Ngày 06/08/2021314
1. Đặc điểm địa lý và điều kiện tự nhiên Đường biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Căm-pu-chia khởi đầu từ ngã ba biên giới Việt Nam - Lào - Căm-pu-chia (thuộc tỉnh Kon Tum) kéo dài đến sát mép biển Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang, đi qua 10 tỉnh biên giới miền Tây Nam của Việt Nam (KonTum, Gia Lai, Đắc Lắc, Đắc Nông, Bình Phước, Tây Ninh, Long An, Đồng Tháp, An Giang và Kiên Giang), tiếp giáp với 9 tỉnh biên giới của Căm-pu-chia (Ratarakiri, Mônđunkiri, CôngpôngChàm, Carachê, Sveyriêng, Prâyveng, Kầnđan, Tàkeo và Kămpốt) với chiều dài khoảng 1.137km.
Điều kiện khí hậu tại khu vực này chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới, gió mùa, độ ẩm cao, thuận lợi cho trồng cây công, nông nghiệp, nuôi thủy hải sản, giúp hình thành nên những doanh trại trồng cây công nghiệp lớn hay những cánh đồng lúa trải dài. Thông thường, mùa mưa từ tháng 4, tháng 5 đến tháng 9, tháng 10 dương lịch, chiếm tới 90% lượng mưa cả năm. Mùa khô từ tháng 9, tháng 10 đến tháng 4, tháng 5 năm sau. Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 26 - 27ºC.
Khác với hai tuyến biên giới Việt Nam - Lào và Việt Nam - Trung Quốc, đường biên giới này có địa hình tương đối bằng phẳng, ít đồi núi hiểm trở. Chính vì vậy, hệ thống giao thông liên kết giữa hai nước bằng đường bộ, đường sông phát triển thuận lợi, hình thành các tuyến đường bộ như đường liên quốc gia, quốc lộ, tỉnh lộ, đường sông và nhiều đường mòn, đặc biệt sau này sẽ hình thành tuyến đường sắt, đường bộ xuyên Á nối kết với các trung tâm thương mại lớn của khu vực góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy giao lưu, hiểu biết lẫn nhau cũng như mang lại nhiều lợi ích thiết thực về kinh tế và thương mại cho cư dân hai bên biên giới. Bên cạnh hệ thống giao thông được cải thiện, hệ thống cửa khẩu biên giới đã và đang được Chính phủ hai nước quan tâm đầu tư. Tính đến tháng 3 năm 2011, hai nước Việt Nam - Căm-pu-chia đã thỏa thuận mở 10 cửa khẩu quốc tế và 12 cửa khẩu chính, trong đó có 19 cửa khẩu đường bộ và 03 cửa khẩu đường sông là Thường Phước (Đồng Tháp) - Côkrôca (Prâyveng); Sông Tiền (An Giang) - Caomsamno (Kầnđan); Vĩnh Hội Đông (An Giang) - Kompung Kroxăng (Tàkeo). Hệ thống cửa khẩu này đã giúp cho việc trao đổi hàng hóa giữa hai nước, sự giao lưu của dân cư hai bên nhanh chóng và thuận tiện.
|
TT |
Tên các cặp cửa khẩu biên giới Việt Nam - Căm-pu-chia |
||
|
Việt Nam |
Căm-pu-chia |
||
|
I. Cửa khẩu quốc tế |
|||
|
Lệ Thanh (Gia Lai) |
An-đông-pếch (Ra-ta-na-ki-ri) |
||
|
Hoa Lư (Bình Phước) |
Trapaing Sre (Kratié) |
||
|
Xa Mát (Tây Ninh) |
Trapeang Phlong (Kông-pông-chàm) |
||
|
Mộc Bài (Tây Ninh) |
Bà-vét (Svey-riêng) |
||
|
Bình Hiệp (Long An) |
Prâyvo (Svey-riêng) |
||
|
Dinh Bà (Đồng Tháp) |
Bontiachắcrrây (Prây-veng) |
||
|
Thường Phước (Đồng Tháp) |
Côkrôca (Prây-veng) |
||
|
Sông Tiền (An Giang) |
Caomsamno (Kần-đan) |
||
|
Tịnh Biên (An Giang) |
Phơnôngđơn (Tà-keo) |
||
|
Hà Tiên (Kiên Giang) |
Prekchak (Kăm-pốt) |
||
|
II. Cửa khẩu chính |
|||
|
1 |
Đắc Ruê (Đắk Lắk) |
Chimiết (Môn-đun-ki-ri) |
|
|
2 |
Bu Prăng (Đắk Nông) |
Đắk Đam (Môn-Đun-Ki-Ri) |
|
|
3 |
Đắk Peur (Đắk Nông) |
Bu Sara (Môn-Đun-Ki-Ri) |
|
|
4 |
Hoàng Diệu (Bình Phước) |
La Pakhê (Môn-Đun-Ki-Ri) |
|
|
5 |
Kà Tum (Tây Ninh) |
Chăn Mun (Kông - Pông -Chàm) |
|
|
6 |
Tống Lê Chân (Tây Ninh) |
Sa Tum (Kông - Pông -Chàm) |
|
|
7 |
Chàng Riệc (Tây Ninh) |
Đa (Kông - Pông -Chàm) |
|
|
8 |
Phước Tân (Tây Ninh) |
Bố Môn (Svay Riêng) |
|
|
9 |
Mỹ Quý Tây (Long An) |
Xòm Rông (Svey -Riêng) |
|
|
10 |
Khánh Bình (An Giang) |
Chrây Thum (Kần - Đan) |
|
|
Vĩnh Hội Đông (An Giang) |
Kom Pung Kroxăng (Tà -Keo) |
||
|
Giang Thành (Kiên Giang) |
Ton Hon (Kăm- Pốt) |
||
2. Đường biên giới đất liền Việt Nam - Căm-pu-chia
Thời Pháp thuộc, đoạn phía Bắc của biên giới đất liền giữa Việt Nam và Căm-pu-chia được xác định bằng các Nghị định của Toàn quyền Đông Dương. Đoạn phía Nam của biên giới đất liền giữa Việt Nam và Căm-pu-chia được hoạch định bằng các công ước giữa Quốc vương Căm-pu-chia và Thống đốc Nam Kỳ, và xác định rõ bằng các Nghị định của Toàn quyền Đông Dương.
a. Đoạn biên giới phía Bắc được xác định bằng Nghị định ngày 06/12/1904 và ngày 04/7/1905 của Toàn quyền Đông Dương. Riêng đoạn biên giới dọc theo sông Dak Dam thuộc tỉnh Đăk Lăk và một đoạn ngắn theo sông Sê San thuộc Pleiku (tỉnh Gia Lai ngày nay) được xác định bằng các nghị định của Toàn quyền Đông Dương ký ngày 30/3/1932 và 04/3/1933 (quy định về ranh giới hành chính phía Tây của các tỉnh đó theo suối Dak Dam và sông Sê San). Đoạn biên giới phía Bắc này chưa được cắm mốc giới trên thực địa.
b. Đoạn biên giới phía Nam được xác định và cắm mốc như sau:
Từ ngã ba Trung Kỳ - Nam Kỳ - Căm-pu-chia (Đắc Lắc ngày nay) đến điểm hợp lưu Tônlé Tru - Tônlé Chàm (Tây Ninh ngày nay) được xác định bởi Nghị định ngày 26/7/1893 của Thống đốc Nam Kỳ và Nghị định ngày 31/7/1914 của Toàn quyền Đông Dương.
Từ hợp lưu Tônlé Tru - Tônlé Chàm đến làng Hoà Thành (Kiên Giang ngày nay) được xác định bởi Thoả ước Pháp - Căm-pu-chia ngày 9/7/1870 và Công ước Pháp - Căm-pu-chia ngày 15/7/1873 được ký kết giữa một bên là Thống đốc Nam Kỳ đại diện cho xứ thuộc địa và một bên là Quốc vương Căm-pu-chia đại diện cho xứ bảo hộ. Đoạn biên giới này đã được xác định trên thực địa bằng 124 cột mốc, sau đó tiếp tục được thể hiện bằng Nghị định ngày 26/7/1893 của Thống đốc Nam Kỳ và các Nghị định của Toàn quyền Đông Dương (Nghị định ngày 31/7/1914, Nghị định ngày 30/3/1932, Nghị định ngày 6/12/1935, Nghị định ngày 11/12/1936 và Nghị định ngày 26/7/1942).
Từ mốc 124 (làng Hoà Thành) đến bờ biển Hà Tiên được xác định bởi biên bản hoạch định ngày 5/4/1876, các biên bản ngày 15/6/1896 và ngày 20/1/1897, biên bản điều chỉnh hoạch định ngày 28/11/1888, Điều 1 và Điều 2 Nghị định ngày 31/7/1914 của Toàn quyền Đông Dương.
3. Tóm tắt quá trình đàm phán hoạch định đường biên giới đất liền giữa Việt Nam và Căm-pu-chia
Sau năm 1954, Việt Nam và Căm-pu-chia đã nhiều lần dự định thương lượng, trao đổi ý kiến về biên giới, lãnh thổ giữa hai nước. Sau khi chiến tranh ở Đông Dương kết thúc, hai bên đã nỗ lực đàm phán và ký kết được 5 hiệp ước, hiệp định về vấn đề biên giới là:
- Hiệp ước hoà bình, hữu nghị và hợp tác giữa nước CHXHCN Việt Nam và nước CHND Căm-pu-chia, ký ngày 18/02/1979.
- Hiệp định về vùng nước lịch sử của nước CHXHCN Việt Nam và nước CHND Căm-pu-chia, ký ngày 07/7/1982.
- Hiệp ước về nguyên tắc giải quyết vấn đề biên giới giữa nước CHXHCN Việt Nam20/7/1983. và nước CHND Căm-pu-chia, ký ngày
- Hiệp định về quy chế biên giới giữa nước CHXHCN Việt Nam và nước CHND Căm-pu-chia, ký ngày 20/7/1983.
- Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa nước CHXHCN Việt Nam và nước CHND Căm-pu-chia, ký ngày 27/12/1985.
Với Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa Việt Nam và Căm-pu-chia năm 1985, hai nước đã cơ bản giải quyết vấn đề hoạch định biên giới trên đất liền, đánh dấu mốc quan trọng trong quan hệ hai nước. Đây là Hiệp ước được ký kết giữa hai quốc gia độc lập, có chủ quyền, trên cơ sở tôn trọng sự toàn vẹn lãnh thổ của nhau, phù hợp với pháp luật và thực tiễn quốc tế. Năm 2005, hai bên ký Hiệp ước bổ sung Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia năm 1985. Hiệp ước này tái khẳng định giá trị hiệu lực của Hiệp ước năm 1985.
4. Công tác phân giới cắm mốc biên giới đất liền giữa Việt Nam và Căm-pu-chia
Song song với tiến trình đàm phán, hai bên cũng đã từng bước thực hiện công tác phân giới, cắm mốc. Sau khi ký Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa Việt Nam và Căm-pu-chia năm 1985, từ năm 1986 đến hết năm 1988, hai bên đã tiến hành phân giới được khoảng 212km, cắm được 72 cột quốc giới. Đến năm 1989, việc phân giới, cắm mốc bị tạm dừng. Ngày 22/12/2005, hai bên đã thông qua Kế hoạch tổng thể về công tác phân giới, cắm mốc và thông qua Điều lệ tổ chức hoạt động của Ủy ban Liên hợp phân giới, cắm mốc của hai nước. Hai bên đã thống nhất cắm trên toàn tuyến biên giới 371 cột mốc (không tính mốc ngã ba Việt Nam - Lào - Căm-pu-chia).
Ngày 27/9/2006 cột mốc đầu tiên (số 171) đã được các cơ quan đại diện của hai bên cắm tại cặp cửa khẩu quốc tế Mộc Bài (tỉnh Tây Ninh) - Bavét (Svay Riêng), mở đầu tiến trình phân giới, cắm mốc trên toàn tuyến.
Tính đến tháng 3/2011 hai bên đã xác định được 209 vị trí cột mốc và chuyển vẽ được khoảng 1084km đường biên giới, đạt 95,3% chiều dài biên giới.
Tuy tiến trình phân giới cắm mốc đã đạt được nhiều bước tiến quan trọng, nhưng để hoàn thành đúng tiến độ công tác phân giới cắm mốc trên đất liền giữa Việt Nam và Căm-pu-chia trước cuối năm 2012 như lãnh đạo cấp cao hai nước đã thoả thuận, các cơ quan liên quan của hai bên cần phải nỗ lực, cố gắng hơn nữa để hoàn thành mục tiêu đã đề ra.
Có thể nói, quá trình đàm phán, phân giới, cắm mốc tuyến biên giới đất liền giữa Việt Nam và Căm-pu-chia mặc dù có một số khó khăn xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng với sự nỗ lực của chính phủ và sự ủng hộ của nhân dân hai nước, tiến trình phân giới, cắm mốc chắc chắn sẽ đạt được những kết quả tốt đẹp, góp phần tạo dựng môi trường hoà bình, ổn định khu vực, phục vụ cho công cuộc bảo vệ và phát triển kinh tế đất nước cũng như những mong muốn của người dân hai nước.
(Ban BT web)