sở, phát triển kinh tế, xã hội, xây dựng biên giới vững mạnh toàn diện, góp phần xây dựng nền biên phòng toàn dân vững mạnh, tạo nền tảng vững chắc cho công cuộc bảo vệ biên giới quốc gia...
Năm 1995, để BĐBP thực hiện tốt vai trò nòng cốt, chuyên trách, huy động và phối hợp với các lực lượng vũ trang, các ngành, các đoàn thể, nhân dân và toàn xã hội trong nhiệm vụ quản lý, bảo vệ biên giới, đáp ứng yêu cầu mở cửa, hội nhập quốc tế, ngày 8/8/1995, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Nghị quyết số 11/NQ-TW về “Xây dựng BĐBP trong tình hình mới” đã quyết định chuyển BĐBP từ Bộ Nội vụ sang Bộ Quốc phòng. Thực hiện Nghị quyết số 11 của Bộ Chính trị (8/8/1995) và Quyết định số 754 của Chính phủ (16/11/1995) về xây dựng BĐBP trong tình hình mới, từ năm 1995 đến nay, BĐBP đã triển khai thực hiện hệ thống tổ chức 3 cấp từ Bộ Tư lệnh BĐBP đến Bộ Chỉ huy BĐBP các tỉnh, thành phố và các đồn Biên phòng.
Đảng ủy, Bộ Tư lệnh BĐBP cũng tham mưu cho Đảng và Nhà nước ban hành các văn bản pháp luật quan trọng như: Luật Biên giới quốc gia; Pháp lệnh BĐBP; Nghị định số 02/1998/NĐ-CP; Nghị định số 34/2000/NĐ/-CP, Nghị định số 161/2003/NĐ-CP nhằm thể chế hóa Nghị quyết số 11 của Bộ Chính trị về tăng cường quản lý Nhà nước đối với biên giới quốc gia, mới đây nhất là Luật Biên phòng Việt Nam, tạo hành lang pháp lý cho BĐBP thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý, bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới và xây dựng lực lượng trong tình hình mới.
Dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh BĐBP đã chủ động tham mưu cho Đảng, Nhà nước, Bộ Quốc phòng nhiều chủ trương, chính sách trong xây dựng và bảo vệ biên giới. Đồng thời, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh BĐBP đã lãnh đạo, chỉ đạo các đơn vị trong toàn lực lượng phát huy truyền thống anh hùng, khắc phục khó khăn, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; tích cực nghiên cứu, đổi mới toàn diện các biện pháp công tác Biên phòng, vận dụng linh hoạt các hình thức đấu tranh, xử lý đúng đắn, kịp thời các hoạt động vi phạm chủ quyền biên giới, vùng biển, đấu tranh hiệu quả với các loại tội phạm, góp phần giữ vững an ninh chính trị trên các tuyến biên giới, giữ bình yên cuộc sống cho đồng bào các dân tộc.
Tuy nhiên, sau 30 năm đổi mới, trước những đòi hỏi và yêu cầu ngày càng cao của nhiệm vụ quản lý, bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia trong tình hình mới, BĐBP phải có chiến lược quy hoạch, xây dựng lực lượng vững mạnh về mọi mặt theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đó, thực hiện Nghị quyết 33-NQ/TW, ngày 28/9/2018 của Bộ Chính trị về Chiến lược Bảo vệ biên giới quốc gia, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh BĐBP chủ động đề xuất Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng tham mưu với Đảng, Nhà nước có chủ trương, chính sách kịp thời, phù hợp nhằm củng cố, kiện toàn tổ chức, biên chế lực lượng BĐBP theo hướng tinh, gọn, mạnh, hiệu lực, hiệu quả.
Theo đó, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh BĐBP đã lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan chức năng của BĐBP tham mưu với Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng xây dựng Đề án tổ chức lực lượng và Đề án quy hoạch hệ thống đồn trạm với mục tiêu xây dựng quy hoạch tổ chức BĐBP toàn diện, lâu dài, ổn định, chuyên sâu nhằm nâng cao sức mạnh chiến đấu, trình độ chuyên môn nghiệp vụ và khả năng thực hiện nhiệm vụ công tác biên phòng và tham gia có hiệu quả trong việc xây dựng, củng cố hệ thống chính trị ở cơ sở, phát triển kinh tế-xã hội, phòng chống thiên tai, cứu hộ, cứu nạn ở khu vực biên giới, biển đảo và giữ biên giới hòa bình, ổn định lâu dài với các nước láng giềng. Vì vậy, ngày 11/12/2017, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã ký Quyết định số 5592/QĐ-BQP phê duyệt Đề án quy hoạch đồn trạm Biên phòng đến năm 2021 và những năm tiếp theo; ngày 1/10/2018 ký Quyết định số 4159/QĐ-BQP phê duyệt Đề án tổ chức lực lượng BĐBP giai đoạn 2017-2021 và những năm tiếp theo.
Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng ủy BĐBP; sự chỉ huy, điều hành chặt chẽ của Bộ Tư lệnh BĐBP, các cơ quan, đơn vị trong toàn lực lượng đã tiến hành rà soát, sắp xếp, kiện toàn lại tổ chức theo hướng tập trung giảm các đầu mối trung gian, các đơn vị phục vụ; bố trí sử dụng cán bộ, nhân viên các đơn vị nằm trong diện giải thể, sáp nhập... phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ. Việc tổ chức, sắp xếp nói trên đã giúp BĐBP tinh giản 122 đầu mối tổ chức, giảm gần 2.000 biên chế ở các cơ quan, đơn vị, thành lập mới 18 đơn vị... Đồng thời, sáp nhập 49 đầu mối; tiến hành giải thể 9 tổ chức không còn phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ của BĐBP trong giai đoạn hiện nay; đổi tên và di chuyển vị trí đóng quân 36 đồn Biên phòng. Cùng với tổ chức lại, thành lập mới và sáp nhập, BĐBP đã tập trung đầu tư xây dựng các lực lượng đã được xác định tiến thẳng lên hiện đại theo tinh thần Nghị quyết số 33 của Bộ Chính trị gồm: Trinh sát kỹ thuật; Đặc nhiệm phòng, chống ma túy và tội phạm; Kiểm soát cửa khẩu...
Sau khi tổ chức biên chế toàn lực lượng được kiện toàn, quán triệt các nghị quyết, chỉ thị của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện “Mẫu mực, tiêu biểu”, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh BĐBP đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo cấp ủy, chỉ huy các cấp trong BĐBP xây dựng, hoàn thiện hệ thống các văn bản, hướng dẫn, chỉ đạo, đề ra các quy định, tiêu chí, tiêu chuẩn cụ thể về xây dựng chính quy, quản lý kỷ luật phù hợp với phù hợp với tổ chức biên chế và thực tiễn công tác chiến đấu của BĐBP. Đồng thời, chỉ đạo các đơn vị tổ chức các đợt sinh hoạt, học tập, quán triệt sâu sắc các nghị quyết, chỉ thị, quy định của cấp trên, chú trọng tăng cường giáo dục, kỷ luật, pháp luật và điều lệnh cho bộ đội, đề cao trách nhiệm của cấp ủy, chỉ huy các cấp đối với công tác giáo dục, quản lý, duy trì kỷ luật; kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục với quản lý bộ đội, duy trì chế độ, nền nếp công tác và đẩy mạnh cuộc vận động học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới...
Qua đó, năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các cấp ủy, tổ chức đảng được nâng lên, trận địa tư tưởng luôn được giữ vững, công tác bảo vệ chính trị nội bộ được tăng cường, gắn xây dựng đơn vị an toàn với xây dựng địa bàn an toàn; chất lượng huấn luyện, đào tạo và xây dựng chính quy chuyển biến tích cực; các chế độ, nền nếp học tập, công tác, sẵn sàng chiến đấu của cơ quan, đơn vị được duy trì thực hiện nghiêm túc; ý thức kỷ luật, pháp luật của cán bộ, chiến sĩ được nâng lên; phương pháp, tác phong công tác ngày càng chính quy, khoa học, đúng điều lệnh. Hệ thống doanh trại, cảnh quan môi trường cơ quan, đơn vị khang trang, xanh-sạch-đẹp, gọn gàng, ngăn nắp; đời sống vật chất, tinh thần không ngừng được cải thiện...
Chính vì vậy, trước sự tác động tiêu cực của mặt trái cơ chế kinh tế thị trường, bọn tội phạm luôn tìm cách lôi kéo, nhưng do được giáo dục thường xuyên và thử thách qua thực tế công tác trên các tuyến biên giới nên cán bộ, chiến sĩ BĐBP luôn kiên định vững vàng, vượt qua mọi thử thách, đoàn kết thống nhất, giữ nghiêm kỷ luật, khắc phục khó khăn gian khổ, giữ vững phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, người lính quân hàm xanh.
Ðể thực hiện ngày càng tốt hơn nhiệm vụ mà Ðảng, Nhà nước, Quân đội và nhân dân giao phó, giữ vững truyền thống “Đoàn kết thống nhất, giữ nghiêm kỷ luật, xây dựng BĐBP vững mạnh” trong thời gian tới, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh BĐBP tiếp tục quán triệt triển khai thực hiện đồng bộ, quyết liệt, hiệu quả nhiệm vụ quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia theo các chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng. Đồng thời, tập trung nâng cao chất lượng huấn luyện đào tạo, nghiên cứu ứng dụng thành tựu của cách mạng công nghiệp lần thứ tư trong công tác quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia. Đổi mới mạnh mẽ tác phong, phương pháp công tác theo hướng chính quy, khoa học, hiệu lực, hiệu quả; đẩy mạnh cải cách hành chính, nhất là trong công tác kiểm soát xuất nhập cảnh; làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm, tạo sự đồng thuận, thống nhất cao về tư tưởng, hành động của cán bộ, chiến sĩ toàn lực lượng.
Qua đó, xây dựng BĐBP vững mạnh về chính trị, tư tưởng, giỏi về quân sự, am hiểu về pháp luật, tinh thông về nghiệp vụ, thành thạo ngoại ngữ. Đồng thời, tiếp tục tham gia xây dựng, củng cố hệ thống chính trị cơ sở, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội khu vực biên giới gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh, góp phần xây dựng nền biên phòng toàn dân và thế trận biên phòng toàn dân vững mạnh trong nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc ở khu vực biên giới. Trong đó, nhân dân là chủ thể, lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt, BĐBP là lực lượng chuyên trách, cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số thành phần tiến thẳng hiện đại, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia trong tình hình mới.
Hương Mai