(069). 518.055

Vận dụng quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác đối ngoại

Ngày 06/08/2021339

Từ thực tiễn đấu tranh cách mạng và tiếp thu lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người khai phá, đặt nền móng cho đường lối đối ngoại của cách mạng Việt Nam. Với tư tưởng định hướng đúng đắn, khoa học của Người, từ trước tới nay,Đảng và Nhà nước ta đã xây dựng thành chiến lược đối ngoại và kiên trì thực hiện một cách sáng tạo, đem lại thắng lợi to lớn cho cách mạng Việt Nam. Mối quan hệ hợp tác quốc tế và tình đoàn kết hữu nghị với các nước láng giềng ngày càng được củng cố và không ngừng phát triển.

Lực lượng Bộ đội Biên phòng làm nhiệm vụ quản lý, bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới, thường xuyên có mối quan hệ, tiếp xúc với bạn bè quốc tế và nhân dân các nước láng giềng, luôn xác định công tác đối ngoại ở biên giới là một nhiệm vụ chính trị, là một chức năng quan trọng góp phần vào hoạt động đối ngoại của Đảng và Nhà nước. Những quan điểm, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta về đối ngoại luôn là những nguyên tắc lớn và sự định hướng đúng đắn để Bộ đội Biên phòng vận dụng thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ bảo vệ biên giới, trong đó nổi lên những quan điểm, chủ trương, biện pháp đáng chú ý sau đây:

1. Xây dựng biên giới hoà bình hữu nghị trên nguyên tắc tôn trọng độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau

Trong tuyên bố về chính sách ngoại giao của Chính phủ ta gửi Chính phủ các nước trên thế giới năm 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định rõ: “Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà sẵn sàng đặt quan hệ ngoại giao với chính phủ nước nào tôn trọng quyền bình đẳng, chủ quyền lãnh thổ và chủ quyền quốc gia của nước Việt Nam, để cùng nhau bảo vệ hoà bình và xây đắp dân chủ thế giới”(1).

Như vậy, quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đối ngoại nổi lên hai vấn đề quan trọng: Một là, tăng cường tình đoàn kết, hữu nghị nhưng phải tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau. Hai là,mối liên hệ giữa các quốc gia ngày nay, theo Người là phải đặt trong mối quan hệ mới: tôn trọng lẫn nhau trên cơ sở bình đẳng.  Người kiên quyết chống sự áp đặt, cường quyền, mang tư tưởng nước lớn; ngược lại, Người phê phán tư tưởng tự ti, coi mình là“dân tộc nhược tiểu”, không xây dựng sức mạnh tự thân để nâng cao vị thế trên trường quốc tế.

Với quan điểm nói trên, vận dụng vào nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia, Bộ đội Biên phòng nhận thức sâu sắc rằng, mọi hoạt động đối ngoại biên phòng phải quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối đối ngoại của Đảng, mà một trong những nội dung của đường lối đó là tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ trên tinh thần hợp tác, bình đẳng giữa các nước với nhau. Đó là một yêu cầu chính trị- ngoại giao hết sức quan trọng, có ý nghĩa to lớn, lâu dài.

Thực tiễn chiến đấu bảo vệ biên giới chỉ ra rằng: bảo vệ độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ quốc gia luôn nảy sinh những vấn đề phức tạp. Điều đó đòi hỏi các nước láng giềng phải có nhiều nỗ lực và thiện chí để cùng nhau giải quyết.

Thực tế nhiều năm qua, lực lượng Bộ đội Biên phòng đã nêu cao ý thức và có hành động đúng trong tôn trọng chủ quyền nước khác. Một mặt, nắm vững và nghiêm chỉnh thực hiện các hiệp định, mà nước ta đã ký kết với các nước láng giềng, tuân thủ luật pháp quốc tế, chủ động duy trì giữ vững độc lập, chủ quyền biên giới của ta. Mặt khác, hết sức tôn trọng độc lập, chủ quyền của bạn, không can thiệp vào công việc nội bộ, không làm phương hại đến lợi ích của bạn trong các hoạt động ở biên giới. Hai mặt đó gắn liền với nhau và đạt hiệu quả tạo sự đồng cảm và nhất trí cao trong mối quan hệ, mở rộng tối đa những điểm tương đồng, hạn chế thấp nhất những điểm bất đồng để giữ vững chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia.

Lịch sử cũng từng chỉ ra bài học để Bộ đội Biên phòng nhận thức đầy đủ hơn về mối quan hệ bình đẳng dân tộc. Trong quan hệ với nhau nếu bộc lộ khuynh hướng áp đặt, võ đoán một chiều, mang tư tưởng sô vanh nước lớn, o ép, ức chế nhau, làm tổn hại đến lợi ích của nhau thì sẽ dẫn đến hậu quả khôn lường. Đồng thời, để xác định vị thế quốc gia thì vấn đề tăng cường sức mạnh tự thân là yếu tố hàng đầu tranh thủ bạn bè, tránh được sự áp đặt, chèn ép và không bị lệ thuộc vào bất cứ ai.

Nhận thức quan điểm trên một cách đầy đủ, qua quá trình thực hiện nhiệm vụ, hoạt động đối ngoại của Bộ đội Biên phòng đã đi đúng hướng của Đảng, xác lập được mối quan hệ tôn trọng và bình đẳng, không quan niệm nước lớn, nước bé; chống những khuynh hướng cậy quyền áp đặt hoặc dân tộc chủ nghĩa cực đoan, vị kỷ và thiếu tự tin vào sức mạnh của mình.

Đồng thời, việc bảo đảm ý thức tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau, xây dựng mối quan hệ hữu nghị, bình đẳng với các nước, phát huy vai trò trách nhiệm của nhân dân ở biên giới có ý nghĩa rất quan trọng. Bộ đội Biên phòng đã thường xuyên tuyên truyền, giáo dục ý thức quốc gia, quốc giới; chủ quyền độc lập, chủ quyền lãnh thổ cho nhân dân, để giá trị của mỗi thước đất biên giới trở thành niềm thiêng liêng yêu quý, từ  đó nêu cao ý thức bảo vệ và giữ gìn trong mỗi người; đồng thời vận động nhân dân ta tôn trọng chủ quyền lãnh thổ của bạn, đối xử với nhau trên tinh thần bình đẳng hữu nghị, đề phòng mọi bất hoà trong quan hệ. Không ngừng củng cố, xây dựng cơ sở chính trị, phát triển về kinh tế, xoá đói giảm nghèo, gắn nâng cao đời sống với tiến bộ văn hoá- xã hội để tạo dựng thực lực cho biên giới. Xây dựng sức mạnh tại chỗ cộng với tiềm lực của cả nước để thực hiện “lấy sức ta bảo vệ cho ta”,nâng cao vị thế của một quốc gia độc lập như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng dạy: Ta có mạnh thì họ mới “đếm xỉa” đến. Ta yếu thì ta chỉ là một khí cụ trong tay kẻ khác, dẫu kẻ ấy có thể là đồng minh của ta.

2. Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền đi đôi với xây dựng đoàn kết hữu nghị

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn hướng tới một mục tiêu nhất quán, đó là giành lại độc lập, tự do cho nhân dân, giành lại toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ cho đất nước. Giành được độc lập, toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ quốc gia phải “đổi biết bao xương máu”, nhưng bảo vệ độc lập, chủ quyền ấy là sự sống còn của một dân tộc. Trong khi đề ra nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội Đảng ta cũng chỉ ra nhiệm vụ bảo vệ độc lập, chủ quyền: “Chúng ta không một chút lơi lỏng nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc”.

Từ phân tích và nắm chắc mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới là một bộ phận gắn liền với bảo vệ độc lập, toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ Tổ quốc; đồng thời bảo vệ lãnh thổ Tổ quốc không tách rời bảo vệ chủ quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm của biên giới quốc gia. Vì vậy, trong khi nói chuyện với cán bộ cấp cao của lực lượng Công an nhân dân vũ trang (nay là Bộ đội Biên phòng), Người căn dặn: Một mảnh đất, một ngọn suối, một rừng cây, một đảo nhỏ nơi biên giới, vùng biển là chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc, ta phải kiên quyết bảo vệ.

Trong khi đặt nhiệm vụ bảo vệ độc lập, chủ quyền là nguyên tắc thì Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn đề cao mối đoàn kết hữu nghị với các nước. Người khái quát một cách cô đọng tình hữu nghị đó là:

“Quan sơn muôn dặm một nhà

Bốn phương vô sản đều là anh em!”(1)

Đối với các nước láng giềng, Người coi đó là tình đoàn kết chiến đấu anh em thân cận, luôn giúp đỡ ủng hộ nhau vì sự nghiệp chung và vì độc lập tự do của mỗi nước. Đối với nhân dân Lào anh em, Người cho là: “Việt- Lào hai nước chúng ta. Tình sâu như nước Hồng Hà, Cửu Long”. Với nhân dân Campuchia, Người khẳng định: Nhân dân Việt Nam kiên quyết đoàn kết chặt chẽ với nhân dân Khơme anh em trong cuộc chiến đấu chống kẻ thù chung…Nhiệm vụ của chúng ta là phải cùng nhau củng cố cơ sở của sự hợp tác, tin cậy và chân thành trong sự tôn trọng nền độc lập của nhau. Đối với nhân dân Trung Quốc, Người cho rằng: hai dân tộc Việt-Hoa có mối quan hệ anh em trải mấy nghìn năm lịch sử. Từ đây mối quan hệ ấy càng thêm mật thiết để phát triển tự do, hạnh phúc của hai dân tộc ta, để bảo vệ dân chủ thế giới và hoà bình lâu dài.

Thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày nay Đảng ta vẫn không ngừng xây dựng, củng cố và đổi mới toàn diện, năng động và hiệu quả mối quan hệ đoàn kết, hữu nghị với quốc tế và các nước láng giềng. Với quan điểm nói trên, vận dụng vào nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biên giới nước ta gần nửa thế kỷ qua đã tích luỹ cho Bộ đội Biên phòng những kinh nghiệm quý báu. Đó là, muốn giữ vững chủ quyền và phát huy được quan hệ đoàn kết, hữu nghị thì phải thực hiện chủ trương, đối sách của Đảng và Nhà nước ta một cách linh hoạt trong những điều kiện cụ thể, thấy rõ những mặt cần đấu tranh, những mặt cần hợp tác trên cơ sở kiên quyết bảo vệ vững chắc độc lập và toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ. Đề phòng và khắc phục những xu hướng lệch lạc, một chiều; chỉ thiên về đấu tranh và chỉ có một phương án đấu tranh, hoặc thiên về hoà bình hữu nghị mơ hồ, chủ quan, mất cảnh giác, tin vào thiện chí của kẻ khác, không đề phòng bất trắc, có thể dẫn đến hậu quả mất đất, mất người, mất của.

Vấn đề chủ yếu đặt ra cho Bộ đội Biên phòng không chỉ là lựa chọn đối sách giải quyết tình huống mà quan trọng hơn, còn phải nắm bắt được chiều hướng phát triển của các sự kiện, phán đoán và dự báo được khả năng phát triển thuận lợi hay phức tạp của tình hình biên giới để chủ động đề xuất những phương án giải quyết trước mắt và lâu dài để vừa bảo vệ được độc lập, chủ quyền, vừa giữ được quan hệ hữu nghị. Những cố gắng tham mưu, đề xuất của Bộ đội Biên phòng với Đảng và Nhà nước ta để cùng nhà nước bạn thống nhất ban hành các hiệp định, các quy chế liên quan đến biên giới cũng như tham gia xây dựng các đạo luật, các chủ trương, chính sách về miền núi, về dân tộc, tôn giáo,…trong nhiều năm qua là những đóng góp phù hợp với tình hình biên giới nước ta và quan hệ với bạn. Điều đó có ý nghĩa lớn là đã tạo ra được quan điểm tương đồng về pháp lý chủ quyền, tạo ra được tình đoàn kết hữu nghị giữa ta với các nước láng giềng.

Gắn liền việc bảo vệ vững chắc chủ quyền với xây dựng hoà bình, hữu nghị là quan điểm đúng đắn của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta, trên thực tế ở biên giới đã hạn chế được đối đầu căng thẳng, phòng ngừa được xung đột, tạo ra sự bình yên, hoà dịu và chiều hướng tiến triển của nó đang mở ra những khả năng mới tốt đẹp.

3. Tăng cường hợp tác, mở rộng quan hệ đối ngoại là điều kiện thuận lợi để Bộ đội Biên phòng hoàn thành tốt nhiệm vụ

Quan điểm tăng cường hợp tác quốc tế, mở rộng quan hệ đối ngoại của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta là sự kết hợp chặt chẽ tăng cường sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, tập hợp đông đảo lực lượng ủng hộ cách mạng nước ta, cũng là sách lược “thêm bạn, bớt thù”, tạo thuận lợi cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta.

Trong xu thế thời đại mới, Đảng ta tiếp tục thực hiện chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, mở rộng theo hướng đa dạng hoá và đa phương hoá. Tăng cường quan hệ hữu nghị và sự hợp tác nhiều mặt với các nước láng giềng và các nước khác trên thế giới, với các nước xã hội chủ nghĩa và bạn bè truyền thống với cơ chế đa phương thích hợp, trên cơ sở nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau, hợp tác bình đẳng và cùng có lợi.

Đây là cơ hội thuận lợi để mỗi quốc gia có điều kiện hội nhập, hợp tác; đồng thời, để giữ vững độc lập, chủ quyền của mỗi quốc gia, con đường liên kết hợp tác tạo thành sức mạnh chung là xu thế tất yếu. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng phê phán tư tưởng bảo thủ, tự cô lập mình. Người cho rằng, nguyên nhân đầu tiên gây ra sự suy yếu…đó là sự đơn độc.

Là lực lượng làm nhiệm vụ ở biên giới, vùng biển, có hải cảng, cửa khẩu quốc gia, quốc tế, thường xuyên có mối quan hệ với bạn bè năm châu và nhân dân các nước láng giềng, Bộ đội Biên phòng tự nhận thức, phải hoà mình vào xu thế hội nhập của đất nước, vào dòng chảy của thời cuộc để từ đó tăng cường hợp tác, mở rộng quan hệ đối ngoại, đáp ứng yêu cầu bảo vệ biên giới.

Nội dung hợp tác, mở rộng quan hệ đối ngoại của Bộ đội Biên phòng liên quan đến nhiều mặt, nhiều hướng, nhưng trước hết là mở ra con đường củng cố hoà bình, hữu nghị và hợp tác với các lực lượng vũ trang, lực lượng biên phòng và nhân dân các nước, mặt khác hợp tác chặt chẽ với các lực lượng liên quan và nhân dân ba nước cùng chung biên giới.

Sự hợp tác vốn có trước đây với các nước xã hội chủ nghĩa và các nước bạn bè truyền thống đã giúp chúng ta nhận được sự ủng hộ thiết thực của bạn về kinh nghiệm về công tác biên phòng, về đào tạo cán bộ, về phương tiện nghiệp vụ, trang thiết bị hiện đại. Đây chính là vốn quý mà cán bộ, chiến sĩ biên phòng đã hết sức trân trọng và sử dụng có hiệu quả trong nhiệm vụ bảo vệ biên giới, bờ biển của Tổ quốc mình.

Ngày nay, tăng cường đoàn kết, hợp tác chân thành, học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau giữa Bộ đội Biên phòng Việt Nam với lực lượng biên phòng các nước anh em truyền thống và các nước trong khu vực đang là yếu tố xây dựng sức mạnh tổng hợp, góp phần xây dựng Bộ đội Biên phòng lớn mạnh để giữ vững chủ quyền, an ninh biên giới; phát hiện, ngăn chặn, đẩy lùi mọi nguy cơ đe doạ đến độc lập, chủ quyền biên giới của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch.

Tăng cường hợp tác, mở rộng quan hệ đối ngoại với các cấp chính quyền, các lực lượng quân sự, an ninh, biên phòng và nhân dân các nước láng giềng là mối quan hệ trực tiếp liên quan nhiều mặt về tình hữu nghị, về chủ quyền, an ninh, về sự ổn định biên giới chung…Bộ đội Biên phòng nước ta đã cùng lực lượng an ninh, lực lượng biên phòng bạn tiến hành trao đổi kinh nghiệm, phối hợp chuyên môn, cùng nhau chấp hành tốt các hiệp định, hiệp đồng tuần tra, kiểm soát, bảo vệ hệ thống mốc giới theo hoạch định và quy định, thống nhất quy chế giải quyết các vụ việc vi phạm; xây dựng phương án hỗ trợ phòng, chống các loại tội phạm, bảo vệ an ninh, trật tự chung ở biên giới. Các mặt phối hợp quản lý hành chính, xuất nhập cảnh đảm bảo thông thương biên giới, tạo điều kiện cho nhân dân và các tổ chức qua lại thăm thân, du lịch, trao đổi kinh tế, phục vụ cho chính sách mở cửa hội nhập của mỗi nước, không gây khó khăn trở ngại cho nhau, đang chuyển biến thuận lợi. Quan hệ hợp tác nhiều mặt nhưng ta vẫn giữ được chủ quyền, an ninh lãnh thổ, cả về chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội ở biên giới không bị "biến dạng" bởi bất kỳ một áp lực nào từ bên ngoài.

Kiên trì thực hiện đường lối mở rộng hợp tác, quan hệ đối ngoại một cách năng động, sáng tạo, nhất định chúng ta sẽ tạo được môi trường biên giới ổn định, góp phần thuận lợi cho công cuộc đổi mới đất nước.

4. Giải quyết vấn đề xung đột ở biên giới bằng đàm phán, thương lượng là quan điểm đúng đắn để giữ vững hoà bình, hữu nghị

Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta trong các giai đoạn cách mạng đều nêu cao nguyên tắc cùng tồn tại hoà bình. Hoà bình, hữu nghị không chỉ là ước nguyện của nhân dân mà còn là khát vọng của nhân dân yêu chuộng cuộc sống tốt đẹp và công lý trên toàn thế giới. Khi Đảng ta xác định “Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển” chính là chúng ta muốn hướng tới lợi ích lâu dài của mỗi nước, cùng kiến tạo hoà bình ổn định; cùng xây đắp mối quan hệ hữu nghị tốt đẹp để cùng nhau xây dựng và phát triển đất nước.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, hoà bình không phải bất cứ giá nào, hoà bình thực sự là phải gắn với chủ quyền đất nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh kiên trì quan điểm đối ngoại thay cho đối đầu, lấy đối thoại trên cơ sở có lý, có tình để phân giải các mối bất hoà, giữ vững ổn định.

Để tránh xung đột, đạt tới hiệu quả của đối thoại, Người cho rằng:“Cần có chính sách đúng đắn, phải làm sao vui lòng được mọi người…Tuy không vừa lòng họ được một trăm phần trăm, nhưng không được làm mất lòng ai một trăm phần trăm”(1). Người còn căn dặn: “Phải nắm vững nguyên tắc cứng rắn với sách lược mềm dẻo…lạt mềm nhưng buộc chặt”(2).

Quan điểm lấy đối thoại thay cho đối đầu, thấu tình đạt lý trong giải quyết xung đột đang là xu thế chung của thời đại. Những mâu thuẫn xung đột về sắc tộc, lãnh thổ dù ở đâu, bất cứ ai, nếu đi ngược lại xu thế đó thì không thể có hoà bình độc lập, bị nhân loại tiến bộ lên án.

Bài học đó đã được chứng minh thực tế ở biên giới nước ta, trong bối cảnh nảy sinh những vấn đề phức tạp, nếu được giải quyết bằng đối thoại trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau, vừa lòng nhau thì chẳng những giữ được chủ quyền êm thấm mà còn tăng cường được sự đoàn kết hữu nghị. Thực tế cho thấy, với hàng nghìn ki-lô-mét đường biên giới nước ta tiếp giáp với ba nước láng giềng anh em, có không ít những vấn đề tồn tại do lịch sử để lại, luôn xuất hịên những vấn đề mới phát sinh, sự phức tạp, đa dạng xảy ra là điều không thể tránh khỏi. Đàm phán với nhau về chủ quyền một đoạn, một khu vực lãnh thổ; giải quyết với nhau các trường hợp vi phạm do vô tình hoặc cố ý xâm canh, xâm cư, hoặc do nhu cầu sinh hoạt như một nguồn nước, một nương rẫy, thậm chí một bãi chăn thả trâu bò, v.v…đều tác động liên quan đến mối quan hệ đôi bên, nhiều lúc tranh chấp không kém phần quyết liệt, căng thẳng.

Quán triệt quan điểm lấy đối thoại là chính, để giải quyết mọi bất hoà, chúng ta đã kiên trì cùng các nước bạn tìm một hướng đi trên tinh thần tôn trọng, hợp tác vì lợi ích của nhau trên từng cấp độ khác nhau. Về mặt quốc gia, Bộ đội Biên phòng đã phối hợp với các ngành tham mưu tích cực cho Đảng và Nhà nước tiến tới các cuộc đàm phán ở cấp vĩ mô. Ở các địa phương, Bộ đội Biên phòng đã đề xuất với chính quyền cấp tỉnh, huyện, xã biên giới của ta gặp gỡ các cơ quan đồng cấp của bạn để trao đổi tình hình, bàn bạc các vấn đề liên quan đến chủ quyền lãnh thổ với thái độ thuyết phục, cảm hoá, có lý có tình, đôi bên cùng chấp nhận được, tránh được những điều đáng tiếc xảy ra. Các đồn biên phòng của ta vì lợi ích chung toàn cục xác định tự kiềm chế, khắc phục tư tưởng nôn nóng, manh động, bình tĩnh, tỉnh táo sử dụng đối sách có trọng điểm, tuỳ thuộc vào từng vấn đề, từng thời điểm, từng đối tượng để lựa chọn phương thức thích ứng, tạo ra các cuộc gặp gỡ, tiếp xúc, đối thoại với lực lượng biên phòng bạn, tạo nên bầu không khí hoà dịu, giải quyết các vụ việc tại chỗ đạt hiệu quả cao, giữ vững được chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia.

5. Vừa hợp tác, vừa đấu tranh trên tinh thần đoàn kết, tương trợ lẫn nhau để bảo vệ vững chắc chủ quyền, an ninh biên giới

Mở rộng quan hệ quốc tế, tăng cường hợp tác là đặt nước ta trong mối quan hệ rộng rãi với nhiều lực lượng chính trị, kinh tế, xã hội khác nhau trên thế giới. Trong bối cảnh của cuộc đấu tranh quyết liệt còn nguyên vẹn tính chất phức tạp và gay  gắt xưa nay, trong đó đan xen nhiều xu hướng chính trị khác nhau đang thâm nhập, chuyển hoá dưới các hình thức mới rất tinh vi. Vì vậy, Đảng ta đề ra “Vừa hợp tác, vừa đấu tranh” để giữ vững độc lập, tự chủ, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, truyền thống tốt đẹp, bảo vệ độc lập chủ quyền của ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nêu ra nguyên tắc của sự hợp tác là: “Sẵn sàng thân thiện, hợp tác chặt chẽ trên nguyên tắc bình đẳng để ủng hộ lẫn nhau trong sự xây đắp và giữ vững nền độc lập”(1). Như vậy, tư tưởng của Người là hợp tác không phải trên sự áp đặt, ảnh hưởng đến chủ quyền, độc lập của nhau mà cần phải đấu tranh, hạn chế tối đa những tác động xấu đến cách mạng nước ta. Một khía cạnh khác của nguyên tắc đó là phải nêu cao sự hợp tác thân thiện, tương trợ, ủng hộ nhau để tạo ra sức mạnh cộng đồng có lợi cho xây dựng đất nước của nhân dân ta.

Nhận thức đầy đủ quan điểm trên, xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa đấu tranh và hợp tác, đối với Bộ đội Biên phòng là nhiệm vụ, đồng thời là mục tiêu nhằm đạt tới sự xây dựng và củng cố biên giới nước ta ngày càng ổn định vững chắc, góp phần vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Biên giới quốc gia là vấn đề đặc biệt phức tạp và nhạy cảm, do đó, giải quyết đúng đắn các mối quan hệ, trước hết là quan hệ đấu tranh bảo vệ chủ quyền phải rất tỉnh táo và thận trọng, nếu vội vã để xảy ra sai lầm thì sẽ phải trả giá đắt, có khi nguy hại đến an ninh chung của đất nước.

Sẽ là mất cảnh giác nếu không đánh giá đúng sự nguy hiểm của mọi mưu mô, thủ đoạn của kẻ thù, các thế lực phản động, các đối tượng phá hoại khác đang dùng chiêu bài “chủ quyền lãnh thổ”, “chủ quyền tự trị” để mưu toan kích động, gây tranh chấp, xung đột; gây chia rẽ, ly khai trên thế giới, khu vực và ngay ở cả nước ta, tạo ra mâu thuẫn nội bộ cũng như gây ra mối hiềm khích trong quan hệ biên giới với các nước láng giềng.

Tuy nguy cơ chiến tranh xâm lược biên giới quy mô lớn ít xảy ra, chúng ta vẫn phải thường xuyên đề phòng; dạng lấn chiếm, tranh chấp chủ quyền, vi phạm lãnh thổ vẫn xảy ra. Đồng thời, tác động“diễn biến hoà bình” lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo đang là những thách thức gay gắt. Sự xâm nhập của các loại tình báo, gián điệp, phản động lưu vong khoác áo liên doanh, liên kết hoặc du lịch, cùng các hoạt động xâm phạm tài nguyên quốc gia, phá hoại môi trường, vi phạm chủ quyền của ta là thực trạng cần giải quyết.

Chuyển hướng nhanh nhận thức, bắt kịp với trào lưu hợp tác, trong thế chủ động, Bộ đội Biên phòng đã xây dựng các phương án, dự kiến các tình huống nên kịp thời phát hiện tình hình, kết hợp với sức mạnh chính trị của nhân dân, kiên quyết đấu tranh không khoan nhượng đối với những vi phạm nói trên. Trong thực hiện đấu tranh, chúng ta lấy mục đích cao nhất là giữ vững độc lập, chủ quyền, an ninh biên giới làm trọng tâm, còn trong vấn đề cụ thể, đối tượng cụ thể thì linh hoạt xử trí, mềm dẻo trong sách lược, kiên quyết trong nguyên tắc, nên đã khéo léo giải quyết được các vấn đề phức tạp xảy ra ở biên giới. Tuy nhiên, còn những việc tồn tại lâu dài, quan điểm chưa gặp nhau trên một số vấn đề, nhưng về cơ bản, với tinh thần đoàn kết hữu nghị, tôn trọng độc lập, chủ quyền và lợi ích của nhau đang mở ra nhiều triển vọng mới.

Thực hiện “vừa hợp tác, vừa đấu tranh”, lấy tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau làm điểm mấu chốt, chúng ta đã tạo được mối quan hệ chặt chẽ với các nước, đặc biệt là đối với các nước láng giềng. Quán triệt lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh “giúp nhân dân nước bạn tức là mình tự giúp mình”(1), Bộ đội Biên phòng nhận rõ mối liên hệ khăng khít trong cuộc đấu tranh chung, sự thắng lợi của bạn là hỗ trợ cho thắng lợi của ta, biên giới bạn bình yên là tạo điều kiện cho biên giới ta ổn định.

Trước đây, Bộ đội Biên phòng Việt Nam đã làm nhiệm vụ quốc tế giúp bạn chiến đấu chống xâm lược, giúp kinh nghiệm vận động quần chúng nhân dân xây dựng cơ sở chính trị, cơ sở vũ trang, xây dựng kinh tế, lăn lộn hàng chục năm trời ở những nơi khó khăn, ác liệt với tình hữu nghị thuỷ chung, trong sáng. Ngày nay, quan hệ tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau càng mở rộng, không chỉ trao đổi kinh nghiệm đấu tranh mà còn phối hợp với nhau tổ chức các phương án hiệp đồng bảo vệ, cộng tác về chuyên môn nghiệp vụ trong đấu tranh phòng chống tội phạm, giải quyết những vấn đề xã hội ở hai bên biên giới để giữ gìn an ninh, trật tự chung trên cơ sở thống nhất mối quan hệ vì lợi ích của nhau.

Quán triệt và vận dụng các quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta về đối ngoại vào nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia đã tạo ra được nhận thức và hành động đúng đắn cho Bộ đội Biên phòng thực hiện tốt nhiệm vụ của mình. Tình hình trên các tuyến biên giới đã giải quyết được những vấn đề rất cơ bản, giữ được ổn định chính trị, bảo vệ được độc lập, chủ quyền lãnh thổ, xây dựng biên giới phát triển về nhiều mặt, tăng cường được mối đoàn kết hữu nghị, hợp tác với các nước láng giềng và các nước khác, tạo ra môi trường biên giới ổn định để góp phần xây dựng đất nước phát triển trong công cuộc đổi mới.

Những quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta về công tác đối ngoại đã được thực tiễn kiểm nghiệm, vẫn còn nguyên giá trị trong đời sống hôm nay và cho cả lâu dài để Bộ đội Biên phòng và nhân dân ta vận dụng vào thực tiễn đời sống giành thắng lợi lớn hơn trong giữ vững độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

(BBT)

Tin tức khác

Zalo phone Hotline