(069). 518.055

Lực lượng quân đội In đô nê xi a

Ngày 12/08/2021413

Lực lượng quân đội Inđônêxia được tổ chức theo hai hệ thống cơ bản:

Hệ thống thứ nhất là lực lượng lục quân chính quy ở các quân khu, các tỉnh và bên cạnh nó là lực lượng dân phòng. Lực lượng chính quy đóng vai trò chủ yếu trong việc bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ Inđônêxia. Cơ quan điều hành cao nhất của lực lượng lục quân ở các quân khu, vùng lãnh thổ là bộ tư lệnh các quân khu. Bộ tư lệnh quân khu thường do các sĩ quan quân hàm thiếu tướng làm tư lệnh; đây là những sĩ quan có uy tín và năng lực cao trong quân đội. Các bộ tư lệnh quân khu thực hiện quyền chỉ huy của mình thông qua các bộ tư lệnh cấp dưới, đó là bộ chỉ huy quân sự các tỉnh, thành phố do các đại tá đứng đầu và dưới nữa là cấp quận, huyện, do các sĩ quan từ đại úy đến trung tá chỉ huy. 

Hiện nay, toàn bộ lãnh thổ Inđônêxia được chia thành 10 quân khu sau:

            - Quân khu 1: Bắc Xumatơra; sở chỉ huy: Medan;

           - Quân khu 2: Nam Xumatơra; sở chỉ huy: Palembang;

           - Quân khu 3: Tây Giava; sở chỉ huy: Băngđung;

         - Quân khu 4: Trung Giava; sở chỉ huy: Gióc Giacácta;

- Quân khu 5: Đông Giava; sở chỉ huy: Surabaya;

- Quân khu 6: Kalimantan; sở chỉ huy: Balikpapan;

- Quân khu 7: Sulavêxi; sở chỉ huy: Ugiungpanđang;

- Quân khu 8: Tây Irian; sở chỉ huy: Giayapura;

- Quân khu 9: Bali và Đông Timo; sở chỉ huy: Bali;

- Quân khu 10: Thủ đô Giacácta.

Từ năm 2000, Đông Timo tách ra thành lập quốc gia độc lập, do đó Quân khu 9 chỉ còn khu vực Bali.

Lực lượng các quân khu gồm có 63 tiểu đoàn bộ binh, 4 tiểu đoàn đổ bộ đường không, 8 tiểu đoàn ky binh thiết giáp, 4 tiểu đoàn pháo mặt đất, 9 tiểu đoàn phòng không và 1 phi đội trực thăng.

Hệ thống thứ hai của lực lượng lục quân Inđônêxia là lực lượng dự bị chiến lược, đặt dưới sự chỉ huy và điều hành của Bộ Tư lệnh lực lượng dự bị Lục quân chiến lược (KOSTRAD); có sở chỉ huy tại Giacácta. Lực lượng này bao gồm hai khung sư đoàn, 13 lữ đoàn bộ binh, 1 lữ đoàn ky binh thiết giáp, 2 lữ đoàn đổ bộ đường không, 5 trung đoàn pháo mặt đất, 4 trung đoàn pháo phòng không, 1 trung đoàn công binh. Tư lệnh KOSTRAD là một sĩ quan cấp thiếu tướng; chỉ huy các sư đoàn là sĩ quan cấp chuẩn tướng.

Trong thành phần của lục quân còn có một số đơn vị thuộc Bộ Chỉ huy lực lượng Đặc biệt (KOPASSUS) làm nhiệm vụ tác chiến đặc biệt, bao gồm một số binh đoàn cơ động, thường gọi là "lính mũ nồi đỏ". KOPASSUS là lực lượng được huấn luyện thành thục nhất trong quân đội quốc gia Inđônêxia. Lực lượng này gồm những binh sĩ có kinh nghiệm, có sức khoẻ, chấp hành nghiêm kỷ luật, phải trải qua các cuộc kiểm tra nghiêm ngặt về tâm lý và kỹ thuật. KOPASSUS có hai nhóm hoạt động chiến đấu đặc biệt, một nhóm hoạt động bí mật, một đơn vị chống khủng bố (đơn vị 81) và Trung tâm huấn luyện. Sở chỉ huy đóng tại Giacácta. Hầu hết các hoạt động của KOPASSUS được thực hiện bởi các nhóm nhỏ, trong đó các nhân viên đều có đủ kỹ năng đáp ứng bất kỳ nhiệm vụ đặc biệt nào, vì họ được huấn luyện hoàn hảo và đồng bộ các chuyên ngành như chiến thuật, kỹ thuật tình báo, thông tin, y tế, phá hoại, các hoạt động bán quân sự... Phần lớn nhân viên của KOPASSUS phục vụ trong đơn vị gần như suốt thời gian đương nhiệm, kể cả những sĩ quan không được thăng quân hàm nhưng có ý thức chấp hành nghiêm kỷ luật. Những đòi hỏi nghiêm ngặt và toàn diện đó chính là những yếu tố tạo nên sức mạnh của KOPASSUS.

Nhằm giải quyết kịp thời và hiệu quả những tình huống khẩn cấp tại các vùng khác nhau trong quần đảo, mới đây lục quân Inđônêxia còn tổ chức "Lực lượng phản ứng nhanh", thường gọi là “Lính mũ nồi xanh". Lực lượng này gồm chủ yếu các binh đoàn sẵn sàng chiến đấu của lục quân cùng với một số đơn vị hải quân và không quân. Đây là một lực lượng được tổ chức theo kinh nghiệm của nhiều nước và xuất phát từ yêu cầu phản ứng mau lẹ của Inđônêxia, một nước có nhiều đảo và diện tích rộng. Để bảo đảm sẵn sàng phản ứng nhanh của lực lượng này, lục quân đã xây dựng các phương án huấn luyện, có diễn tập phối hợp với các lực lượng hải quân và không quân, cũng như phối hợp với lực lượng quân đội các nước trong vùng.

Lục quân

Inđônêxia được trang bị các loại xe tăng, thiết giáp, pháo, cối và các loại vũ khí bộ binh khác; trong thành phần lục quân còn có lực lượng tên lửa phòng không và không quân của lục quân.

Lực lượng lục quân Inđônêxia được biên chế thành 70 tiểu đoàn bộ binh, 13 tiểu đoàn bộ binh không vận, 4 tiểu đoàn đặc biệt, 8 tiểu đoàn thiết giáp, 10 tiểu đoàn pháo mặt đất, 10 tiểu đoàn pháo phòng không, 10 tiểu đoàn công binh và 2 phi đoàn không quân (Janes, World Army. lssue 6.2002, p.299-300).

Hải quân

Là một quốc gia quần đảo lớn nhất thế giới, với tổng chiều dài bờ biển 25.547km, Inđônêxia có một vùng đặc quyền kinh tế rộng tới 1.577.300km2, có trên 300 cơ sở khai thác dầu lửa và các tài nguyên khác. Inđônêxia có vị trí chiến lược, án ngữ các tuyến giao thông hàng hải quan trọng từ Thái Bình dương sang Ấn Độ dương qua eo biển Malắcca, nơi chiếm tới hơn 1/3 tổng lượng hàng hoá thông thương bằng đường biển trên thế giới.

Xuất phát từ đặc điểm địa chiến lược trên, ngay từ những năm đầu thập niên 50 của thế kỷ XX, Chính phủ Inđônêxia đã tập trung nỗ lực phát triển lực lượng hải quân. Tuy nhiên, do tình hình kinh tế, chính trị lúc đó, lực lượng hải quân Inđônêxia vào cuối những năm 50 cũng chỉ mới được trang bị khoảng hơn 1 chục tàu tuần tra cũ kĩ mua từ các nước châu Âu và Úc.

Bên cạnh việc mua sắm và trang bị cho lực lượng hải quân các trang thiết bị, vũ khí hiện đại, trong hai thập niên 70 và 80 của thế kỷ trước, Inđônêxia rất chú trọng phát triển lực lượng không quân - hải quân. Vào những năm đó, lực lượng không quân - hải quân Inđônêxia đã được trang bị các loại máy bay tương đối hiện đại như máy bay trinh sát hải quân tầm trung Airtech CN-235-100, máy bay trực thăng, máy bay vận tải...

Từ những năm đầu thế kỷ XXI, Inđônêxia rất chú ý phát triển quân chủng hải quân. Hiện nay, hải quân Inđônêxia có các nhiệm vụ: duy trì sự giám sát chặt chẽ đối với các vùng biển thuộc chủ quyền và vùng đặc quyền kinh tế, chống lại các hoạt động đánh bắt cá trái phép và bảo vệ các dàn khoan ngoài biển; làm nhiệm vụ cảnh sát biển, thực hiện luật pháp của nhà nước chống buôn lậu qua đường biển, ngăn chặn nạn cướp biển và đối phó với những trường hợp khẩn cấp khác trên vùng biển; kiểm soát đường giao thông trên biển chạy qua lãnh thổ Inđônêxia, nhất là tại các eo biển Sunđa, Lombok, Ombai và Uêta; yểm trợ hải quân một số nước láng giềng để kiểm soát eo biển chiến lược Malắcca; phối hợp với hải quân các nước trong khu vực khi cần thiết trong các vấn đề thuộc về an ninh và phòng thủ khu vực.
Hải quân Inđônêxia có quân số thường trực từ 4 đến 5 vạn: Năm 1990 có gần 42.000 người; năm 1991 có 42.500; năm 1995 là 43.060; hiện tại có 40.000 người trong đó kể cả hải quân đánh bộ và không quân của hải quân...).

Hải quân tổ chức thành hai hạm đội: Hạm đội miền Đông, có bộ chỉ huy đóng tại Surabaya và Hạm đội miền Tây có bộ chỉ huy đóng tại Giacácta.

Hải quân Inđônêxia có trên 100 tàu các loại, chủ yếu là tàu hộ vệ, tàu tuần tiễu, quét mìn, các tốc hạm có trang bị tên lửa hoặc ngư lôi và các hệ thống thiết bị điều khiển điện tử thích hợp với chức năng, nhiệm vụ bảo vệ và phòng thủ. Hải quân có một số tàu ngầm, tàu quét mìn, tàu đổ bộ, tàu bảo đảm..., ngoài ra còn có trên 50 máy bay chiến đấu, máy bay vận tải và trực thăng sử dụng cho nhiệm vụ tuần tra biển. Inđônêxia có các căn cứ hải quân nổi tiếng như Gorotalo, Kemgiaran, Surabaya, Giacácta.

Không quân

Cũng giống như lực lượng hải quân, lực lượng không quân Inđônêxia được manh nha hình thành từ rất sớm. Năm 1946, chỉ hơn 1 năm sau khi Inđônêxia tuyên bố độc lập, lực lượng không quân đã trở thành một quân chủng trong cơ cấu của Quân đội an ninh nhân dân (TKR). Vào thời điểm đó, toàn bộ lực lượng không quân Inđônêxia mới chỉ có vài phi công người bản địa với một số máy bay cũ và các sân bay cỡ nhỏ trên các hòn đảo do thực dân Hà Lan để lại Trước năm 1945, toàn bộ cơ sở vật chất, trang thiết bị của không quân thuộc quyền quản lý của quân đội thuộc địa Hà Lan và chủ yếu làm các nhiệm vụ dân sự như: đưa các quan chức trong bộ máy thuộc địa đi thanh sát các đảo;cùng với các đơn vị cảnh sát bảo vệ các trọng điểm kinh tế của Hà Lan tại Inđônêxia v.v...

Sau khi giành độc lập, Quân đội an ninh nhân dân Inđônêxia (TKR) đã tiếp quản toàn bộ số cơ sở vật chất trên. Tuy nhiên, trong suốt nhiều năm sau khi giành độc lập, do điều kiện kinh tế, đặc biệt là những bất ổn chính trị trong nước, lực lượng không quân Inđônêxia không phát triển được nhiều. Đến đầu những năm 70, được sự quan tâm đặc biệt của Tổng thống Xuháctô và sự tăng trưởng nhanh của nền kinh tế, Inđônêxia bắt đầu đẩy mạnh chương trình phát triển lực lượng không quân. Đến giữa những năm 80, Inđônêxia đã mua một số lượng lớn máy bay của Mỹ và các nước khác, trong đó có các loại máy bay F-16s (8-As, 4-Bs). Năm 1993, đưa vào trang bị cho lực lượng không quân 24 máy bay phản lực Hawk, mua từ Anh...

Do phải bảo vệ một vùng trời rộng lớn từ bắc xuống nam, từ đông sang tây, tương đương với không phận của nước Mỹ, nên nhiệm vụ của không quân Inđônêxia rất nặng nề. Không quân có trách nhiệm tuần tra, trinh sát, giám sát vùng trời, ngăn chặn các vụ vi phạm không phận, hải phận và vùng đặc quyền kinh tế, luôn luôn duy trì khả năng sẵn sàng chiến đấu chống lại và ngăn ngừa các mối đe doạ đến quốc phòng và vận mệnh của đất nước.

Xuất phát từ đặc thù nhiệm vụ trên đây, từ cuối những năm 80, đầu những năm 90 của thế kỷ trước, Inđônêxia chủ trương và có kế hoạch từng bước hiện đại hoá, đổi mới trang bị, phương tiện cho không quân; bên cạnh đó, tập trung xây dựng thêm và nâng cấp các căn cứ không quân hiện có, đặc biệt là căn cứ không quân trên đảo Giava, căn cứ không quân ở Ranai và căn cứ không quân Isahuydi. Đến năm 1992, đa số các sân bay của lực lượng không quân đã có thể tiếp nhận được các loại máy bay chiến đấu, thậm chí cả các loại máy bay dân dụng hiện đại.

Năm 1990, không quân Inđônêxia có 3 phi đội máy bay tiến công và đánh chặn; hai phi đội chống bạo loạn và trinh sát biển; 3 phi đội trực thăng; 4 phi đội vận tải và 3 phi đội huấn luyện với gần 120 máy bay chiến đấu và vận tải các loại, 47 trực thăng và 72 máy bay huấn luyện.

Năm 1995, lực lượng không quân Inđônêxia có khoảng 25.000 quân; 2 phi đội máy bay tiêm kích với 28 máy bay A-4/A-4E; 2 phi đội tiêm-cường kích với 10 máy bay F-5E, 10 máy bay F-16 AJB, ngoài ra còn có các phi đội máy bay vận tải, trinh sát, huấn luyện và các phi đội máy bay lên thẳng, với tổng số máy bay lên tới hơn 140 chiếc các loại.

Năm 1999, lực lượng không quân Inđônêxia có khoảng 27.000 quân, trong số đó có khoảng 4.000 lính dù (được biên chế trong 4 tiểu đoàn, thuộc Lực lượng không quân phản ứng nhanh) cùng hàng trăm máy bay chiến đấu và phục vụ chiến đấu các loại.

Bộ Tư lệnh Không quân Inđônêxia có tổng hành dinh đóng tại Giacácta, dưới bộ là 5 cục và bộ tư lệnh trực thuộc: Cục Thiết bị và Hậu cần đóng tại Băng đung; Cục Huấn luyện chiến đấu, đóng tại Surabaya; 2 cục tác chiến Ko-op I, đóng tại Giacácta và Ko-op II, đóng tại Ugiungpanđang và Bộ Tư lệnh Phòng không quốc gia, cũng đóng tại Giacácta.

(TL tổng hợp từ Infornet)

Tin tức khác

Zalo phone Hotline