Ngày 12/08/20211896
Sông Hồng là dòng sông lớn nhất ở Bắc Việt Nam có vai trò đặc biệt trong tiến trình lịch sử. Có thể coi sông Hồng là một dòng chảy văn hóa, nơi hội tụ và lan tỏa các luồng văn hóa, từ vùng cao chảy vào các thung lũng, vươn tới đồng bằng châu thổ tiến ra biển Đông, góp phần tạo dựng nền Văn minh Sông Hồng trên giang sơn đất Việt. Trong các diễn đàn giao lưu văn hóa lưu vực sông Hồng trước đây, nhiều học giả đã khẳng định quá trình giao lưu kinh tế văn hóa lưu vực sông Hồng diễn ra từ khá sớm và đặt vấn đề bảo vệ dòng sông mẹ trước yêu cầu phát triển bền vững, vì quyền lợi của các quốc gia dân tộc trước yêu cầu giao thoa và hội nhập.
Là một trong những quốc gia ở khu vực Đông Nam Á nhưng Việt Nam lại là quốc gia có mối quan hệ lịch sử với Trung Quốc trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là về văn hoá .Không phải ngẫu nhiên mà nhiều nhà nghiên cứu thường nói tới Việt Nam trong mối quan hệ với các quốc gia Đông Nam Á và Đông Bắc Á và coi văn hoá Việt Nam đồng thời/vừa là thuộc cả hai nền văn hoá ấy. Trong các mối quan hệ đó, không thể không nói tới mối quan hệ văn hoá tộc người ở vùng biên viễn. Khu vực các tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam, ngoài tộc người Kinh (Việt) còn có trên 20 tộc người thiểu số anh em. Trải qua nhiều thế kỷ các tộc người ở khu vực này đó gắn bó với nhau tạo nên quá trình giao thoa văn hoá hết sức đa dạng với các tộc người ở vùng bên kia biên giới của nước cộng hoà nhân dân Trung Hoa.
1. Vùng biên giới Việt Nam - Trung Quốc dưới góc nhìn địa lý - tộc người
Từ thế kỷ thứ X, Việt Nam là quốc gia có nền độc lập tự chủ và đường biên giới trên đất liền ở phía Bắc được xác định về đại thể từ tỉnh Điện Biên cho đến Quảng Ninh ngày nay. Mặc dù vấn đề biên giới lãnh thổ đã và đang được các quốc gia tiến hành giải quyết từng bước qua nhiều thế kỷ, đặc biệt trong vài thập kỷ gần đây, nhưng do vị trí địa lý thuận lợi, vùng biên giới phía Bắc đã, đang và sẽ là vùng giao lưu kinh tế - văn hoá giữa các tộc người thuộc hai quốc gia: Việt Nam và Trung Quốc trong một không gian văn hoá có không ít tương đồng về địa lý, tộc người và lịch sử (Bắc Việt Nam và Nam Trung Hoa). Chúng tôi tạm gọi đây là không gian văn hóa hay vùng văn hóa (một cách tương đối) được hình thành trước khi biên giới quốc gia được phân định. Nhìn từ cội nguồn có thể coi đây là không gian văn hóa Đông Nam Á trước khi bị ảnh hưởng của các yếu tố văn hóa Hán.
Vùng biên giới phía Bắc Việt Nam là một bộ phận lãnh thổ trọng yếu của Tổ quốc Việt Nam thống nhất, đồng thời là cửa ngõ của con đường bộ từ phía Bắc hướng xuống vùng Đông Nam Á và từ phía Tây khai thông ra biển Thái Bình dương cả đường bộ, đường sông và sau này là hệ thống đường sắt được xây dựng từ thời thuộc Pháp.
Vùng biên giới Việt Nam - Trung Quốc trên đất liền tiếp giáp với các tỉnh Vân Nam, Quảng Tây, vốn là vùng đất thuộc khối Bách Việt trong lịch sử, tính từ A Pa Chải của huyện Mường Tè (Lai Châu) đến Móng Cái (Quảng Ninh ) có chiều dài trên 1400km đi qua lãnh thổ của 33 huyện và 152 xã thuộc 7 tỉnh Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn và Quảng Ninh. Tổng cộng các tỉnh trên có diện tích chiếm 1/6 diện tích cả nước. Xét về cảnh quan địa lý, vùng biên giới phía Bắc Việt Nam là khu vực có nhiều đỉnh núi cao và cao nguyên. Tuy địa hình đa dạng, phức tạp nhưng nhìn chung đây là khu vực có khí hậu á nhiệt đới.
Hệ thống những dòng sông, dải núi ở Tây Bắc và Đông Bắc Việt Nam có đặc điểm nổi bật là sự nối dài của các dòng sông, dải núi vùng Vân Nam, Quý Châu, Quảng Tây tạo nên một dải liền mạch về địa lý “núi liền núi, sông liền sông’’ mà chúng ta thường nhắc đến trong thời hiện đại. Tuy nhiên như trên đã nói, Việt Nam do các điều kiện địa lý, xét về cội nguồn thuộc văn hóa Đông Nam Á. Điều này cũng có tính tương đồng với nhiều tộc người ở vùng nam Trung Quốc. Và do đó về mặt lịch sử, tại khu vực này đã hình thành nên một không gian “ phi Hán’. Tất nhiên điều đó là thực tế khi nhìn nhận dưới góc độ lịch đại.
Trải qua nhiều thế kỷ, vùng biên giới phía Bắc đã được các triều đại phong kiến Việt Nam sắp đặt diên cách với nhiều tên gọi khác nhau gắn liền với yêu cầu xác lập chủ quyền, củng cố lãnh thổ quốc gia.
Vì thế, mặc dù có sự tác động nhiều chiều bởi mối quan hệ quốc gia và khu vực, nhưng trên thực tế sự giao thoa văn hóa vẫn diễn ra như là một yếu tố mang tính liên tục tại khu vực này trong trường kỳ lịch sử.
Trên địa bàn các tỉnh vùng biên giới từ rất sớm đã là nơi hội tụ của nhiều lớp cư dân .Trong tiến trình phát triển, vùng biên giới phía Bắc Việt Nam, ngoài lớp cư dân bản địa có mặt từ rất sớm, trong không gian văn hoá này đã tiếp nhận nhiều luồng cư dân từ các quốc gia láng giềng mà trước hết là từ Trung Quốc.
Theo phân loại của các nhà dân tộc học Việt Nam hiện nay và theo tài liệu thống kê, ở 6 tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam hiện nay có 19 tộc người chủ yếu thuộc các nhóm ngôn ngữ: Việt - Mường (Việt và Mường), Thái (Tày, Thái, Nùng, Giáy, Sán Chay, Lào, Lự, Bố Y); Hmông - Dao hay Hmông Miền (Miêu - Dao) - Hmông, Dao và Pà thẻn); Tạng - Miến (Hà Nhì, La Hủ, Phù Lá, Lô Lô, Cống, Si La) với nhiều nhóm địa phương. Ở đây chúng tôi không bàn đến các tiêu chí phân loại tộc người ở Việt Nam cũng như Trung Quốc bởi tình hình cụ thể của mỗi quốc gia có những nét tương đồng cũng như dị biệt và do đó mỗi quốc gia có thể đưa ra các tiêu chí phân loại khác nhau phù hợp với yêu cầu thực tiễn của mỗi quốc gia. Vì vậy, số lượng thành phần tộc người tùy thuộc vào hệ tiêu chí mà mỗi quốc gia xác định. Trên thực tại, nhiều tộc người được xác định ở Việt Nam nhưng lại được coi là một nhóm địa phương ở Trung Quốc. Việc xác định thành phần tộc người phụ thuộc vào đặc điểm dân tộc của từng quốc gia trên cơ sở xác định các tiêu chí phản ánh các đặc trưng đó. Theo đó, ở Trung Quốc hiện nay không đặt vấn đề xác định lại thành phần dân tộc; trong khi đó xuất phát từ điều kiện cụ thể ở Việt Nam, vấn đề này đang được đặt ra. Tôi đã có dịp trình bày vấn đề này tại Đại hội Dân tộc học và Nhân học quốc tế tại Côn Minh lần thứ 16, tháng 8-2009.
Sự phân bố dân cư - tộc người của 3 nhóm ngôn ngữ trên đây ở các tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam có đặc điểm chung là sự cư trú đan xen, tuy mức độ xen kẽ ở từng vùng có khác nhau. Cho đến thời điểm hiện nay, không có một vùng nào như tỉnh, huyện, xã chỉ có một tộc người cư trú. Điều này chỉ có thể thấy ở một số ít thôn, bản. Tuy nhiên tính quần cư của các tộc người ở các tỉnh biên giới cũng có những sắc thái khác nhau, liên quan đến môi trường địa lý, lịch sử tộc người và số lượng cư dân. Các tộc người định cư có truyền thống làm ruộng nước lâu đời trên các thung lũng rộng thì làng bản của họ khá đông đúc ( nhóm Tày - Thái ), trong khi đó nhiều tộc người di cư tới sau này phải sinh sống ở lưng chừng các đỉnh núi cao như các dân tộc Hmông - Dao, Tạng Miến thì sự quần cư thưa hơn và do đó tạo nên các sắc thái văn hoá đa dạng.
2. Vùng biên giới Việt Nam - Trung Quốc và giao lưu văn hoá dân tộc
Giao lưu văn hoá là nhu cầu tất yếu và tồn tại khách quan trong đời sống các tộc người ở mọi khu vực và mọi quốc gia. Khi nói đến giao lưu văn hoá các tộc người ở vùng biên giới không thể không nói đến sự tác động từ vạch phân biên giới được xác định bởi ý chí và chủ quyền quốc gia nhưng một mặt khác sự giao lưu văn hoá tộc người lại là sự giao lưu vượt qua biên giới hay “phi biên giới’’, xuyên biên giới.
Xét một cách tổng thể, có thể thấy quá trình giao lưu văn hoá dân tộc ở vùng biên giới diễn ra thông qua nhiều chiều cạnh một cách đa tuyến như: Tiếp xúc và giao lưu quốc gia thông qua các tộc người đa số; tiếp xúc và giao lưu liên đồng tộc người bởi mối quan hệ xuyên quốc gia; tiếp xúc và giao lưu giữa các tộc người vùng biên giới cùng cộng cư. Tiếp xúc và giao lưu thông qua hệ thống thương mại đường bộ, đường thủy, đường sắt... Và đương nhiên khi xem xét vấn đề này không thể không xem xét dưới góc nhìn lịch đại và đồng đại. Ở vùng biên giới Việt Nam - Trung Quốc, mối quan hệ này vốn có những đặc thù bởi tính liên tộc người và quá trình tộc người quy định. Theo chúng tôi, sự giao lưu văn hoá dân tộc ở khu vực này được thể hiện trên một số khía cạnh sau đây:
- Giao lưu từ những miền ký ức lịch sử
Như trên đó núi, trong không gian văn hoá vùng bắc Việt Nam và nam Trung Quốc từ rất sớm đó diễn ra các quá trình tộc người ở nhiều thời điểm và quy mô khác nhau. Xu hướng chung của quá trình này là sự thiên di của các luồng cư dân từ nam Trung Quốc vào Việt Nam (về sau cũng diễn ra quá trình di cư ngược lại) và trải qua hàng thế kỷ, thậm chí thiên niên kỷ, điều đó vẫn còn được thể hiện qua những miền ký ức lịch sử của một số tộc người hay nhóm địa phương tộc người.
Hiện nay, các tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (hoặc Choang - Đồng ở Trung Quốc) có khoảng 100 triệu người, phân bố trên một địa bàn rộng lớn ở Đông Nam lục địa châu Á. Trên đại thể, các tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ này có thể thấy qua hai ngành Đông và Tây mà ở Việt Nam tương ứng với 2 vùng Việt Bắc và Đông Bắc. Một bộ phận người Thái (trừ bộ phận Thái cổ hay Tày cổ) và các tộc người như Nùng, Giáy ... vẫn còn lưu giữ trong ký ức về cội nguồn ban đầu của mình qua các cuộc chuyển cư. Điều này cũng được ghi lại trong các nguồn thư tịch cổ và trong truyền thuyết dân gian. Truyền thuyết của một bộ phận người Thái kể rằng, quê hương của tổ tiên xưa là miền 9 con sông gặp nhau. Chín con sông đó là Nậm Tao (sông Hồng), Nậm Ta (sông Đà), Nậm Ma (sông Mó), Nậm Công, Mậm U, Nậm Nua, Nậm Na và hai con sông nữa ở Trung Quốc chưa xác định được. Điều này cũng được phản ánh trong tập sử thi Quắm tố mường (Kể chuyện bản mường) với các khu vực mà tổ tiên xó xưa của họ từng sinh sống như: Mường Ôm, Mường Ai, Mường Lũ, Mường Hỏ, Mường Bo Tè, Mường Óc, Mường Ác, Mường Tum Hoàng, Mường Then... Đó là những địa danh phân bố trên một khu vực rông lớn từ Vân Nam - Trung Quốc cho đến miền Tây Bắc Việt Nam).
Có thể thấy, cho đến hiện nay,cộng đồng Thái ở tỉnh Lai Châu cùng với vùng Thái ở Giang Thành, Nguyên Giang dọc sông Hồng thuộc Vân Nam Trung Quốc liền thành một dải cùng địa bàn phân cư của tộc người Thái phía đông. Theo truyện cổ của người Thái đen, hai anh em Tạo Xuông, Tạo Ngần thuộc dòng dõi đất Tung Hoàng xưa, đã dẫn các hộ thuộc nội tộc ra đi, xuôi sông Hồng đến Mường Min (Văn Chấn) rồi vào Mường Lò. Sau gần hai hoặc ba đời cư trú ở đất Mường Lò và miền hữu ngạn sông Thao, dưới sự chỉ huy của Lò Lạng Chượng, người Thái đen đã phát triển sâu vào vùng Tây Bắc và cả vùng đất Lào... Ký ức về vùng đất cựu quán vẫn còn đọng trong tâm thức chính là sự phản ánh của quá trình giao lưu văn hoá.
Về mối quan hệ này, có thể lấy người Nùng ở Việt Nam làm ví dụ. Người Nùng vốn có mối quan hệ chặt chẽ với các cư dân đồng tộc ở vùng Nam Trung Quốc trong lịch sử và đã có mặt ở Việt Nam từ trước khi đường biên giới được xác lập rõ ràng. Sau khi biên giới được phận định và kiểm soát chặt chẽ, một bộ phận người Nùng ở Việt Nam đã hoà nhập vào cộng đồng Tày giống như một bộ phận người Việt. Các tài liệu thư tịch và tài liệu điền dã cho ta biết người Nùng ở Việt Nam hiện nay có quá trình thiên cư khoảng 300 - 400 năm và thậm chí cách đây không xa và vẫn giữ được quan hệ thân thuộc với những bộ phận ở bên kia biên giới .
Lê Quý Đôn, một tác giả Việt Nam thế kỷ XVIII đã ghi chép về sự có mặt của người Nùng ở Việt Nam như sau: “Giống người Nùng đều là người 12 thổ châu ở Tiểu Trấn Yên, Quy Thuận, Long Châu, Điền Châu, Phù Châu, Thái Bình, Lôi Tử Thành và Hướng Vũ thuộc Trung Quốc làm nghề cày cấy, trồng trọt cùng chịu thuế khoá, dao dịch, mặc áo vằn vai xanh, cắt tóc, trắng răng, có người trú ngụ đó đến vài ba đời, đổi theo tập tục người Nam, quan bản thổ thường cấp cho họ một số ruộng làm khẩu phần, bắt họ chịu binh suất. Các xứ Lạng Sơn, Cao Bằng và Thái Nguyên đều có giống người này.
Ở Việt Nam, căn cứ vào đặc điểm văn hoá và tên goi của các nhóm Nùng, các nhà nghiên cứu chia thành nhiều ngành, trong đó phần lớn tên gọi gắn liền với nơi cư trú trước khi họ di chuyển đến như:
- Nùng Inh, di cư từ Long Anh đến
- Nùng Phàn slình, di cư từ Vạn Thành đến
- Nùng Cháo, di cư từ Long Châu đến
- Nùng An từ An Kết đến
- Nùng Quý Rịn , di cư từ Quy Thuận đến
- Nùng Lòi di cư từ Hạ Lôi đến
Ngoài ra, còn một số nhóm địa phương và tên gọi chưa xác định được. Các địa danh này đều gắn liền với các địa phương thuộc tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây.
Cũng như vậy, người Giáy tập trung ở tỉnh Lào Cai, Yên Bái - Việt Nam cũng nhớ rõ ký ức về nguồn gốc lịch sử với người Sa trong cộng đồng Choang. Họ tới Việt Nam khoảng 200 - 300 năm nay để tìm đất canh tác mới, tránh sự áp bức bóc lột của giai cấp thống trị. Người Bố Y là tộc người có lịch sử lâu đời, có quan hệ nguồn gốc lịch sử với các tộc ngôn ngữ Choang - Đồng. Vào nửa đầu thế kỷ XIX, một bộ phận người Quý Châu đã rời bỏ Quý Châu thiên di xuống phía Nam thuộc Quảng Tây và từ đây, một bộ phận theo sông Nhiệm vào vùng Quản Bạ (Hà Giang); một bộ phận thiên di dần xuống Vân Nam và từ đó chuyển cư sang tỉnh Lào Cai cách ngày nay khoảng hơn 100 năm.
Ký ức lịch sử cũng dễ dàng nhận biết đối với các tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Hmông - Dao (Miêu - Dao). Ở đây chúng tôi không bàn đến nguồn gốc tộc người mà chỉ thông qua ký ức lịch sử để đề cập đến mối quan hệ lịch sử và văn hoá giữa các tộc người thông qua ngả đường biên giới. Người Hmông ở Việt Nam thường nhắc đến tổ tiên của họ di cư sang sinh sống ở Việt Nam để tìm kế sinh nhai và để tránh sự áp bức bóc lột hà khắc của triều đình phong kiến sau mỗi cuộc khởi nghĩa. Xưa kia đồng bào Hmông ở Đồng Văn (Hà Giang) còn lưu truyền một bài ca, kể rằng: “Quý Châu là quê hương yêu dấu của đồng bào ta. Thuở nhỏ đấy là chỗ dân Mèo (tên gọi người Hmông ở Việt Nam trước đây) ta ở. Vì người Mèo ta đói rách, vì người Mèo ta không có chữ nên phải dời quê hương .
Cho đến hiện nay, người Hmông ở khu vực này trong tang lễ còn có nghi thức tượng trưng chống trả quân giặc đến quấy phá và vì thế quần áo trao cho người chết cần phải xé rách và không quên dặn linh hồn người chết rằng khi gặp quân giặc nói là trang phục đó rách để không bị cướp - với ý nghĩa nhớ lại nỗi cơ cực trên đường thiên di về phía Nam. Người Hmông đến Việt Nam bằng nhiều đợt khác nhau, gần từ Vân Nam sang hoặc từ Quý Châu qua Vân Nam hay Quảng Tây sang cư trú ở vùng rẻo cao biên giới phía Bắc và lấy vùng này là quê hương của mình. Trong bài ca lưu truyền của người Hmông, quê hương của họ chính là vùng cao biên giới Việt Nam - Trung Quốc:
Cá ở dưới nước
Chim bay ở trên trời
Chúng ta sống ở vùng cao
Và con chim có tổ
Người Mèo ta cũng có quê
Quê ta là Mèo Vạc (một huyện biên giới thuộc tỉnh Hà Giang).
Nhiều vùng người Hmông ở Tây Bắc vẫn coi Lồng Cống, Lồng Mù (Mù Cang Chải) như là vùng đất tổ. Vì thế khi có người chết, họ phải đưa hồn người chết về đây để từ đó về quê cũ rồi lên trời về với tổ tiên. Điều này cũng đúng với các tộc người khác như người Dao hay Pà Thẻn và các tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng - Miến( thuộc nhóm ngôn ngữ Di) thông qua ký ức của người Hà Nhì, người Lô Lô, người Cống, người La Hủ…
Đưa ra một vài cứ liệu trên đây, chúng tôi muốn khẳng định là, giao thoa văn hoá dân tộc ở vùng biên giới Việt Nam - Trung Quốc gắn liền với quá trình tộc người trong khu vực mà trước hết là vùng nam Trung Quốc và bắc Việt Nam và đó là sự giao thoa mang tính tự nhiên do những điều kiện lịch sử quy định…
- Giao lưu văn hoá dân tộc ở vùng biên giới Việt Nam - Trung Quốc: quốc gia và tộc người
Vùng biên giới phía Bắc Việt Nam có vị trí đặc biệt quan trọng trong tiến trình phát triển của cộng đồng quốc gia dân tộc. Có thể thấy, vùng biên cương phía Bắc là ngả đường giao lưu rất quan trọng nếu không nói là quan trọng nhất của quá trình giao lưu Viêt - Hán về mặt lịch đại. Sự giao lưu này trước hết là do các điều kiện lịch sử và đia lý quy định... Trải qua hàng thiên niên kỷ, vùng biên cương từng là nơi diễn ra thế lưỡng trong quan hệ quốc gia: một mặt là sự đối nghịch về chính trị, liên quan đến biên cương, nhưng một mặt khác giao lưu kinh tế văn hoá lại diễn ra như là một hằng số. Đó là một thực tế.
Lịch sử hàng ngàn năm đã chứng kiến không ít những nghịch lý ở vùng biên nhưng giao lưu vẫn là nhu cầu nội tại của các tộc người và các quốc gia. Truyền thống bán anh em xa mua láng giềng gần là xuyên suốt trong nhận thức người Việt Nam trong quá trình giao thoa văn hóa.
Sự giao lưu này diễn ra qua trường kỳ lịch sử liên quan đến quá trình tộc người là sự giao lưu xuất phát từ nhu cầu nội tại của bản thân tộc người và do đó mang tính phi chính thống.
Biên cương xưa và nay bao giờ cũng là vẫn là vấn đề nhạy cảm trong quan hệ và giao lưu văn hoá tộc người, bởi lẽ như người khai sáng triều Lê ở Việt Nam đã khẳng định “Biên phòng phải chăm lo phương lược; Giữ nước cần toan tính kế lâu” (thơ Lê Thái tổ), nhưng biên cương bao giờ cũng là nơi giao lưu văn hoá và trong lịch sử Việt Nam, giao lưu văn hoá Việt Nam - Trung Quốc có vai trò rất quan trọng trong quá trình hội nhập.
Vùng biên giới phía Bắc Việt Nam và nam Trung Quốc có không ít đặc điểm trên ngả đường giao lưu. Trước hết là không gian địa lý - văn hoá như chúng tôi đó nói. Khi nói về giao lưu văn hoá thông qua vùng biên giới phía Bắc có thể thấy, vấn đề giao lưu văn hoá quốc gia thông qua hai tộc người đa số Việt - Hán là luồng giao lưu chủ đạo và xét trên góc độ vĩ mô (tư tưởng, mô hình tổ chức bộ máy nhà nước, ngôn ngữ ... ), nhưng ở vùng biên giới không thể không nói tới sự giao lưu về kinh tế - xã hội thông qua trao đổi thương mại, thông qua mối quan hệ đồng tộc trong thực thể siêu tộc người được xác định bởi mối quan hệ quốc gia và liên quốc gia.
Đối với vùng biên giới Việt Nam - Trung Quốc, mối quan hệ này được thể hiện có không ít những đặc điểm, bởi lẽ nhiều tộc người có mối liên hệ về nguồn gốc lịch sử, trong một số trường hợp còn có mối quan hệ huyết thống nữa và cho đến hiện nay vẫn còn giữ được bản sắc văn hoá dù ở các thể chế chính trị không hoàn toàn tương thích.
Trên một khu vực rộng lớn của vùng biên giới Việt Nam - Trung Quốc, từ rất sớm đó diễn ra các luồng thương mại thông qua hệ thống các cửa khẩu và hệ thống chợ phiên phi quan phương như là nhu cầu thiết yếu. Ca dao người Việt có câu:
Làm trai biết đánh tổ tôm,
Uống chè Mạn Hảo xem nôm Thúy Kiều
Điều đó chứng tỏ, mối quan hệ giao thương trên con đường thủy đã diễn ra từ rất sớm. Không phải ngẫu nhiên mà từ cuối thế kỷ XIX, một lái buôn người Pháp là J Duipuis tiến hành khai thông con đường thương mại dọc sông Hồng nhằm khai thông con đường thương mại từ Vân Nam tới Hà Nội và đồng bằng Bắc Bộ tới cảng Hải Phòng nối liền với biển Đông, vươn ra Thái Bình dương và sau đó là con đường sắt Điền Việt một thế kỷ qua. Có một thực tế là khi nói về Hà Nội với vị thế ở trung tâm đồng bằng Bắc Bộ nhưng lại có hướng mở trên các ngả đường giao lưu mà sông Hồng là điều kiện đóng vai trò quan trọng hàng đầu trong lịch sử.
Có thể coi đây là con đường thương mại được khai thông trong thời cận đại, nhưng trên thực tế, con đường giao lưu văn hoá dân tộc đó được mở ra từ hàng ngàn năm trước thông qua vùng biên giới vốn nhiều đặc thù này. Hoàn toàn có thể chỉ ra không ít tính tương đồng về văn hoá của nhiều tộc người ở Việt Nam khi so sánh thông qua hành lang biên giới mà nhiều công trình nghiên cứu đó trình bày mà chúng tôi không đề cập ở đây.
Khi nói đến sự giao lưu văn hoá dân tộc ở vùng biên giới Việt Nam - Trung Quốc, không thể không nói đến vấn đề ngôn ngữ. Như chúng ta biết, vùng biên giới Việt Nam - Trung Quốc là nơi hội tụ của nhiều tộc người của hai quốc gia và vì thế hiện tượng song ngữ, đa ngữ là một trong những đặc điểm rất đáng lưu ý. Tất cả các tộc người hiện sinh sống và hoạt động kinh tế ở đây đều cảm nhận đầy đủ về vấn đề này. Song ngữ hay đa ngữ đều xuất phát từ nhu cầu trao đổi kinh tế - văn hoá. Bên cạnh ngôn ngữ phổ thông, các ngôn ngữ khu vực và ngôn ngữ tộc người vẫn đóng vai trò quan trọng và đó chính là nhịp cầu trong sự giao lưu văn hoá.
Trong một số thập kỷ gần đây, mối quan hệ giữa hai quốc gia được đẩy mạnh đó làm cho giao lưu văn hoá ở khu vực này càng được gia tăng và đương nhiên tiếp tục được mở rộng khi hành lang kinh tế được khai thông. Vì vậy sự hợp tác nghiên cứu về vấn đề này theo tôi là hoàn toàn cần thiết trước yêu cầu hợp tác, giao lưu và phát triển hiện nay đối với cả Việt Nam và Trung Quốc.
Có thể nói, quan hệ văn hoá dân tộc ở vùng biên giới Việt Nam - Trung Quốc là mối quan hệ có tính đặc thù và là mối quan hệ có lịch sử lâu đời thông qua hai ngả đường: chính thống và phi chính thống. Mức độ đậm nhạt là tùy thuộc vào sự chuyển hoá của hai ngả đường này. Sự hoà quyện của hai yếu tố này một cách đồng bộ chính là cơ hội và là điều kiện cho sự phát triển không chỉ đối với mối quan hệ văn hoá dân tộc trong hiện tại và tương lai nhất là trong xu thế toàn cầu hóa.
Tuy nhiên, giao lưu văn hóa ở vùng biên giới Việt Nam - Trung Quốc nói riêng và giao lưu kinh tế văn hóa lưu vực sông Hồng nói chung, cần phải hướng tới phát triển và phát triển bền vững. Đó không chỉ là mục tiêu mà là trách nhiệm của tất cả chúng ta. Tại diễn đàn Giao lưu kinh tế - văn hóa lần thứ III tôi đã có dịp đề cập đến phát triển bền vững đối với sông Hồng, cho sông Mẹ ngàn đời là dòng sông sạch, mãi mãi tràn đầy sức sống từ thượng nguồn tới hạ nguồn trước khi hòa vào biển Đông.
PGS.TS. Lâm Bá Nam