Ngày 07/08/20212617
Lũng Cú- vùng đất địa đầu cực Bắc thiêng liêng của Tổ quốc. Nếu ai đó đã một lần đặt chân đến Hà Giang, đến với Cao nguyên đá Đồng Văn, thăm cột cờ Lũng Cú, đỉnh "chóp nón" núi Rồng đầy kiêu hãnh, chắc hẳn không thể quên vẻ đẹp thiên nhiên của núi đá trập trùng, mây trời hòa quyện làm say mê lòng người. Ngày đêm, những chiến sỹ biên phòng Lũng Cú quyết tâm bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, bảo vệ cột cờ Lũng Cú, giữ cho sắc cờ trên đỉnh núi Rồng lúc nào cũng đỏ tươi, bởi đó là hồn thiêng sông núi của Tổ quốc.
Cao nguyên Đồng Văn là một trong bảy huyện biên giới của tỉnh Hà Giang, nơi sinh sống lâu đời của đồng bào dân tộc H’mông và Lô Lô, địa hình nhiều núi đá đan xen. Đến Hà Giang mà chưa đến Lũng Cú thì coi như chưa đến , bởi Lũng Cú là "nóc nhà của Việt Nam".
Lần theo lịch sử, tên gọi Lũng Cú có nhiều cách giải thích khác nhau: Có giả thiết cho rằng Lũng Cú là cách đọc trệch âm từ Long Cư (nơi rồng ở hay động của rồng), cũng có giả thiết cho rằng Lũng Cú là tên người đứng đầu một dòng họ dân tộc Lô Lô, có công khẩn hoang, gìn giữ và phát triển vùng đất. Tuy nhiên đa phần các nhà khoa học khẳng định Lũng Cú bắt đầu từ chữ Long Cổ (Long: rồng, Cổ: trống) nghĩa là trống rồng. Thời Tây Sơn, sau khi đại thắng quân xâm lược, Hoàng đế Quang Trung đã cho đặt một chiếc trống rất to ở trạm gác vùng biên ải hiểm trở này. Cứ mỗi canh tiếng trống lại vang lên ba hồi đĩnh đạc, vang xa mấy dặm, như một sự khẳng định chủ quyền đất nước. Lúc bấy giờ tiếng trống là phương tiện thông tin nhanh nhất. Chính vì vậy, Lũng Cú khi đọc chệch âm sang tiếng H’mông là Long Cổ, tức là trống của nhà vua. Người ta cho rằng, nơi đặt chiếc trống của nhà vua là Trạm Biên phòng tiền tiêu Lũng Cú hiện nay.
Tháng 10 năm 1978, Đồn Công an nhân dân vũ trang Lũng Cú (phiên hiệu Đồn 161) được thành lập, với quân số 45 đồng chí, hoạt động dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của chi ủy, chi bộ đồn đã lập được nhiều thành tích xuất sắc trong nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền lãnh thổ. Để đáp ứng tình hình, nhiệm vụ mới, năm 1990, Bộ Nội vụ ra quyết định điều chỉnh bố trí lại lực lượng Bộ đội Biên phòng trên tuyến biên giới phía Bắc, Đồn Biên phòng Lũng Táo giải thể và nhập vào đồn Biên phòng Lũng Cú lấy tên gọi là Đồn Biên phòng Lũng Cú (phiên hiệu Đồn 169). Đồn Biên phòng Lũng Cú có nhiệm vụ quản lý, bảo vệ 25,5km đường biên giới (trong đó có 08km đường biên giới trên sông, còn lại là đường biên giới trên đất liền) với tổng số 26 cột mốc từ mốc 411 đến mốc 428, quản lý địa bàn 02 xã Ma Lé và Lũng Cú, huyện Đồng Văn.
Đồn Biên phòng Lũng Cú đứng chân tại xã Ma Lé, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang, địa điểm cực Bắc của Tổ quốc Việt Nam. Phía Bắc, phía Đông, phía Tây giáp với huyện Phú Ninh và Malypho, tỉnh Vân Nam, nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa; phía Nam giáp với xã Lũng Táo và thị trấn Đồng Văn, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang. Diện tích của 02 xã Ma Lé và Lũng Cú là 5.000ha, trong đó diện tích núi đá chiếm 73,49%; địa hình chủ yếu là núi cao, chia cắt nên tính chất khí hậu khắc nghiệt, chia làm hai mùa rõ rệt. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, vào mùa này thường có mưa lớn gây sạt lở đường, ách tắc giao thông, đi lại khó khăn. Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, nhiệt độ xuống thấp và thường có sương mù dày đặc, hạn chế tầm nhìn, tầm quan sát. Ở một vài khu vực tiểu vùng, nhiệt độ có lúc xuống tới 2 đến 30C. Thời tiết khắc nghiệt vào mùa đông, tháng 11 và tháng 12 nhiều ngày có tuyết và sương muối phủ, mùa đông ít mưa, khí hậu khô hanh. Địa hình kiến tạo núi đá vôi, rừng nguyên sinh cạn kiệt làm khan hiếm nguồn nước sinh hoạt và sản xuất, gây khó khăn cho cuộc sống của con người nơi đây. Tuy nhiên, địa hình chủ yếu là núi đá đã góp phần không nhỏ làm cho cao nguyên đá Đồng Văn càng trở nên hùng vĩ. Vào ngày 01/7/2010, đoàn khảo sát của tổ chức UNESCO tại Việt Nam đã lên địa bàn 4 huyện vùng cao núi đá phía Bắc tỉnh Hà Giang gồm huyện Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn, Mèo Vạc (trong đó có xã Lũng Cú, huyện Đồng Văn) tiến hành khảo sát về địa chất cao nguyên đá Đồng Văn để trình tổ chức UNESCO công nhận cao nguyên đá Đồng Văn là Công viên địa chất toàn cầu.
Về thủy hệ, địa bàn đồn đứng chân có sông Nho Quế bắt nguồn từ các dãy núi phía Tây Bắc thuộc Trung Quốc chảy vào phía Bắc đỉnh Lũng Cú tạo thành sông biên giới qua địa phận huyện Mèo Vạc và huyện Bắc Mê hợp lưu với các nhánh sông khác thành sông Gâm. Sông Nho Quế là nguồn sinh thủy quan trọng trong phát triển thủy điện cũng như nước sinh hoạt và điều hòa khí hậu. Mùa hè đi trên quốc lộ 4C đoạn qua huyện Đồng Văn, Mèo Vạc nhìn xuống sông Nho Quế uốn lượn như một con rồng, mùa đông trên mặt sông đầy ắp sương mù đã mang lại cho huyện Đồng Văn những thắng cảnh thiên nhiên vừa hùng vĩ, vừa thơ mộng.
Nói đến đặc điểm tự nhiên vùng biên cương núi đá Đồng Văn, chúng ta không thể không nói đến cột cờ Lũng Cú cao 29,5m với lá cờ rộng 54m2, đại diện cho 54 dân tộc anh em hiên ngang trên đỉnh núi Rồng, nơi cực Bắc địa đầu của Tổ quốc. Nơi đây, đi từ xóm Séo Lủng ra khu vực Tìa Mông, xóm Cẳng Tằng, xã Lũng Cú là điểm nhô ra xa nhất của cực Bắc và cùng là một trong những nơi có thắng cảnh đẹp của huyện Đồng Văn.
Khi nói đến điều kiện tự nhiên của hai xã Lũng Cú, Ma Lé thuộc địa bàn đồn Lũng Cú quản lý, chúng ta hình dung ra một vùng biên cương núi non hùng vĩ với địa hình núi non hiểm trở, phức tạp, đường sá quanh co, khí hậu khắc nghiệt. Những khó khăn và gian khổ không làm sờn lòng mà càng hun đúc, khẳng định sức sống mãnh liệt của con người nơi địa đầu cực Bắc của Tổ quốc.
Đồng bào dân tộc ở hai xã Ma Lé, Lũng Cú thuộc địa bàn Đồn Biên phòng Lũng Cú phụ trách chủ yếu sống ở vùng núi cao nên nguồn sống chính là làm nương, rẫy, trồng lúa nước nhưng không nhiều. Do ít đất canh tác nên ý thức xen canh, tăng vụ và kỹ thuật làm đất của đồng bào đã trở thành nền nếp từ xưa đến nay. Cây ngô là lương thực chính của đồng bào, ngoài ra còn trồng các cây lương thực khác như: lúa, khoai, su su, đậu tương… Nếu như trước đây, đồng bào chỉ trồng một vụ ngô là chính, ngày nay áp dụng các thành tựu của khoa học kỹ thuật bà con đã phá thế độc canh chuyển sang làm 2, 3 vụ trong một năm. Xen giữa các hốc ngô bà con trồng thêm các loại rau, đậu. Việc trồng xen canh đã trở thành tập quán, không chỉ để có thêm lương thực, thực phẩm mà còn góp phần cải tạo đất sản xuất. Do đặc điểm khí hậu và thổ nhưỡng thuận lợi nên đồng bào nơi đây còn trồng được nhiều cây dược liệu có giá trị như: đỗ trọng, tam thất, huyền sâm, xuyên khung và nhiều loại cây ăn quả như: mận, đào, lê, táo… Đặc biệt, cây lanh được đồng bào chú trọng, bởi sợi lanh dùng để dệt vải, may váy, áo, khăn, địu. Người H’mông quan niệm, người chết phải mặc quần áo bằng vải lanh thì tổ tiên mới nhận ra. Chăn nuôi khá phát triển với các loài vật: bò, ngựa, dê, lợn, gà…để lấy thịt và sức kéo. Ngoài chăn nuôi, làm nương rẫy, các nghề thủ công truyền thống nơi đây cũng hết sức đa dạng và phong phú như: đan đồ nan, làm đồ da ngựa, đồ gỗ, dệt vải… Nghề thủ công được đồng bào làm vào những lúc nông nhàn.
Xưa kia Đồng văn là tổng Đông Quan, thuộc châu Bình Nguyên, phủ Tương Yên, tỉnh Tuyên Quang, sau đó thuộc về châu Bảo Lạc, do một thổ quan người Tày, họ Nông ở Bảo Lạc cai quản như một lãnh địa. Khi thực dân Pháp xâm lược, chúng tách Đồng Văn ra khỏi Bảo Lạc. Dưới thời Pháp thuộc, toàn bộ phủ Tương Yên trong đó có tổng Đông Quan được đặt trong đạo quan binh thứ hai Hà Giang.
Cộng đồng các dân tộc hai xã Ma Lé, Lũng Cú thuộc địa bàn Đồn Biên phòng Lũng Cú quản lý gồm 5 dân tộc sinh sống, đó là: H’mông, Tày, Lô Lô, Pu Péo, Giáy; Đồng bào dân tộc H’mông chiếm trên 70% dân số với 21 thôn, bản, trong đó có 13 thôn, bản giáp biên giới; mật độ cư trú thưa thớt rải rác ở các thung lũng hai bên bờ suối và trên các triền núi cao. Đồng bào các dân tộc nơi đây đoàn kết mật thiết với nhau để chống thiên tai, địch họa. Đời sống văn hóa của các dân tộc vùng này có những nét riêng biệt. Nơi đây là xứ sở của chè slam, rượu mật ong và thắng cố, biểu hiện cho bản sắc văn hóa truyền thống của các tộc người Hmông, Lô Lô, Giáy; xứ sở của đào, mai, hoa lê, tuyết trắng vào mùa xuân và tưng bừng trong các buổi chợ phiên. Trải qua bao biến cố lịch sử, nhưng đồng bào các dân tộc ở hai xã Ma Lé, Lũng Cú vẫn giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa, phong tục tập quán lâu đời, khẳng định sự trường tồn của dân tộc trong quá trình hình thành và phát triển như: trống đồng Lô Lô, trống đồng Pu Péo, tiếng khèn của dân tộc H’mông, các làn điệu dân ca của dân tộc Tày, Dao, Giáy… Bên cạnh những nét riêng biệt mang tính bản địa, trong quá trình giao tiếp văn hóa các dân tộc có sự đan xen, cộng sinh càng tăng thêm vẻ đẹp phong phú, đa dạng cùng tồn tại và phát triển trong nền văn hóa truyền thống cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Yếu tố văn hóa cộng đồng qua thời gian được được gạn đục, khơi trong, phát huy và bảo tồn lưu giữ. Điều đó giải thích tại sao trước âm mưu thôn tính, đồng hóa của các thế lực xâm lược hàng nghìn năm trước đây, bản sắc văn hóa Việt nam vẫn đậm đà sức sống không thể khuất phục . Sinh sống và tồn tại ở vùng cực Bắc của Tổ quốc, đồng bào các dân tộc nơi đây luôn có ý thức cộng đồng sâu sắc, hình thành những đức tính quý báu, đó là: thật thà, cần cù, chịu khó, tự trọng, yêu tự do, yêu độc lập, yêu quê hương đất nước. Nhờ đó đã tạo nên sức sống mãnh liệt, của miền quê địa đầu Tổ quốc
Đồn Biên phòng Lũng Cú là đơn vị có bề dày lịch sử. Phát huy truyền thống của quê hương biên giới, từ khi thành lập đến nay, trong quá trình chiến đấu, xây dựng và trưởng thành, lớp lớp cán bộ, chiến sỹ Đồn Biên phòng Lũng Cú luôn nêu cao tinh thần, trách nhiệm, không quản ngại khó khăn, gian khổ, vận dụng và kết hợp chặt chẽ các biện pháp công tác biên phòng, phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền địa phương, gắn bó máu thịt với đồng bào các dân tộc, đấu tranh với các loại đối tượng, bảo vệ tuyệt đối chủ quyền lãnh thổ, giữ vững ổn định chính trị, an ninh trật tự ở khu vực biên giới; giữ gìn tình đoàn kết hữu nghị với nhân dân nước láng giềng, góp phần quan trọng trong thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, phục vụ có hiệu quả sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước./.
(Nguồn BCHBP Hà Giang)