Ngày 14/08/20213223
Website Biên phòng Việt Nam thông tin đến bạn đọc một số tư liệu liên quan đến vấn đề phân định vùng biển giữa Việt Nam và một số quốc gia láng giềng.
Thái Lan
Năm 1971, Việt Nam quy định phạm vi thềm lục địa phía Nam Việt Nam, trong đó tại khu vực giữa Việt Nam và Thái Lan đường ranh giới đi theo trung tuyến giữa bờ biển các đảo Việt Nam (Thổ Chu) và bờ biển Thái Lan. Năm 1973, Thái Lan quy định ranh giới thềm lục địa theo đường trung tuyến giữa bờ biển Thái Lan và đảo Phú Quốc Việt Nam. Giữa hai bên hình thành vùng chồng lấn rộng khoảng 6.000 km2.
Vùng biển chồng lấn giữa hai quốc gia nằm trong Vịnh Thái Lan là nơi có nhiều tài nguyên thiên nhiên bao gồm hải sản, dầu khí.
Hai bên tiến hành đàm phán giải quyết từ năm 1992 - 1997 và đạt được giải pháp qua 6 năm thương lượng. Trong quá trình đàm phán, hai bên đã căn cứ vào pháp luật quốc tế, điều kiện tự nhiên cụ thể của khu vực biển liên quan bao gồm chiều dài hướng chung của đường biển, hiệu lực của đảo, phương pháp vạch đường trung tuyến, tính đến lợi ích của các quốc gia khác có liên quan…
Tháng 8/1997, chính phủ hai quốc gia đã ký hiệp định vạch đường ranh giới vùng biển đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa giữa hai bên theo một đường dài khoảng 74 hải lý (137km).
Đây là hiệp định về phân định vùng biển đầu tiên Việt Nam ký kết với các quốc gia láng giềng.
Sau khi ký kết, hoạt động quản lý biển, đánh bắt hải sản đi vào nền nếp, tình hình trên biển ổn định, công cuộc thăm dò khai thác dầu khí hai bên đường ranh giới của hai bên được tiến hành mạnh mẽ và đạt được kết quả tích cực. Các công ty dầu khí ở nước ta vừa ra tuyên bố đã phát hiện thương mại đối với bốn mỏ khí lớn ở trên thềm lục địa Việt Nam trong vịnh Thái Lan.
Hai bên đã triển khai công tác tuần tra chung giữa các lực lượng kiểm tra, kiểm soát trên biển của 2 nước mở rộng hợp tác trong lĩnh vực phòng chống tội phạm trên biển như đánh bắt hải sản trái phép, cướp có vũ trang trên biển… góp phần ổn định tình hình trên biển, tăng cường lòng tin, sự hợp tác và quan hệ hữu nghị giữa Việt Nam và Thái Lan.
Malaixia
Trong khu vực cửa vịnh Thái Lan, giữa Việt Nam và Malaixia có một khu vực chồng lấn hẹp rộng khoảng 2.800km2. Ranh giới ngoài của thềm lục địa Việt Nam tại khu vực này được quy định năm 1971. Malaixia đưa ra ranh giới của mình năm 1979.
Vào đầu năm 1940 trong khu vực chồng lấn giữa hai quốc gia, đã phát hiện ra ba mỏ dầu khí có thể khai thác thương mại. Năm 1992, hai bên bắt đầu đàm phán và nhận thấy rằng nếu đi vào bàn vấn đề vạch đường biên giới trong khu vực chồng lấn này thì có thể đòi hỏi phải có nhiều thời gian, không thể khai thác sớm các mỏ dầu khí phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, khu vực chống lấn không quá lớn, có thể hợp tác quản lý.
Do đó, căn cứ vào quy định về biện pháp tạm thời trong khi chờ đợi giải quyết vấn đề biên giới, hai bên nhất trí ký kết thoả thuận về “hợp tác khai thác chung” vùng chồng lấn từ năm 1992 trên cơ sở bình đẳng về mọi mặt: vốn đầu tư, chia lợi nhuận, quản lý, không ảnh hưởng đến giải pháp vạch đường biên giới sau này. Hai bên giao cho Tổng công ty Dầu khí Việt Nam (Petro Việt Nam) và Tổng công ty Dầu khí quốc gia Malaixia (Petronas) thay mặt hai Chính phủ ký kết và thực hiện thoả thuận thương mại hợp tác khai thác, lập uỷ ban điều phối chung.
Đây là thoả thuận về hợp tác khai thác chung dầu khí đầu tiên của nước ta với các quốc gia láng giềng.
Các mỏ thuộc khu vực chồng lấn Việt Nam - Malaixia là khu vực mỏ thứ ba sản xuất khai thác thương mại dầu khí của nước ta, tăng cường khả năng xuất khẩu và đem lại nguồn ngoại tệ lớn, phục vụ sự nghiệp xây dựng kinh tế, góp phần phát triển quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa Việt Nam và Malaixia.
Trung Quốc
Ngày 25/12/2000, Việt Nam và Trung Quốc đã ký hiệp định về phân định lãnh hải, vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa trong vịnh Bắc Bộ. Hiệp định có hiệu lực từ ngày 30/6/2004.
Vịnh Bắc Bộ là vịnh nằm giữa hai nước Việt Nam và Trung Quốc, rộng khoảng 126.250km2, chiều ngang nơi rộng nhất khoảng 310km (176 hải lý), nơi hẹp nhất khoảng 220km (119 hải lý). Vịnh là nơi có nhiều tài nguyên thiên nhiên về hải sản, có tiềm năng quan trọng. Từ lâu, nhân dân hai quốc gia đã tiến hành sử dụng, khai thác vùng biển trong vịnh Bắc Bộ. Cuộc đàn phán giữa 2 nước về vịnh Bắc Bộ bắt đầu từ năm 1974 qua 3 giai đoạn 1974, 1977 - 1978 và 1992 - 2000, kéo dài trong khoảng 27 năm.
Căn cứ vào Công ước 1982, giữa hai bên phải vạch đường biên giới biển trong lãnh hải ở khu vực cửa sông Bắc Luân, vạch đường ranh giới vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa trong vịnh. Nếu hai quốc gia đều định vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa 200 hải lý thì do khoảng cách giữa bờ biển hai bên chưa đến 200 hải lý nên hầu hết vịnh Bắc Bộ trở thành vùng chồng lấn, rất khó khăn cho công tác quản lý, khai thác, sử dụng và bảo vệ.
Năm 1993, hai bên đã đi đến thỏa thuận nguyên tắc về vấn đề vạch đường biên giới biển trong vịnh Bắc Bộ là: “Hai bên đồng ý sẽ áp dụng luật biển quốc tế và tham khảo thực tiễn quốc tế để tiến hành đàm phán phân định vịnh Bắc Bộ; nhằm đặt thoả thuận về phân định vịnh Bắc Bộ, hai bên cần theo nguyên tắc công bằng và tính đến mọi hoàn cảnh hữu quan trong vịnh để đi đến một giải pháp công bằng”. Thoả thuận nguyên tắc này hoàn toàn phù hợp với pháp luật và thực tiễn quốc tế.
Từ năm 1994 - 2000, hai bên đã đàm phán cụ thể trong vòng bảy năm. Trong đàm phán, hai bên đã trao đổi về pháp luật quốc tế áp dụng trong hoàn cảnh và điều kiện cụ thể của vịnh Bắc Bộ, tính đến các hoàn cảnh tự nhiên có liên quan như chiều dài và hướng đi, hình thái chung của đường bờ biển của mỗi bên, sự hiện diện và hiệu lực của các đảo trong khu vực vịnh, kiểm tra tính công bằng của thoả thuận theo phương thức của Toà án quốc tế. Kết quả là hai bên đã thống nhất vạch một đường biên giới nối 21 điểm, trong đó đoạn từ điểm 1 - 9 là biên giới lãnh hải, từ điểm 9 - 21 là ranh giới chung cho cả vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa. Đường biên giới biển này trong vịnh Bắc Bộ dài tổng cộng khoảng 500km.
Theo đường hoạch định, phía Việt Nam được hưởng 53,23% diện tích vịnh. Trung Quốc được 46,77% diện tích vịnh. Về diện tích, vùng biển phía Việt Nam hơn phía Trung Quốc khoảng 8.205km2. Các đảo ven bờ Đông Bắc Việt Nam có hiệu lực một phần, đảo Bạch Long Vĩ nằm xa ngoài giữa vịnh gần đường biên giới nhưng vẫn có hiệu lực 25%, đảo Cồn Cỏ có hiệu lực 50%. Tất cả các kết quả này đạt được là do hai bên áp dụng luật quốc tế, bao gồm cả việc sử dụng phương pháp đường trung tuyến có điều chỉnh và được quyết định bởi yếu tố điều kiện và hoàn cảnh địa lý tự nhiên khách quan của vịnh Bắc Bộ. Kiểm nghiệm về công bằng, tính tỷ lệ chiều dài bờ biển hai bên so với tỷ lệ diện tích đạt được đều là 1, 1/1 nên kết quả trên là công bằng.
Đây là hiệp định vạch biên giới biển biển thứ hai Việt Nam ký với nước liên quan, nhưng là một hiệp định có ý nghĩa hết sức lớn lao, vì lần đầu tiên trong lịch sử đã vạch được đường biên giới chung giữa hai quốc gia trong một vịnh lớn, có tầm quan trọng đặc biệt về mọi mặt đối với cả hai quốc gia, bảo đảm công bằng cho cả hai bên.
Cam-pu-chi-a
Việt Nam và Cam-pu-chi-a là hai quốc gia láng giềng kế cận nhau. Hai bên có vấn đề xác định rõ chủ quyền hải đảo và vạch đường biên giới lãnh hải, ranh giới vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa.
Căn cứ vào thực tế lịch sử và luật pháp quốc tế, năm 1982, hai bên đã ký hiệp định về vùng nước lịch sử, trong đó xác định rõ chủ quyền đảo của bên theo một đường mà Toàn quyền Đông Dương Brévíe đề xuất năm 1939, thiết lập một vùng nước lịch sử chung hai bên cùng nhau kiểm soát và quản lý, hoạt động đánh bắt hải sản được thực hiện theo tập quán như cũ, mọi hoạt động liên quan đến thăm dò dầu khí phai có ý kiến nhất trí của bên kia.
Hiện nay, giữa hai bên chỉ còn tồn tại vấn đề vạch đường biên giới biển chung trong vùng nước lịch sử, lãnh hải và ranh giới biển chung trong vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa.
Năm 1983, Hiệp ước về nguyên tắc giải quyết vấn đề biên giới giữa Việt Nam và Cam-pu-chi-a đã nêu rõ, hai bên sẽ tiếp tục giải quyết vấn đề tồn tại theo tinh thần bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, vì lợi ích quan hệ hợp tác hữu nghị giữa hai quốc gia, phù hợp với pháp luật và thực tiễn quốc tế.
Đến nay, hai nước cam kết thực hiện Hiệp ước bổ sung hiệp ước hoạch định biên giới năm 1985 và tháng 10/2005 cả hai nhà nước đều bày tỏ cam kết tôn trọng các hiệp ước, hiệp định về biên giới hai bên đã ký kết trong những năm tám mươi của thế kỷ trước và trên cơ sở đó, đang tiếp tục đàm phán giải quyết các vấn đề biên giới lãnh thổ còn tồn tại để sớm xây dựng được biên giới hoà bình, hữu nghị hợp tác trên đất liền, trên biển giữa hai quốc gia.
In-đô-nê-xi-a
In-đô-nê-xi-a là quốc gia láng giềng có quy chế quốc gia quần đảo nằm ở tương đối xa Việt Nam. Giữa hai quốc gia có vấn đề vạch ranh giới chung vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa. Vùng biển chồng lấn giữa hai nước trong thời gian tới, hai bên sẽ tiếp tục giải quyết và được phân định về đặc quyền kinh tế. Tạo điều kiện giữ gìn môi trường hoà bình ổn định, phù hợp với Luật Biển quốc tế trên biển Đông, tạo cơ hội mới cho việc đầu tư và thăm dò dầu khí trên lục địa của 2 nước.
Hai quốc gia đã tiến hành đàm phán giải quyết từ năm 1978 trên cơ sở áp dụng pháp luật và thực tiễn quốc tế vào điều kiện tự nhiên cụ thể của vùng biển chồng lấn liên quan. Trong quá trình giải quyết, hai bên đã xem xét các khía cạnh như ảnh hưởng của quy chế quốc gia quần đảo trong vạch biên giới biển, hiệu lực của các đảo như Côn Đảo của Việt Nam và các đảo Natuna Bắc của In-đô-nê-xi-a, chiều dài hướng chung của đường bờ biển có liên quan của mỗi bên, sự kéo dài tự nhiên của thềm lục địa, việc áp dụng hợp lý phương pháp vạch đường trung tuyến… nhằm cố gắng đạt được một giải pháp công bằng.
Quá trình đàm phán kéo dài khoảng 26 năm từ 1978 - 2003, ngày 26/6/2003, hai nước đã ký kết hiệp định về phân định thềm lục địa và đạt được thảo thuận và lập được đường biên giới trên biển đầu tiên giữa 2 quốc gia. Việc ký kết Hiệp định đã giải toả được vấn đề duy nhất còn tồn tại trong quan hệ tốt đẹp giữa nước ta và In-đô-nê-xi-a, tạo điều kiện gìn giữ môi trường hoà bình, ổn định, phù hợp với Luật Biển quốc tế trên biển Đông, tạo cơ hội mới cho việc tìm kiếm thăm dò, khai thác dầu khí trên thềm lục địa 2 nước. Trong thời gian tới, hai bên sẽ tiếp tục giải quyết vấn đề phân định vùng đặc quyền kinh tế.
Ý nghĩa của việc giải quyết vấn đề biên giới biển với các quốc gia liên quan.
Vấn đề hoạch định đường biên giới biển với các quốc gia liên quan là một vấn đề hết sức quan trọng và thiêng liêng vì nó liên quan đến chủ quyền, quyền chủ động, quyền tài phán quốc gia, đến lợi ích quốc gia, đồng thời đây cũng là một vấn đề hết sức mới mẻ, phức tạp và khó khăn.
Một quốc gia không thể áp đặt ý chí đơn phương của mình về biên giới cho một quốc gia láng giềng khác trái với pháp luật và thực tiễn quốc tế. Việc vạch đường biên giới trên biển giữa các quốc gia láng giềng đòi hỏi phải áp dụng chặt chẽ pháp luật và thực tiễn quốc tế trong điều kiện và hoàn cảnh tự nhiên cụ thể, mỗi quốc gia vừa phải bảo vệ chủ quyền và lợi ích của mình nhưng đồng thời cũng phải tôn trọng quyền và lợi ích chính đáng được pháp luật và thực tiễn quốc tế thừa nhận của các quốc gia láng giềng.
Việc giải quyết tốt đẹp về kế hoạch định biên giới biển giữa Việt Nam với các quốc gia liên quan vừa qua là sự quán triệt và thể hiện chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta trong việc giải quyết vấn đề biên giới với các quốc gia láng giềng, đàm phán giải quyết trên tinh thần tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng, phù hợp với pháp luật và thực tiễn quốc tế, phù hợp với hoàn cảnh khách quan nhằm đạt được một giải pháp công bằng các bên đều chấp nhận được. Kết quả đàm phán giải quyết đã giúp từng bước xác định rõ phạm vi và chế độ pháp lý của các vùng biển của Việt Nam, tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng, khai thác và quản lý, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, tăng cường quan hệ hợp tác hữu nghị với các quốc gia láng giềng, giảm nguy cơ tranh chấp xung đột, giữ gìn hoà bình và ổn định trên vùng biển chung quanh của đất nước.
(Theo tài liệu tuyên truyền biển đảo)