Ngày 13/08/2021340
Khi thực hiện các công việc liên quan đến công tác biên giới, mọi cán bộ phải nắm vững nghiệp vụ đặc thù của công tác này, bao gồm nhiều nội dung về pháp lý, kỹ thuật cũng như quản lý, điều hành.
Những thông tin dưới đây là một số nghiệp vụ chính về công tác biên giới nói chung và biên giới Việt Nam - Lào nói riêng. Tuy chưa phải là toàn bộ nghiệp vụ về công tác biên giới, nhưng cũng hy vọng đáp ứng được phần nào nhu cầu nghiên cứu, áp dụng của những người làm công tác biên giới.
1. Những văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến biên giới
Người làm công tác biên giới cần phải nắm vững các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan, gồm:
- Các điều ước quốc tế về biên giới lãnh thổ mà Việt Nam đã ký với nước láng giềng như hiệp ước, hiệp định, các thỏa thuận cấp cao (cấp Chính phủ trở lên) và các văn bản thoả thuận song phương khác giữa các bộ, ngành và địa phương hai bên trong đó có nội dung liên quan đến công tác biên giới.
- Các văn bản pháp quy do các cơ quan nhà nước ban hành nhằm thực hiện công tác biên giới như: luật, pháp lệnh của Quốc hội; nghị định, quyết định, chỉ thị của Chính phủ và các văn bản pháp quy của các bộ, ngành và địa phương có những nội dung liên quan đến công tác quản lý biên giới.
Đường biên giới Việt Nam - Lào dài khoảng 2.067km, đi qua 10 tỉnh biên giới của Việt Nam là Điện Biên, Sơn La, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Kon Tum và 10 tỉnh biên giới của Lào là Phông-sa-lỳ, Luông-pha-băng, Hủa-phăn, Xiêng-khoảng, Bô-ly-khăm-xay, Khăm-muộn, Sạ-vắn-nạ-khệt, Sa-la-van, Sê-kông và Ắt-tạ-pư.
Việt Nam và Lào chính thức ký kết 7 hiệp ước, hiệp định về biên giới, cụ thể là: Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hoà Dân chủ nhân dân Lào (1977); Hiệp ước bổ sung Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩaViệt Nam và nước Cộng hoà Dân chủ nhân dân Lào (1986); Nghị định thư về việc phân giới trên thực địa và cắm mốc toàn bộ đường biên giới quốc gia giữa nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hoà Dân chủ nhân dân Lào (1986); Nghị định thư bổ sung Nghị định thư về việc phân giới trên thực địa và cắm mốc toàn bộ đường biên giới quốc gia giữa nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hoà Dân chủ nhân dân Lào (1987); Hiệp định về quy chế biên giới quốc gia giữa nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hoà Dân chủ nhân dân Lào (1990); Nghị định thư sửa đổi và bổ sung Hiệp định về quy chế biên giới quốc gia giữa nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hoà Dân chủ nhân dân Lào (1997); Thỏa thuận giữa Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam và Chính phủ nước CHND Lào về việc giải quyết vấn đề người di cư tự do và kết hôn không giá thú trong vùng biên giới hai nước (8/7/2013).
2. Nguyên tắc giải quyết các vấn đề có liên quan đến biên giới
Chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ là vấn đề thiêng liêng, nhạy cảm. Do đó, việc giải quyết những vấn đề về biên giới, lãnh thổ phải hết sức thận trọng, khôn khéo, trên cơ sở nắm chắc luật pháp, tôn trọng lợi ích chính đáng của nhau để trao đổi, bàn bạc, tìm ra giải pháp phù hợp về pháp lý, kỹ thuật, cân bằng lợi ích mà hai bên có thể chấp nhận được. Khi giải quyết các vấn đề về biên giới cần lưu ý hết sức tránh những khuynh hướng sau: Thoả mãn yêu cầu của bạn mà không đảm bảo lợi của ta, hoặc chỉ tính đến lợi ích của ta mà xem nhẹ lợi ích của bạn; hoặc thiên về tình cảm, chính trị, xem nhẹ yếu tố pháp lý, hoặc quá chú trọng về mặt pháp lý làm ảnh hưởng đến quan hệ láng giềng hữu nghị.
Quan hệ giữa Việt Nam Lào là quan hệ truyền thống đặc biệt, thể hiện qua sự hợp tác, gắn bó giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước. Tuy vậy, trong thực tế, vẫn có những vấn đề mà quyền lợi của hai bên có khác nhau, đòi hỏi cách giải quyết đúng đắn để không làm ảnh hưởng đến tình hữu nghị.
Nói và làm theo luật pháp tức là phải nắm chắc nội dung, quy định của các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến biên giới để có vận dụng phù hợp, đảm bảo chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc. Trong quan hệ truyền thống đặc biệt Việt Nam - Lào, song song với việc giữ vững chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, hai bên đều chú trọng đến việc tôn trọng, chiếu cố đến lợi ích chính đáng của nhau, trên tinh thần vì lợi ích chung của hai nước, vì tình đoàn kết hữu nghị và hợp tác toàn diện giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước để có biện pháp phù hợp giải quyết những vấn đề nảy sinh trong công tác quản lý biên giới giữa hai nước.
Đoàn kết Việt Nam - Lào là vấn đề hết sức quan trọng và lâu dài, đòi hỏi mỗi cán bộ, chiến sĩ, mỗi người dân (nhất là những cán bộ, chiến sĩ làm công tác biên giới, nhân dân khu vực biên giới) phải quán triệt sâu sắc vấn đề này. Từ đó, mọi vấn đề trong phạm vi biên giới liên quan đến Việt Nam và Lào cần được giải quyết một cách hợp tình, hợp lý, trên cơ sở đảm bảo nguyên tắc pháp lý, góp phần tăng cường, củng cố tỉnh đoàn kết hữu nghị giữa hai nước.
3. Phương pháp xây dựng biên bản song phương
Tác giả không đi sâu hướng dẫn cụ thể các loại mẫu biên bản mà chỉ giới thiệu kinh nghiệm lập biên bản xử lý các vấn đề về biên giới.
- Mục đích, yêu cầu của việc xây dựng biên bản song phương
Mục đích của việc làm biên bản là ghi lại thời gian, địa điểm; thực trạng những việc nảy sinh trong công tác quản lý biên giới; những điểm thống nhất hoặc những điểm còn khác nhau giữa các cấp có thẩm quyền của hai bên để báo cáo lên cấp trên xem xét, giải quyết. Đường biên giới Việt Nam - Lào là đường biên giới chung của cả hai nước. Mọi sự kiện xảy ra có liên quan đến đường biên giới đều phải do hai bên phối hợp giải quyết. Kết quả giải quyết phải được ghi nhận bằng biên bản song phương sẽ giúp nâng cao giá trị pháp lý của kết quả xử lý.
Yều cầu của việc xây dựng biên bản song phương là phải đảm bảo được cả hai yếu tố chính trị và pháp lý. Trong đó:
Về chính trị: không có hành động, lời nói làm phương hại đến tình đoàn kết, hữu nghị giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước, đặc biệt là chính quyền và nhân địa phương hai bên biên giới; chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của bên này hoặc bên kia.
Về pháp lý: phải đảm bảo đúng các quy định tại các Hiệp định, Thoả thuận liên quan đến quan hệ biên giới đã ký giữa hai nước (cấp Chính phủ, cấp bộ, ngành, địa phương...).
- Một số kinh nghiệm xây dựng biên bản
Trước hết cần phải xác định tên biên bản: Tên biên bản cần nói rõ biên bản giải quyết việc gì, ghi trích yếu nội dung của cuộc làm việc.
Phần mở đầu của biên bản: Cần phải ghi thực hiện văn bản nào; thời gian, địa điểm hai bên gặp nhau; đại diện cho cấp nào; họ tên, chức vụ những người đại diện...
Phần nội dung ghi rõ: Hai bên gặp nhau giải quyết vấn đề gì; nhận thấy thực trạng vấn đề đó ra sao; hai bên thỏa thuận thống nhất những vấn đề gì; nếu chưa thống nhất thì quan điểm phía Việt Nam thế nào, quan điểm phía Lào thế nào; hai bên có kiến nghị gì lên cấp trên. Nếu phần này có những nội dung quá dài thì có thể chuyển những nội dung đó thành phụ lục.
Phần cuối biên bản ghi: Làm tại đâu; ngày tháng năm nào; bằng mấy thứ tiếng, tiếng gì; văn bản các thứ tiếng có giá trị như nhau không.
Về phần ký biên bản: khi thống nhất xong toàn bộ biên bản, người chịu trách nhiệm đối soát văn bản của hai bên cần ký vào góc dưới tất cả các trang để xác nhận và sau đó đại diện hai bên cùng ký để thực hiện. Về quy cách ký, bản tiếng Việt thì đại diện phía Việt Nam ký bên trái, đại diện phía Lào ký bên phải và ngược lại.
Biên bản phải ngắn gọn, rõ ràng, chặt chẽ, bảo đảm được yếu tố chính trị và pháp lý của biên bản và thuận lợi cho việc thực hiện, sử dụng sau này.
4. Thống kê, lưu trữ tài liệu về công tác biên giới
Đây là công việc phải được thực hiện thường xuyên, vừa theo dõi chặt chẽ, vừa kết hợp với việc tổ chức khảo sát, điều tra để cập nhật thông tin và nắm chắc tình hình biên giới:
- Lập hồ sơ đầy đủ và chính xác theo ngày tháng, phân loại theo nội dung vụ việc, thẩm quyền giải quyết để tiện theo dõi, quản lý và tra cứu khi cần. Mọi tài liệu và hồ sơ đó phải được lưu trữ như tài liệu cơ mật của Nhà nước.
- Nắm chắc các vấn đề liên quan tới biên giới: Vị trí các mốc quốc giới, các vật chuẩn để xác định đường biên giới; tình hình dân cư, địa hình, địa vật, tài nguyên, môi trường hai bên đường biên giới.
- Quản lý chặt tình hình sự vụ xảy ra trong khu vực biên giới và quan hệ về biên giới giữa hai bên, nhất là những sự kiện phát sinh (nguyên nhân, diễn biến, kết quả).
5. Công tác tuyên truyền
Cơ quan quản lý nhà nước về biên giới lãnh thổ, cán bộ làm công tác biên giới cần phải thường xuyên tuyên truyền, phổ biến kiến thức về công tác biên giới tới các cán bộ, chiến sĩ và nhân dân vùng biên giới, coi đây là một nghiệp vụ không thể thiếu của công tác biên giới để mọi người có thể:
- Nắm được các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước về vấn đề biên giới, các văn bản pháp lý có liên quan đến biên giới và quan hệ giữa nhân dân và chính quyền của hai bên.
- Không ngừng nâng cao nhận thức về chủ quyền lãnh thổ, ý thức quốc gia cho cán bộ, chiến sĩ làm nhiệm vụ quản lý biên giới và đồng bào các dân tộc ở biên giới, trên cơ sở đó tự giác tham gia thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước cũng như các chế độ pháp lý liên quan đến việc quản lý bảo vệ biên giới, bảo vệ chủ quyền quốc gia.
- Tổ chức triển khai thực hiện đầy đủ, chặt chẽ các quy chế quản lý biên giới đã được Nhà nước ban hành, ngăn chặn và xử lý kịp thời mọi hành động xâm phạm đến biên giới quốc gia như xâm canh, di cư tự do và kết hôn không giá thú, vượt biên trái phép, buôn lậu... xây dựng và bảo vệ tốt an ninh, trật tự an toàn xã hội ở khu vực biên giới đồng thời có kế hoạch, tạo điều kiện thuận lợi cho việc sphát triển kinh tế, xã hội, văn hoá cho nhân dân, bảo vệ môi trường, tài nguyên ở khu vực biên giới.
6. Chế độ thông tin, báo cáo
Biên giới, lãnh thổ là vấn đề nhạy cảm và thiêng liêng. Mọi sự kiện xảy ra trên biên giới đều có ảnh hưởng, tác động đến quan hệ giữa hai nước. Do đó, việc quản lý tình hình có liên quan đến biên giới, lãnh thổ đòi hỏi phải được quan tâm đầy đủ ngay từ cấp trực tiếp quản lý, bảo vệ biên giới. Thông tin báo cáo cần được củng cố, tăng cường nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý chặt chẽ biên giới. Tránh các tình trạng:
- Thông tin tình hình hai chiều giữa các cấp quản lý như đồn biên phòng, các đơn vị quản lý cơ sở không đầy đủ, kịp thời, chính xác;
- Những việc phát sinh không được xử lý, hoặc đã được giải quyết nhưng cơ quan cấp trên không biết hoặc biết quá chậm. Có việc không báo cáo cấp trên, để kéo dài hoặc xử lý không đúng sẽ gây nên hậu quả xấu, phải xử lý lại, làm tốn kém về thời gian, công sức;
- Việc báo cáo không đúng đối tượng sẽ dẫn đến việc chỉ đạo chồng chéo, không thống nhất, khó thực hiện;
- Trong báo cáo thiếu vấn đề cả kỹ thuật văn bản và kỹ thuật bản đồ, hoặc nội dung báo cáo không chính xác, không đầy đủ, thậm chí không đúng, sẽ làm các cơ quan cấp trên không hiểu, hoặc hiểu sai tình hình, phải trao đổi mất nhiều thời gian gây nên sự chậm trễ trong chỉ đạo.
Cần phải thực hiện tốt chế độ thông tin, báo cáo; phải có những hướng dẫn cụ thể hơn về phương pháp và nội dung như: hướng dẫn các báo cáo tình hình quý, sáu tháng, một năm; báo cáo tình hình đột xuất; báo cáo hoạt động chuyên ngành... Đồng thời, sẽ nghiên cứu hệ thống báo cáo nhanh để việc thông tin, báo cáo đạt kết quả cao hơn.
Để đảm bảo yêu cầu thông tin về mọi hoạt động của công tác biên giới, mọi tình hình thu thập được và mọi sự kiện phát sinh, diễn ra ở biên giới được thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời ở các cấp và thống nhất nghiên cứu, chỉ đạo và giải quyết ở các cấp quản lý có thẩm quyền thì cần có sự quan tâm đúng mực về công tác thông tin, báo cáo tình hình ở từng cấp quản lý. Bên cạnh đó, các đồn biên phòng, các xã biên giới cần kịp thời báo cáo lên cấp trên:
- Kết quả tuần tra đường biên giới;
- Kết quả kiểm tra các mốc quốc giới (kể cả đơn phương và song phương);
- Các biến động về tình hình dân cư hai bên biên giới;
- Các sự kiện xảy ra trên biên giới giữa ta và bạn (cần báo cáo rõ: việc gì, ở đâu, diễn ra khi nào và cụ thể ra sao, đã xử lý hoặc kiến nghị xử lý...);
- Tình hình thực hiện quy chế biên giới...
Việc phổ biến tình hình chung cũng như chủ trương, chính sách và hướng dẫn công tác của cấp trên cũng cần tăng cường, cải tiến cả về phương pháp và nội dung để giúp cho cấp dưới và cán bộ, chiến sĩ trực tiếp làm nhiệm vụ nâng cao hơn nữa về mặt nhận thức và nghiệp vụ công tác chuyên môn.
Chủ động dự kiến mọi tình huống, nắm chính xác, đầy đủ và xử lý đúng đắn, kịp thời mọi sự kiện phát sinh trên biên giới không những để làm tốt các nội dung công tác quản lý cụ thể mà còn góp phần vào việc đánh giá tình hình chung giúp cho việc chỉ đạo công tác quản lý biên giới trên toàn tuyến, phát triển quan hệ hữu nghị hợp tác đặc biệt Việt Nam - Lào./.
(BBT)