(069). 518.055

Lễ cúng đình - Hội làng truyền thống của người Việt ở miền Tây Nam Bộ

Ngày 03/08/202110524

Trong đời sống tín ngưỡng và tâm linh của người Việt, đã từ lâu lễ cúng đình- hội làng truyền thống chiếm một vị trí rất quan trọng trong sinh hoạt làng xã. Đó là một lễ hội thiêng liêng và đông vui nhất của làng được tổ chức định kỳ hàng năm và diễn ra một cách khá trang nghiêm sùng kính.

 

Đó là nơi hội tụ những nét độc đáo lâu đời của các hội làng người Việt, là nơi bảo lưu và toả sáng những giá trị truyền thống văn hoá Việt Nam.

 

Từ cuộc sống nhọc nhằn, đầy bất trắc, người dân gửi gắm khát vọng và ước muốn của mình về một cuộc sống bình yên, no đủ ở vị Thành hoàng làng. Hội làng thường lấy đình làm cơ sở. Đấy là nơi thờ Thành hoàng làng. Vì vậy, giữa hội làng và tín ngưỡng Thành hoàng có một sự đồng nhất. Hội làng chính là nghi thức biểu đạt quan niệm cuả dân làng về thần Thành hoàng(1).

 

Dù xa cách “cố hương”, người Việt miền Tây Nam Bộ nói riêng và người Việt Nam Bộ nói chung vẫn là những cư dân nông nghiệp trồng lúa nước. Vì vậy, tín ngưỡng cúng đình thờ Thành hoàng vẫn còn tiềm ẩn trong tầng sâu “ký ức văn hoá” của cư dân, đến Nam Bộ lại thức dậy và phát triển. Tuy nhiên, ở vùng đất mới, hồi quang của nền văn hoá cũ, lại cộng cư với nhiều tộc người: Khơme, Chăm, Hoa… khác về tín ngưỡng trong môi trường mới lạ nên trong cơ cấu tín ngưỡng của người Việt Nam Bộ cũng có những biến thái.

 

Do điều kiện lịch sử, người Việt đến miền Tây Nam Bộ khá muộn, vì vậy, đình miếu nơi đây được xây dựng chưa lâu lắm. Ngay buổi đầu của những thôn ấp mới lập, người Việt đã dựng lên những đền, miếu để thờ, tiền thân của một số ngôi đình về sau. Đến nay, phía ngoài cổng không ít đình vẫn còn những chữ Hán ghi là đền hoặc miếu như: đình Bình Mỹ, đình Quốc Thái, đình Châu Phú ở An Giang… Sách Đại Nam nhất thống chí cuối thế kỷ XIX đã nói đến trường hợp buổi đầu mới lập của đình Châu Phú- nay ở thị xã Châu Đốc, là đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh do Thoại Ngọc Hầu dựng nên(2).

 

Hầu hết mỗi làng Việt miền Tây thế kỷ XIX đều có một đình hoặc miếu. Các đình, miếu hồi mới lập đều có quy mô nhỏ, gỗ lá đơn sơ. Dần dần, cuộc sống của cư dân ổn định, khấm khá hơn, đình miếu mới được trùng tu, mở rộng. Thời kỳ 9 năm kháng chiến chống Pháp (1946- 1954), do chính sách “tiêu thổ kháng chiến” nên nhiều đình ta tự phá, đốt cháy không để thực dân Pháp lấy làm đồn bốt, một số đình khác bị thực dân Pháp đốt phá…, nên đến nay nhiều đình không còn hình dáng kiến trúc thế kỷ XIX, một số đình được trùng tu, xây lại từ giữa thế kỷ XX đến nay.

 

Kiến trúc đình người Việt ở miền Tây Nam Bộ thường chia làm 3 phần: võ ca, võ quy và chánh tẩm. Như đình làng Bình Mỹ- An Giang từ lần đầu tiên xây dựng năm 1876 đến nay được trùng tu, xây dựng đến 4 lần, nay có kiến trúc kiểu chữ Tam, mái tam cấp, nóc cổ lầu, lợp ngói âm dương đại tiểu. Kiến trúc mái đình có 9 nóc, chia làm 3 dẫy, võ ca 3 nóc, võ quy 3 nóc, chánh tẩm 3 nóc, mái ngói nhiều tầng lớn nhỏ, cao thấp nằm nhấp nhô trên một công trình kiến trúc hình khối đồ sộ. Mái đình chín nóc là biểu hiện cho ngôi “cửu ngũ”, ý tứ sâu xa của người xưa được gửi gắm vào công trình kiến trúc, đó là ước muốn vị thần đại diện cho “thiên tử” bảo hộ cho dân làng được thái bình, an lạc.

 

Nội thất, trước tiên từ sân đình vào có võ ca (ca múa), nơi ngày lễ diễn ra hát bội, cúng thần trong các lễ cúng Kỳ yên hàng năm. Nối tiếp võ ca là nhà chầu, nơi các quan chầu tế lễ và cầm chầu mỗi khi hát bội. Nhà chầu còn gọi là “võ cua” hay “võ quy”, vì nhà có mái khum như vỏ mai cua hay mai rùa. Đây là nơi diễn ra lễ nghi cúng thần. Nối liền võ quy với chánh tẩm là thông hành. Chánh tẩm là quan trọng nhất của ngôi đình. Cách bài trí ở chánh tẩm rất trang nghiêm. Chính giữa, trên là bàn thờ Thần, dưới bàn thờ chính là bàn thờ Hội đồng, hai bên bàn thờ chính là những bàn thờ các vị thần linh khác.

 

Trên bệ bàn thờ thần- nơi tôn nghiêm nhất của ngôi đình là khánh thờ. Trong khánh thờ có chữ Thần bằng Hán tự màu vàng trên nền đỏ. Ở những đình có sắc, trên ngai thờ có để hộp đựng sắc thần. Dưới bàn thờ thần là ban chánh tế (nơi để vật phẩm cúng thần), được bài trí tự khí. Hương án thờ Hội đồng, tượng trưng nơi vị thần tiếp các vị hương chức trong làng có đồ tự khí. Hai  bên bàn thờ chính là hương án thờ các vị thần linh cận vệ chính thần như thờ tả ban, tiền hiền, hậu hiền, tiền cố hương lão, tiên sư, bạch mã thái giám…

 

Trước sân đình thường có bàn thờ Thần Nông. Ngay sau bình phong từ cổng chính vào đình, ở hai bên sân đình cũng thường có miếu thờ ông Hổ, miếu Bà Chúa Xứ, Ngũ hành nương nương… Cuối cùng là nhà kho phía sau bàn thờ thần, nơi lưu giữ tài sản, hiện vật của đình; nhà hội để tiếp quan khách trong các lễ cúng; nhà trù (nhà khói) phục vụ thết đãi quan khách; nội tẩm trưng bày các vật thờ tự, tế lễ, phục vụ khách tham quan trong những ngày lễ hội đình.

 

Nhìn chung, bố cục trong đình người Việt Tây Nam Bộ cơ bản giống nhau, nhưng cũng tuỳ theo các đối tượng thờ cúng trong đình của từng thôn mà xếp đặt các bàn cúng thờ vị này hay vị kia theo quan niệm của từng làng.

 

Kể từ khi triều Nguyễn sắc phong Thành hoàng để đưa đình làng vào hệ thống thần kỳ được thờ cúng của nhà nước thế tục thì đình làng người Việt ở Nam Bộ cũng như cả nước đã trở thành cơ sở nằm giữa hai thiết chế: chính thống và dân gian. Và cũng như đình thần ở Nam Bộ đình làng người Việt miền Tây có nhiều chức năng, vừa là trú sở của các vị thần Thành hoàng và nhiều vị thần khác, vừa là trung tâm hành chính của thôn ấp, vừa là trung tâm văn hoá của địa phương…

 

Những vị thần được thờ phụng: Ở miền Tây Nam Bộ, đình của người Việt thường thờ rất nhiều thần: Thành hoàng, nhiên thần và những nhân thần có công với làng. Cũng như các đình ở Nam Bộ, sự phân loại các vị thần được thờ ở các tỉnh miền Tây có thể phân thành 3 loại như sau: Thành hoàng và phúc thần; 2. Những vị thần linh theo tín ngưỡng dân gian; 3. Sự phối hưởng của nhiều thần linh Khơme, Hoa, kể cả thần linh người Chăm.

 

Đáng chú ý là các danh nhân có công với vùng đất Châu Đốc, có công đánh giặc giữ nước được thờ phụng rất phổ biến như Nguyễn Hữu Cảnh, Thoại Ngọc Hầu, Nguyễn Tri Phương, Phan Thanh Giản… Các danh nhân này được thờ phụng như những thành hoàng của làng Việt ở miền Tây. Trong số 84 đình chúng tôi thống kê được trên đất An Giang nay, hiện có 11 đình thờ danh nhân Nguyễn Hữu Cảnh. Đây là một trường hợp đặc biệt mà ít địa phương ở vùng Nam Bộ có được. Mặc dù trên thực tế, công lao khai phá và trấn giữ  vùng biên thuỳ An Giang thì đóng góp của Thoại Ngọc Hâù là đứng đầu, nhưng chính đền miếu, đình thần thờ Thoại Ngọc Hầu lại ít hơn Nguyễn Hữu Cảnh. Cuối thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XVIII, vùng đất này chưa thuộc chủ quyền chúa Nguyễn. Khi Nguyễn Hữu Cảnh vâng mệnh chúa Nguyễn  đi đánh Nặc Thu (Chân Lạp) vì y đắp luỹ Bích Đôi, Nam Vang và Cầu Đôi, cướp bóc dân buôn Việt. Sau khi thắng giặc, Nguyễn Hữu Cảnh dẹp bọn cướp bóc, vỗ về lưu dân Việt, người dân ở đây đã thờ ông như thờ một người che chở làm ăn cho họ, như đại diện của chính quyền Nguyễn ở vùng đất xa xôi. Trải qua hơn 300 năm qua, nhân dân vẫn còn tri ân ông, những đền miếu thờ ông hương khói vẫn không bao giờ dứt.

 

Nhân vật thứ hai được người Việt thờ phụng nhiều là Thoại Ngọc Hầu. Tại An Giang, có 7 ngôi đình thờ phụng ông, chưa kể các đền miếu ở Thoại Sơn và các nơi khác của miền Tây. Ông là người có nhiều công lao đánh giặc, trấn giữ biên thuỳ, khai phá lập hơn 20 làng, khơi sông Thọai Hà, đào sông Vĩnh Tế, đắp lộ Châu Đốc- núi Sam, làm cầu… Ngoài ra, Nguyễn Trung Trực, Lê Văn Duyệt… là những nhân vật được nhân dân vùng này ghi ơn, thờ phụng sau hai nhân vật trên.

 

- Lễ hội cúng đình: Lễ kỳ yên, là lễ chính của đình, người Việt miền Tây gọi là lễ vía thần, thực chất vừa là cúng thần, vừa là lễ hội nông nghiệp để cầu an, cầu mùa, cầu cho quốc thái dân an, phong điều vũ thuận.

 

Nghi thức cúng lễ kỳ yên ở đình các tỉnh miền Tây phần nhiều tuân theo điển lệ của triều Nguyễn, nên lễ cúng đình ở nơi đây cũng như ở Nam Bộ căn bản giống nhau(3). Những ghi chép của Trịnh Hoài Đức- Hiệp Tổng trấn thành Gia Định về lễ kỳ yên của người Việt Nam Bộ đầu thế kỷ XIX, so với ngày nay không khác nhau mấy: lễ hội thường diễn ra trong 3 ngày, gồm có 3  lễ chính: Túc yết, Đoàn cả (Đàn cả), Tiền hiền - Hậu hiền(4). Những nghi lễ khác như: rước sắc thần, xây chầu - đại bội… là những lễ thức phụng sự 3 lễ chính. Thời gian cúng đình ở miền Tây thường diễn ra từ mồng 10 đến giữa tháng 5 âm lịch. Đây vừa là lễ kỳ yên, vừa cúng thần Nguyễn Hữu Cảnh, kỷ niệm ngày mất của ông như: ở đình Châu Phú – thị xã Châu Đốc, Bình Thuỷ, Mỹ Phước- An Giang; cũng có đình cúng giữa tháng 4 âm lịch như đình Bình Mỹ, Bình Long, Châu Phong…

 

Việc cúng tế được diễn ra nơi trang nghiêm nhất, ở nhà bái đường và chính đường, còn hội thì diễn ra ở nhà võ ca. Vào ngày đầu của lệ cúng, thường có tổ chức lễ nghênh thần, mang ý nghĩa đưa vị thần bảo hộ thăm thôn làng, chứng kiến đời sống sinh hoạt của toàn dân trong làng. Sau khi vị thần này trở về và an vị tại đình thì tiến hành cúng tế theo nghi thức cổ truyền là lễ Túc yết (túc trực- yết kiến). Đúng 1 giờ đêm đầu, mọi người đã tề tựu đông đủ để bắt đầu cúng Túc yết. Chịu trách nhiệm chính của buổi lễ cúng là ông chánh bái, có sự giúp sức của bồi tế. Toàn bộ nghi thức hành lễ đều theo lệnh của hai người chủ xướng đứng hai bên hương án kế cận vị chủ tế. Tất cả lễ nhạc, động tác dâng hương, chước tửu, tiệm trà, đọc văn tế, bái lạy… đều phải theo đúng lời chủ xướng. Những đình làng có sắc phong, như đình Châu Phú ở thị xã Châu Đốc…  thì thêm tục lễ “tuyên sắc” vào giữa đêm đầu tiên. Lễ được tiến hành trong hương trầm nghi ngút, trong tiếng nhạc lễ, có các vị bô lão mặc áo dài, khăn đóng đứng trang nghiêm hai bên bàn thờ thần, mắt hướng về nơi “tuyên sắc” như hồi tưởng lại công lao, sự nghiệp của người có công khai mở đất, xây dựng cuộc sống từ buổi đầu.

 

Lễ vật chính dâng cúng trong lễ Túc yết gồm có một con heo đã mổ xong, (cạo sạch, chưa nấu chín), một chén huyết, một ít lông (gọi chung là mao huyết), xôi, trái cây, trầu cau, một đĩa muối gạo… Bắt đầu vào lễ, ông chánh tế đến dâng lễ trước bàn thờ. Rồi lần lượt, “ban quản trị” thay nhau vào lễ. Kế đến là phần “khởi chinh cổ”. Sau khi đánh 3 hồi trống gỗ và 3 hồi chiêng mõ, ban nhạc lễ với các nhạc cụ dân tộc bắt đầu trỗi lên, lễ dâng hương, chước tửu, tiệm trà bắt đầu. Diễn biến của buổi lễ đều theo sự điều khiển của người xướng lễ. Sau khi dâng   hương, dâng 3 tuần rượu và dâng trà, theo lời của người xướng lễ, bản văn tế (văn chúc) được mang lên trước bàn thờ. Ban tế quỳ xuống “đọc văn” trong khi ban nhạc lễ trỗi nhạc để phụ hoạ cho giọng đọc. Dứt bài văn tế, ông chánh tế nghỉ cúng, hoá văn bản này và một ít giấy tiền vàng, chôn mao huyết (để tế đất). Phần nghi thức Túc yết đến đây coi như đã xong.

 

Lễ Chánh tế (còn gọi là Đoàn cả: đoàn tụ đông đúc hơn cả), mục đích tạ thần. Nghi thức diễn lại như lễ Túc yết, có hơi khác là sau phần dâng trà của lễ Túc yết là phần “ẩm phước thụ tộ” (uống rượu và ăn thịt) mang ý nghĩa nhận lộc do thần ban cho vị chánh tế.

 

Lễ Tiền hiền - Hậu hiền, nhằm tạ ơn các vị tiền hiền, hậu hiền và các nhân thần có công với làng, với đình. Lễ này ngày xưa diễn ta trong ngày thứ ba. Hiện nay, lễ này được làm trong ngày thứ hai, sau lễ Đoàn cả. Nghi thức đơn giản hơn lễ Túc yết, nhưng cũng rất long trọng. Trong nghi thức cúng tế này có xây chầu hát bội. Được tổ chức tại võ ca phía trước chính điện. Những người tham dự ăn mặc chỉnh tề, xếp thành hai hàng đứng từ cửa chính điện trở ra. Trên gian võ ca tất cả diễn viên đoàn hát bội hoá trang, trống mõ sẵn sàng. Ông chánh bái ca công (chủ trì lễ xây chầu) nhúng cành dương vào tộ nước cầm trên tay vẩy lên và đọc lời cầu nguyện: Nhất, sái thiên thanh (thứ nhất, vãi nước lên trời xanh, cầu cho mưa thuận gió hoà). Nhị, sái địa ninh (thứ nhì, vãi nước xuống mặt đất, cầu cho đất đai phì nhiêu). Tam, sái nhơn trường (thứ ba, vãi nước cho loài người, cầu cho dân gian được trường thọ). Tứ, sái quỷ diệt hình (thứ tư, vãi nước vào loài quỷ dữ, cầu cho chúng bị tiêu diệt)(5).

 

Đọc xong, ông chánh bái đánh ba hồi trống. Sau đó, đến chương trình của đoàn hát bội, diễn xuất các vai tuồng xưa.

 

Như vậy, lễ cúng đình ở miền Tây Nam Bộ thực chất là một lễ kỳ yên, vì động tác của ông chánh bái là động tác của một thầy pháp, động tác ma thuật nhằm cầu mưa.

 

Sau phần lễ là phần hội, phần sôi động nhất của lễ cúng đình. Đó là lễ hội cổ truyền thấm nhuần tinh thần cộng cảm không thể thiếu được trong đời sống thôn dã sau những ngày tháng lao động mệt nhọc, trong khung cảnh làng quê thanh bình trật tự. Cư dân đến với lễ hội cúng đình trước hết để tỏ lòng tôn kính và biết ơn các vị phúc thần và các bậc tiền nhân có công khai phá, mở làng để lại cơ nghiệp cho con cháu, đồng thời cũng là dịp biểu thị ý thức tôn trọng văn hoá của dân tộc, hưởng thụ hình thái sinh hoạt cộng đồng vốn có nhiều gắn bó với phong tục tập quán, tín ngưỡng dân gian mà mỗi năm chỉ diễn ra có một lần.

 

Mặc dù ở vùng đất mới khai phá, hệ thống thần linh được thờ phụng và kiến trúc đình làng có những biến đổi so với đồng bằng sông Hồng, dẫn đến sự khác biệt ở nhiều chi tiết, khác trong việc rước và trò diễn có liên quan… Tuy nhiên, lễ hội cúng đình của người Việt miền Tây vẫn bảo lưu khá đậm nét những đặc điểm và ý nghĩa của một lễ hội nông nghiệp cổ truyền. Hội làng, lễ cúng đình trước hết liên quan đến sản xuất mùa vụ, nguồn sống quan trọng của cư dân Việt, đó là những nghi thức lễ tiết nông nghiệp cầu mùa, đánh cồng chiêng cầu sinh sôi nảy nở, đánh trống cầu mưa…, sau đó có cả cách cầu khẩn sự viện trợ của thần linh. Đình làng gắn với đời sống tín ngưỡng, được xây dựng không chỉ phản ánh nhu cầu tự nhiên của cư dân để có nơi thờ cúng, sinh hoạt mà còn là sự bày tỏ lòng thành kính, ngưỡng vọng thiêng liêng, tôn thờ, nhắc nhở tổ tiên, anh hùng có công và thần linh cũng là một mục đích của hội làng. Lễ hội cúng đình cũng xuất phát từ nhu cầu giải toả những uẩn khúc trong đời sống, đáp ứng nhu cầu tâm linh của cộng đồng.

 

Lễ hội cúng đình của người Việt cũng có ý nghĩa đặc biệt là giáo dục cho các thế hệ trong làng những bài học đạo đức quan trọng, trong đó nổi lên hàng đầu là củng cố mối dây liên lạc thiêng liêng giữa tất cả các thành viên trong cộng đồng, giáo dục truyền thống để truyền bá tinh thần cộng đồng làng xã, tạo ra sức mạnh đặc biệt, có khả năng cố kết, ràng buộc mọi người với nhau. Vì vậy, cùng với quá trình nắm làng xã ngày thêm một chặt của nhà nước và để có thể xác lập quyền lực tối cao trong đời sống tôn giáo làng mạc, nhà nước phong kiến xưa thấy mình phải có trách nhiệm xem hội làng như một yếu tố biểu hiện quan trọng của văn hoá dân tộc, đồng thời cũng tranh thủ lợi dụng hội làng để củng cố quyền uy, quyền lợi của mình, thông qua nắm thành hoàng làng mà nắm lấy các làng xã, quản lý thần dân và chủ quyền của nhà nước, nhất là ở những vùng biên giới phức tạp thường xảy ra tranh chấp lãnh thổ và chủ quyền quốc gia như vùng đất Tây Nam.

 

Lễ cúng đình của người Việt miền Tây Nam Bộ đã góp phần tạo nên một sinh hoạt văn hoá, xã hội riêng của người Việt so với tộc người khác như Khơme, Hoa, Chăm… cùng cộng cư ở khu vực này, giúp cho cuộc đấu tranh bảo vệ lãnh thổ, văn hoá tộc người, là một vũ khí văn hoá, một bản lĩnh văn hoá để cho cộng đồng người Việt xưa cũng như nay trụ vững và tồn tại ở vùng đất biên cương hiểm yếu này.

 

 TS. Cao Thanh Tân

Tin tức khác

Zalo phone Hotline