(069). 518.055

Vai trò của văn hóa tộc người trong phát triển du lịch bền vững vùng biên giới Việt Nam - Trung Quốc

Ngày 12/08/2021627

Du lịch ở Việt Nam nói chung, vùng biên giới Việt Nam - Trung Quốc nói riêng, là một trong những lĩnh vực được Đảng, Nhà nước, các ban ngành quan tâm để phát triển và phát triển bền vững, trở thành một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước trong thời kỳ giao lưu, hội nhập, toàn cầu hóa.

Với trên 30 tộc người sinh sống, là một trong những cái nôi của người Việt cổ, có đủ điều kiện để phát triển du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng và du lịch văn hóa nhân văn. Làm thế nào để phát huy được tiềm năng dồi dào của vùng đất này trong phát triển du lịch? Đó là một vấn đề đòi hỏi có đầu tư tâm huyết và tham gia của nhiều ngành, nhiều cơ quan, của tất cả những người làm du lịch. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chỉ trình bày một số quan điểm về Vai trò của văn hóa tộc người trong phát triển du lịch bền vững vùng biên giới Việt Nam - Trung Quốc nhằm mục đích nâng cao đời sống kinh tế - văn hóa - xã hội, giữ vững quốc phòng an ninh ở một vùng đất “Địa đầu”, “Phên dậu” của Tổ quốc trong  xu thế giao lưu, hội nhập, toàn cầu hóa hiện nay. 

      1.  Những lợi thế văn hóa tộc người vùng biên giới Việt Nam - Trung Quốc trong hoạt động du lịch

Thiên nhiên không chỉ ưu đãi cho biên giới Việt Nam - Trung Quốc một vùng đất núi non kỳ vĩ, phong cảnh hữu tình nên thơ mà còn là nơi sinh sống của rất nhiều dân tộc anh em. Chính sự đa dân tộc đã làm nên sự phong phú về bản sắc văn hóa, trở thành tài sản phi vật thể quý báu không chỉ của vùng này mà còn là di sản quốc gia và nhân loại.

Các tỉnh thuộc biên giới Việt Nam -Trung Quốc nói chung, Lào Cai nói riêng là một trong những cái nôi của văn hóa Việt, gần 30 dân tộc anh em đã tồn tại và chung sống, xây đắp nên một vùng văn hóa đậm đà, vừa đa dạng vừa thống nhất. Đây là vùng đất hội tụ nhiều nhóm ngôn ngữ - tộc người khác nhau: Việt - Mường, Tày - Thái, Mông - Dao, Tạng - Miến, Hán. Mỗi dân tộc hầu như đều có tiếng nói, chữ viết và bản sắc văn hoá riêng. Bản sắc văn hoá dân tộc thể hiện rất rõ trong các sinh hoạt cộng đồng và trong các hoạt động kinh tế. Từ ăn, mặc, ở, quan hệ xã hội, các phong tục tập quán trong cưới xin, ma chay, thờ cúng, lễ tết,  văn nghệ, vui chơi, v.v…đều mang những nét riêng biệt. Sự khác biệt và giàu có các sắc thái văn hoá của các nhóm địa phương, của tộc người không hề làm suy giảm tính thống nhất của văn hoá tộc người và ý thức tộc người, trong chừng mực nào đó còn làm tăng thêm và củng cố tính thống nhất ấy thông qua sự đa dạng các sắc thái văn hoá của các nhóm địa phương. Đây là một lợi thế rất lớn của các tỉnh biên giới Việt Nam - Trung Quốc phát triển du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái nhân văn. Trong suốt trường kỳ lịch sử đấu tranh chống kẻ thù xâm lược, bảo vệ bờ cõi, giành tự do độc lập và xây dựng đất nước cộng đồng các dân tộc Việt Nam nơi đây, luôn đoàn kết gắn bó với nhau. Chính vì vậy, việc khai thác các giá trị văn hóa tộc người nhằm phát triển bền vững vùng biên giới Việt Nam - Trung Quốc là một ưu thế lớn của khu vực này.

Vùng Tây Bắc, Đông Bắc Việt Nam (vùng biên giới Việt Nam - Trung Quốc) có một kho tàng di sản văn hóa tộc người (vật thể và phi vật thể) đồ sộ, phong phú, độc đáoc của các dân tộc anh em cùng sinh sống. Sự đồng điệu, nét đặc thù, điểm chung, nét riêng, dấu ấn của bản sắc văn hóa hiện hình trong nếp sống, trang phục, trong ăn uống, cách ứng xử, giao tiếp hàng ngày của đồng bào các dân tộc.

Chợ phiên vùng cao là nơi biểu hiện rất rõ những nét văn hoá đặc trưng ở vùng biên giới Việt Nam - Trung Quốc. Những phiên chợ mang đậm nét sinh hoạt cộng đồng, lưu giữ những giá trị bản sắc văn hóa truyền thống độc đáo của các dân tộc thiểu số vùng cao Tây Bắc, Việt Bắc. Phiên chợ là nơi người ta gặp gỡ trò chuyện, giao lưu văn hóa giữa các tộc người, phơi bày một cách rực rỡ của vẻ đẹp trang phục, nơi bay bổng của làn điệu xòe quyến rũ lòng người... “Cô gái Mông tay thoăn thoắt xe lanh, càng thêm hấp dẫn trong tấm khăn Piêu của đồng bào Thái; cô gái Thái, duyên dáng, tinh nghịch, mặt ửng hồng thưởng thức món Thắng cố - đặc sản của đồng bào Mông mỗi dịp lễ tết, hội hè. Chàng trai Dao, chàng trai Mảng, chàng trai Khơ Mú mơ màng cạn bát rượu ngô Sùng Phài, ngào ngạt men say; cô gái Kinh đầu mang khăn Piêu, vai khoác túi thổ cẩm rực rỡ uyển chuyển tung quả còn xanh, đỏ lên cây nêu đầu chợ. Và cả những đêm xòe ngất ngây lòng người. Đó là những đêm các cô gái Thái trong trang phục áo cóm trắng bó sát người với hàng cúc bạc lấp lánh, váy lĩnh đen tuyền uyển chuyển trong tiếng nhạc, những bước chân nhịp nhàng theo tiếng trống, tiếng chiêng rộn rã.  Những gương mặt nóng bừng, ngời sáng. Những giọt mồ hôi lăn đều trên đôi má ửng hồng của cô gái vùng cao, ướt đuôi tóc chàng trai bản núi. Dạ tiệc chỉ dừng khi gà gáy chuyển canh. Tiếng bước chân, cùng tiếng nói cười xa dần theo những lối mòn về bản, với bao bịn rịn. Đến vùng đất này ta dễ dàng nhận thấy nét văn hóa phong phú, đa dạng trong mỗi ngôi nhà, mỗi tà áo, vành khăn.

Nhiều lễ hội mang những nét đặc sắc riêng của từng dân tộc. Hầu hết các lễ hội truyền thống ở vùng biên giới Việt Nam - Trung Quốc đều mang tính chất tín ngưỡng dân gian, việc tổ chức đều do làng, bản chịu trách nhiệm theo một chu kỳ thời gian, mùa vụ nhất định. Các lễ hội không mang nặng yếu tố mê tín dị đoan, chỉ mang ý nghĩa tâm linh, cầu cho mùa màng tươi tốt, cầu sức khoẻ cộng đồng bản mường. Đối tượng được thờ tự tại các lễ hội là các vị thần như thần gốc cây, thần sông suối, thần ruộng nương… Người dân tin vào một thế giới thần linh, xem đó là người dìu dắt phần hồn của thế giới trần gian. Qua tổ chức các lễ hội dân gian đồng bào thấy lòng mình nhẹ nhõm, gột rửa những điều ác, điều xấu, quên đi những cực nhọc, lo toan của cuộc sống đời thường. Đặc thù lễ hội dân gian ở nơi đây mang đậm chất thơ ca và diễn xướng dân gian, hàm chứa lời dạy bảo con cháu những điều hay lẽ phải và tính đoàn kết cộng đồng. Lễ hội thường gắn với các trò chơi dân gian của các dân tộc, cộng đồng, bản mường cùng vui chung, mọi người dân đều được tham gia để cùng sáng tạo văn hoá. Lễ hội truyền thống ở vùng Tây Bắc không phức tạp như các tỉnh miền xuôi, các lễ hội này đều do bản làng tự đứng ra tổ chức, nhân dân tự nguyện đóng góp lễ vật không đáng kể, chủ lễ thường là những người già có uy tín trong cộng đồng, bày tỏ ước vọng trước trời đất mong cho cuộc sống yên bình. Dân tộc Thái có lễ hội Then Kim Pang, tổ chức vào ngày 10 - 3 âm lịch. Nét đặc sắc của lễ hội này là các nghi lễ tâm linh có các điệu hát then (với 36 bài), múa then (36 bài), nguồn gốc chính của múa nón Thái, xòe Thái ngày nay là bắt nguồn từ đây. Đây là một lễ hội đặc sắc, hấp dẫn du khách, có thể khai thác rất tốt cho hoạt động du lịch.

Đời sống văn hóa tinh thần phong phú của đồng bào còn được thể hiện ở nghề thủ công, mỹ nghệ, thổ cẩm truyền thống của đồng bào đã đạt đến độ tinh xảo và cuốn hút đến diệu kỳ. Phụ nữ Mông, Dao, Thái, Pà Thẻn, Pa Dí rất giỏi trong cảm thụ màu sắc, những tấm thổ cẩm của họ bao giờ cũng hội đủ sắc màu của thiên nhiên từ cây thông, đồi núi, hạt ngô, hạt lúa… Tất cả được biểu đạt như chính bức tranh sống động của đời sống đồng bào. Các sản phẩm về thổ cẩm của phụ nữ các dân tộc miền núi đã làm cho khách du lịch phải thán phục. Mỗi họa tiết trên váy áo là cả một công trình nghệ thuật được thêu dệt trên trang phục. Giờ đây, hàng thổ cẩm của đồng bào Mông, Thái, Dao… Sa Pa, Bắc Hà, Si Ma Cai, Mường Khương… đã trở thành quà lưu niệm quen thuộc của khách du lịch trong nước cũng như người nước ngoài khi đến đây. Để có được một sản vật hoàn mỹ như vậy là sự kết tinh của những bàn tay tài hoa, khéo léo; sự lao động miệt mài và khổ công được những người ông, bà, mẹ truyền dạy từ bao đời tiếp nối!

Trong lĩnh vực kiến trúc, những ngôi nhà mái chảy chất lợp ngói nung hoặc gỗ ván, dựa theo sườn núi vẫn thu hút được sự quan tâm của du khách. Đó là những ngôi nhà mang đậm chất văn hoá riêng ở những bản người Mông, Dao, Thái, Giáy, Tày, Nùng… với đời sống sinh hoạt còn lưu giữ các giá trị văn hoá đặc sắc.

Tóm lại, văn hóa tộc người vùng biên giới Việt Nam - Trung Quốc rất phong phú, đa dạng. Mọi thành tố văn hóa tộc người, từ cách ứng xử với môi trường tự nhiên, ứng xử với môi trường xã hội đến văn hóa nhận thức, văn hóa tổ chức đời sống cộng đồng đều đa dạng, đậm đà bản sắc văn hóa. Mỗi dân tộc đều mang một vẻ đẹp riêng, hấp dẫn. Trong quá trình phát triển, các dân tộc đều có sự giao lưu, qua lại giữa các dân tộc trong vùng và các dân tộc ở bên kia biên giới. Tính dung chấp và “sự không chối từ” văn hóa của các dân tộc đã làm cho văn hóa tộc người ở vùng biên giới càng đậm đà bản sắc, phong phú, hấp dẫn du khách thập phương. Đó là nguồn tài nguyên du lịch văn hóa đa dạng để khai thác cho hoạt động du lịch, giúp đồng bào nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, sống bằng tài nguyên của chính cộng đồng, dân tộc mình.

      2. Bồi dưỡng và phát huy lợi thế của văn hóa tộc người trong hoạt động du lịch ở vùng biên giới Việt Nam - TrungQuốc

Các nhà nghiên cứu du lịch đã khẳng định, sự tăng trưởng du lịch của Việt Nam nói chung, vùng biên giới Việt Nam - Trung Quốc nói riêng không thể chỉ dựa vào việc khai thác các giá trị thiên nhiên, bởi điều du khách cần hơn chính là những giá trị văn hóa Việt Nam. Chính giá trị văn hóa Việt mới là “cái mới, lạ”, điểm đến hấp dẫn đầy thuyết phục để đưa hình ảnh du lịch vùng biên giới Việt Nam - Trung Quốc ngày càng vươn xa. Sau đây là một số suy nghĩ của chúng tôi trong việc việc bồi dưỡng và phát huy lợi thế của văn hóa tộc người vùng biên giới Việt Nam - Trung Quốc nhằm khai thác có hiệu quả trong hoạt động du lịch.

2.1. Xây dựng, nhân rộng làng văn hóa du lịch cộng đồng nhằm nâng cao đời sống, bảo tồn, gìn giữ bản sắc văn hóa các dân tộc

Xây dựng các làng văn hóa du lịch cộng đồng không chỉ góp phần bảo tồn và phát huy những giá trị văn hoá của đồng bào dân tộc thiểu số mà đồng thời là một xuất phát điểm quan trọng, tạo điều kiện thuận lợi để nâng cao đời sống vật chất và đời sống tinh thần cho nhân dân.

Các làng văn hóa du lịch cộng đồng ngay từ khi ra đời đã thu hút ngày càng nhiều lượng khách du lịch trong và ngoài nước đến tham quan, lưu trú. Làng đã trở thành một sản phẩm du lịch đặc sắc, góp phần làm phong phú thêm cho các sản phẩm du lịch của các tỉnh vùng biên giới Việt Nam - Trung Quốc.

Làng làng văn hóa du lịch cộng đồng muốn hoạt động hiệu quả, trước hết đó phải là làng thuần dân tộc, có sự quần tụ về dân cư và là làng đạt chuẩn về các thiết chế văn hoá, có quy ước làng văn hoá du lịch. Đặc biệt, đường giao thông phải được rải nhựa, bê tông hoá, trải cấp phối hoặc lát gạch đảm bảo các phương tiện giao thông đi lại thuận tiện, đây là một trong những tiêu chí phải được ưu tiên thực hiện đầu tiên. Bên cạnh đó, làng phải có đủ các điều kiện về cơ sở hạ tầng kỹ thuật, cảnh quan môi trường xanh, sạch, đẹp, hài hoà, có công trình vệ sinh đạt chuẩn, chuồng trại chăn nuôi cách xa nhà ở hoặc có tường bao cách biệt đảm bảo vệ sinh môi trường, có hệ thống thu gom và xử lý rác thải. Dân cư sống tập trung, mức sống đồng đều và phấn đấu để không còn có hộ nghèo. Nhà cửa được xây dựng khang trang theo kiểu kiến trúc truyền thống các dân tộc. Làng phải có nghề thủ công truyền thống vừa để bảo tồn nét văn hoá đặc sắc dân tộc, vừa tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho nhiều lao động nhàn rỗi tại địa phương. Phát triển LVHDLCĐ vừa để khai thác hiệu quả tiềm năng du lịch, vừa đảm bảo an ninh trật tự, an toàn xã hội trong các làng bản. Thông qua hoạt động của các làng văn hóa du lịch để nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân địa phương và phát triển bền vững. Từ nguồn tài nguyên du lịch, để người dân được tham gia sản xuất ra các hàng hóa, các sản phẩm du lịch mang tính đặc thù, độc đáo của địa phương, giúp cho đồng bào có công ăn việc làm ổn định, từng bước nâng cao dân trí, bồi dưỡng năng lực kinh doanh trong hoạt động du lịch. Điều quan trọng nhất là người dân được làm du lịch, làm giàu trong chính những ngôi nhà và bằng nghề truyền thống của mình. Một mặt đảm bảo về đời sống vật chất, sống thực sự bằng hoạt động kinh doanh trong du lịch, mặt khác vẫn giữ gìn, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc, xem bản sắc văn hóa của dân tộc mình chính là một “sản phẩm du lịch” độc đáo nhất, hấp dẫn và bền vững với du khách...

Điều quan trọng là, làng Văn hóa du lịch không phải là sự rập khuôn, sao phỏng của nhau mà phải dựa trên cơ sở “nội lực” của làng bản. Sử dụng “vốn tự nhiên” - để từ đấy nâng lên trở thành làng văn hóa du lịch. Khách du lịch (nhất là khách nước ngoài) quan tâm trước hết là những sắc thái văn hóa của địa phương, những tri thức bản địa, đời sống văn hóa, phong tục tập quán, lối ăn, nếp ở của cư dân nơi mình đến tham quan tìm hiểu. Chính vì vậy, xây dựng làng văn hóa, du lịch phải giữ nguyên đặc điểm vốn có của dân tộc, không “sao phỏng” của nhau. Làng của người Mông khác làng của người Lự, làng của người Dao khác bản của người Thái... Các sản phẩm trong làng bản cũng vậy. Giữ vững thuần phong mỹ tục, phát triển sáng tạo phù hợp với xu thế của thời đại sẽ thu hút được du khách, sẽ thu được lợi nhuận, nâng cao đời sống của đồng bào. Làng văn hóa du lịch của các dân tộc sẽ trở thành những “thương hiệu”, những điểm đến hấp dẫn du khách thập phương.

Trong số các làng du lịch hoạt động có hiệu quả thì làng du lịch Sín Chải, xã San Sả Hồ với mô hình đón khách đáng để nhiều nơi học tập. Thôn bầu ra Ban quản lý du lịch cộng đồng. Khi có khách đến, Ban quản lý cử người đón tiếp, hướng dẫn giới thiệu cảnh quan, đời sống, tập tục văn hoá của người dân nơi đây. Nếu khách có nhu cầu tìm hiểu đời sống văn hoá, đội văn nghệ của thôn sẵn sàng biểu diễn phục vụ các tiết mục múa khèn, gậy sinh tiền, múa hát nghi lễ truyền thống của đồng bào các dân tộc tại nhà văn hoá cộng đồng, sau đó Ban quản lý phân bổ khách về từng gia đình. Như vậy, vừa tạo công bằng về nguồn thu, vừa đảm bảo trật tự chung trong quản lý, bảo vệ khách du lịch tại địa phương. Số tiền thu được theo quy định, các hộ trích một phần cho Ban quản lý để chi phí các hoạt động thường xuyên. Nhờ cách làm này, số lượng khách đến Sín Chải ngày càng đông, mà vẫn thực hiện được phương châm "vui lòng khách đến, vừa lòng khách đi". Đây là một trong những mô hình làng văn hóa làm du lịch cần được nhân rộng để các địa phương học tập, dựa trên cơ sở nội lực để phát triển du lịch bền vững.

2.2. Xây dựng các làng nghề truyền thống trong kinh doanh, dịch vụ du lịch

Làng nghề truyền thống là nơi kết tinh những tinh hoa văn hóa lâu đời của các dân tộc. Trong xu thế hội nhập phát triển kinh tế, làng nghề truyền thống có vị thế rất quan trọng, góp phần nâng cao đời sống kinh tế, phát triển xã hội vừa hiện đại, vừa đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc.

Phải nhận thức rõ, làng nghề có vai trò quan trọng, là một trong những mũi nhọn nâng cao đời sống của đồng bào các dân tộc thì chúng ta mới quan tâm đầy đủ đến làng nghề để làng nghề có tiềm lực phát triển bền vững. Các làng nghề truyền thống là nơi lưu giữ những tinh hoa văn hóa lâu đời của dân tộc. Làng nghề thường là những làng văn hóa cổ với kiến trúc độc đáo, các sản phẩm làng nghề đã hàm chứa tinh hoa, bản sắc văn hóa dân tộc. Với tiềm năng của các làng nghề truyền thống, nếu có sự đầu tư đúng hướng, có những chính sách phù hợp sát thực tiễn, nhất định các làng nghề có đủ khả năng phát triển, cải tiến mẫu mã sản phẩm, hiện đại hóa công nghệ truyền thống, đào tạo truyền dạy nghề, tham dự các cuộc hội chợ, triển lãm trong nước và quốc tế, xúc tiến thương mại mở rộng thị trường xuất khẩu, khai thác thị trường trong nước, phát triển văn hóa - du lịch làng nghề...

 Làng nghề đã tạo ra một môi trường kinh tế, văn hóa, xã hội và công nghệ lâu đời. Ở đây thể hiện rất rõ tính cộng đồng, tình làng nghĩa xóm sâu sắc. Mỗi gia đình truyền thống đã "cha truyền con nối". Chính vì thế, nghề truyền thống quý giá của các dân tộc vẫn còn lưu truyền đến ngày nay. Mỗi làng nghề truyền thống đều có những nghệ nhân lâu năm, là những người nắm giữ vốn quý của cha ông, giữ cho dòng chảy văn hóa của dân tộc không ngưng nghỉ. Văn hóa làng nghề luôn gắn với làng quê, các lễ hội, phường hội mang đậm nét dân gian và chứa đựng tính nhân văn sâu sắc... Chỉ cần quan tâm đầu tư, đánh thức những tiềm năng văn hóa ấy là có được bộ mặt làng vừa hiện đại vừa đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc. Khi các làng nghề truyền thống được vực dậy, với những nét văn hóa độc đáo của nó, sẽ trở thành những điểm du lịch hấp dẫn. Du lịch làng nghề góp phần thúc đẩy du lịch vùng biên giới Việt Nam - Trung Quốc phát triển, góp phần nâng cao đời sống các dân tộc. Để tạo ra một động lực thúc đẩy và phát huy giá trị của di sản văn hóa tại các làng văn hóa trên con đường phát triển du lịch, các cấp, các ngành cần nỗ lực xây dựng cơ sở hạ tầng, chú trọng đội ngũ cán bộ có chuyên môn, tận tâm, đ sức truyền tải thông tin đến với mọi đối tượng khách tham quan. Cần gắn kết việc phát triển du lịch với việc xây dựng môi trường sinh thái, nhân văn trong đời sống cộng đồng ở các bản làng. Khuyến khích từng cá nhân phát huy vai trò là chủ thể của mọi sự sáng tạo các giá trị văn hóa nhằm hình thành nên các sản phẩm du lịch văn hóa hấp dẫn mang tính đặc thù của địa phương. Bởi du lịch là một hình thức trải nghiệm văn hóa, mà nền tảng là các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể ở trong chính mỗi cộng đồng làng bản.

2.3. Khai thác giá trị của các lễ hội truyền thống trong hoạt động du lịch

Với gần 30 dân tộc thiểu số trên vùng đất biên cương của Tổ quốc. Các tỉnh thuộc biên giới Việt Nam - Trung Quốc có rất nhiều các lễ hội nổi tiếng, thu hút du khách gần xa. Đó là lễ hội Then Kim Pang, Nàng Han của người Thái, lễ hội Gầu tào của người H’Mông, lễ hội Lồng tồng (xuống đồng) của các dân tộc Tày, Nùng... Các lễ hội dân gian truyền thống ở vùng biên giới Việt Nam - Trung Quốc tổ chức chủ yếu ở quy mô làng xã và đậm đà bản sắc văn hoá của các dân tộc. Các lễ hội này được tổ chức theo nghi lễ truyền thống, các trò chơi dân gian được khôi phục, kết hợp với các hoạt động văn hoá thể thao như bóng đá, bóng chuyền, văn nghệ quần chúng, đã tạo thêm nét tưng bừng cho ngày hội. Mỗi địa phương tuy cùng một chủ đề lễ hội, nhưng do điều kiện tự nhiên, xã hội, văn hoá khác nhau nên cách thức tổ chức các lễ hội cũng khác nhau. Điều đó càng làm tăng thêm sự đa dạng, phong phú cho các loại hình lễ hội ở vùng đất này. Đồng thời, lễ hội cũng là nơi bảo tồn, lưu giữ nhiều sinh hoạt văn hoá, văn nghệ đặc sắc. Những câu hát Then, hát Khặp, điệu hát Sli, Lượn, Phongslư, Dá Hai, Hà Lều; những điệu múa xòe của người Thái, thổi khèn, thổi sáo của người Mông… với những giai điệu ngọt ngào, da diết cùng những trò chơi dân gian hấp dẫn thực sự là những tiềm năng du lịch văn hoá phong phú của các tộc người nơi biên giới Việt Nam - Trung Quốc.

Lễ hội luôn có sức hấp dẫn, thu hút du khách. Bởi đó là thế giới tâm linh của con người, diễn ra vào “thời điểm mạnh” của cộng đồng, Lễ hội là kho tàng văn hoá, nơi lưu giữ những tín ngưỡng, tôn giáo, những sinh hoạt văn hoá văn nghệ, nơi phản ánh tâm thức con người Việt Nam một cách trung thực nhất. Nơi mở hội phần lớn là những danh lam thắng cảnh, một môi trường giàu tính văn hoá. Chính địa điểm mở hội đáp ứng các tiêu chuẩn của một điểm du lịch hấp dẫn.

Để lễ hội truyền thống trở thành sản phẩm du lịch thu hút du khách, ngành du lịch các tỉnh cần có những giải pháp cụ thể và một kế hoạch đầu tư dài hạn. Trước hết, cần nhận thức rõ bản sắc địa phương của tài nguyên du lịch thiên nhiên và văn hoá như là mặt hấp dẫn của điểm đến du lịch. Trên cơ sở đó, tiến hành rà soát các lễ hội mang đặc thù riêng của các dân tộc để quy hoạch một chương trình phát triển du lịch. Đặc biệt, phát triển các loại hình du lịch theo hướng khai thác các thế mạnh của địa phương như: du lịch gắn với cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ của núi rừng, ruộng bậc thang, sông suối, ghềnh thác...; xây dựng tuyến du lịch gắn với văn hoá, lịch sử. Tích cực tuyên truyền, quảng bá các sản phẩm du lịch văn hoá, lịch sử trên các phương tiện thông tin đại chúng, đẩy mạnh công tác nghiên cứu thị trường, tăng cường nguồn đầu tư về cơ sở vật chất, khai thác các hoạt động trong lễ hội là những sinh hoạt văn hoá dân gian cuốn hút mọi người. Những nghi lễ độc đáo, những trò chơi hấp dẫn đầy ý nghĩa trong lễ hội luôn là những yếu tố thu hút khách du lịch gần xa. Ngành văn hoá và du lịch các tỉnh cần tăng cường đầu tư, nâng cấp, tôn tạo và bảo vệ di tích, danh thắng, tổ chức các hoạt động văn hoá truyền thống tạo thành sản phẩm du lịch thu hút và lưu giữ khách, đảm bảo cho sự phát triển du lịch bền vững, đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, quan tâm phát huy vai trò của các già làng, trưởng bản, khuyến khích đồng bào để họ tích cực tham gia bảo tồn và phát huy những giá trị văn hoá truyền thống, trong đó có những giá trị văn hoá của các lễ hội dân gian của đồng bào các dân tộc, tạo nên sự đa dạng và phong phú cho các sản phẩm du lịch.

2.4. Phát huy lợi thế của văn hóa Chợ và dịch vụ tắm nước thuốc chữa bệnh

Lào Cai nói riêng, các tỉnh vùng biên giới Việt Nam -Trung Quốc nói chung có rất nhiều giá trị văn hóa độc đáo, hấp dẫn du khách. Một trong những sản phẩm du lịch độc đáo ấy là văn hóa Chợ. Chợ phiên, chợ tình…đã tạo cho tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên…một “thương hiệu”  hấp dẫn du khách. Chợ là nơi để mọi người tụ tập không chỉ mua bán mà còn là nơi cho các chàng trai, cô gái giao lưu, mọi người uống rượu, thổi sáo, thổi khèn, múa hát, “Chợ ở vùng văn hoá này trở thành một trong những trung tâm giao lưu kinh tế và sinh hoạt văn hoá sầm uất, trong đó được bảo tồn và phát triển nhiều hình thức nghệ thuật dân gian đặc trưng cho các tộc người trong vùng như hát Lượn của người Tày, hát Sli của người Nùng, múa khèn của người H'mông” [1, tr.296].

Tuy nhiên, phát triển văn hóa Chợ như thế nào trong hoạt động du lịch đòi hỏi có sự phối kết hợp của các tổ chức hoạt động du lịch với chính quyền địa phương các cấp và cư dân bản địa.

Trước tiên, phải giữ nguyên bản sắc văn hóa chợ của đồng bào, tôn trọng những nền nếp, tập tục của đồng bào các dân tộc. Sinh hoạt văn hoá truyền thống ở chợ diễn ra chủ yếu nhằm đáp ứng nhu cầu giao tiếp, nhu cầu giải trí. Ngành Văn hóa Thông tin nên xây dựng một số thiết chế văn hoá ở chợ như sân khấu hoạt động văn nghệ thông tin, phòng chiếu phim, điểm chụp ảnh…để sinh hoạt văn hoá ở chợ được kế thừa và nâng cao, có tổ chức và mang tính chất tự giác, đáp ứng được nhiều nhu cầu của đồng bào các dân tộc từ bao đời nay. Đồng thời, kết hợp với các làng nghề, các địa phương tạo điều kiện để người dân trao đổi mua bán hàng hóa và các sản phẩm du lịch. Tuyên truyền, động viên khuyến khích người dân bán các sản phẩm của địa phương, đổi mới, đa dạng các sản phẩm hàng hóa thổ cẩm, mây tre đan... không nhập, bán các hàng hóa không rõ nguồn gốc, hàng công nghiệp, hàng trôi nổi, hàng không phải là sản phẩm của địa phương sản xuất. Bởi nhu cầu của khách du lịch đến chợ vùng cao Tây Bắc trước hết là được thưởng thức, ngắm nhìn một loại hình văn hóa độc đáo, đa sắc màu văn hóa của các dân tộc, vừa mua những sản phẩm có chất lượng cao, các sản phẩm do bàn tay khối óc của cư dân bản địa sản xuất. Đó là những kỷ niệm không thể nào quên trong một chuyến đi. Nếu không may mua những sản phẩm không đảm bảo chất lượng, không đúng nơi sản xuất của đồng bào thì để lại trong lòng du khách những ấn tượng không tốt về một vùng đất mà mình đã đi qua, trải nghiệm.

Gần đây, các dịch vụ tắm nước thuốc (nhất là của dân tộc Dao) đang là một hoạt động dịch vụ hấp dẫn du khách. Các cơ sở du lịch cần quan tâm, phát huy được tiềm năng này của đồng bào, một mặt vừa giúp du khách có những phút thư giãn nghỉ ngơi có chất lượng, nâng cao sức khỏe, đồng thời cũng là một cách quảng bá những đặc sản của đồng bào dân tộc, giúp đồng bào tăng thu nhập từ chính nguồn tài nguyên khai thác trong tự nhiên và bằng chính vốn văn hóa cổ truyền của dân tộc mình. Đây cũng là một sản phẩn trong hoạt động kinh doanh du lịch mang tính đặc thù, độc đáo của vùng đất này.

3. Một số giải pháp văn hóa nhằm phát triển bền vững trong hoạt động du lịch

Du lịch và văn hóa là hai thực thể gắn bó chặt chẽ với nhau trong hoạt động kinh doanh du lịch. Nói văn hóa du lịch là nói đến hai mặt: một là cách ứng xử của người làm du lịch trong hoạt động du lịch; hai là trình độ thao tác phục vụ trong du lịch. Một khái niệm bao hàm hai vấn đề: hình thức - ý thức và nội dung - tri thức. Nếu như vấn đề thứ nhất thuộc về văn hóa ứng xử, phong cách ứng xử, thái độ ứng xử thì vấn đề thứ hai thuộc về trình độ, chuyên môn, nghiệp vụ. Phải thông qua quá trình đào tạo mang tính chuyên nghiệp trong hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch. Phát triển du lịch bền vững phải có sự đồng bộ cả hai vấn đề này [4, tr.27].

   Hoạt động du lịch ở vùng biên giới Việt Nam - Trung Quốc nói riêng, ở Việt Nam nói chung muốn đáp ứng nhu cầu du khách, thu hút du khách trong và ngoài nước trở lại nhiều lần trong một điểm đến cần phải đào tạo, bồi dưỡng văn hóa du lịch.

Người làm du lịch cần có một nhận thức sâu sắc về những giá trị của văn hóa Việt Nam, những giá trị của văn hóa các dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, trong mối quan hệ giữa văn hóa Việt Nam với văn hóa các dân tộc Việt Nam - Trung Quốc để tổ chức tốt các hoạt động du lịch. Phải am hiểu, tự hào về tính độc đáo, tính truyền thống và đa dạng trong văn hóa các dân tộc (từ tín ngưỡng, tôn giáo, phong tục đến tập quán, sinh hoạt, ẩm thực..).   

Bồi dưỡng văn hóa du lịch cho tất cả các đổi tượng tham gia làm du lịch là một việc làm cần thiết và thường xuyên. Làm thế nào để đồng bào hiểu, tự hào về quê hương mình, hiểu biết, giải thích, giới thiệu cho du khách những nét độc đáo về văn hóa của dân tộc mình một cách thấu đáo, nhiệt tình, thể hiện một phong cách giao tiếp lịch sự, mến khách, thân thiện và không "chặt chém", không "quay lưng" với du khách. Phải làm sao cho du khách vui vẻ rút tiền chi trả mà vẫn thoái mái, cảm ơn.

Văn hóa giao tiếp ứng xử trong hoạt động kinh doanh du lịch cũng phải thường xuyên được trau dồi, rèn luyện. Khi giao tiếp nếu không tuân thủ các chuẩn mực, các qui tắc thì dễ bị đánh giá là “thiếu văn hoá”,“Nỗi hổ thẹn” thậm chí bị cho là “hỗn láo” hoặc nhẹ nhàng hơn “không lịch sự”. Nói như Feurzinger: Giao tiếp không cần kiểu cách gì hết, cứ thật tình, lương thiện, kính trọng giá trị kẻ khác rồi cư xử tự nhiên là nắm được 2/3 nghệ thuật gây thiện cảm [2, tr.3].

Muốn hoạt động du lịch ngày càng tốt hơn, đáp ứng nhu cầu của du khách và hiệu quả kinh tế cao trước hết phải thường xuyên bồi dưỡng, nâng cao nhận thức và ý thức làm du lịch cho các thành viên tham gia các hoạt động du lịch. Phải bắt đầu từ tất cả các đối tượng. Từ người dân bản địa đến nhà hàng, khách sạn, các bộ phận dịch vụ. Mọi hoạt động du lịch, kinh doanh, phục vụ nhằm đáp ứng nhu cầu của du khách, giá cả hợp lý, không chặt chém, nâng giá. Đối xử với du khách thân thiện, cởi mở, công bằng. Xử lí nghiêm (thậm chí rút giấy phép kinh doanh, dịch vụ có thời hạn hoặc vô thời hạn) với tất cả các đối tượng làm ảnh hưởng đến uy tín của địa phương trong lòng du khách.

Thường xuyên mở các lớp nâng cao nghiệp vụ văn hóa du lịch cho các đối tượng làm du lịch như: nghệ thuật giao tiếp, ứng xử trong hoạt động kinh doanh, dịch vụ du lịch; nghệ thuật bán hàng; nghiệp vụ hướng dẫn viên du lịch vv... Động viên và bắt buộc tất cả các đối tượng làm du tham gia học tập. Bắt đầu từ cán bộ, hướng dẫn viên du lịch đến bản, làng, khu dân cư, nhân viên nhà hàng, nhà nghỉ, khách sạn, các đối tượng dịch vụ liên quan đến hoạt động kinh doanh du lịch...

Ở những nơi gắn với tâm linh cần tạo không gian "thiêng", giáo dục, ngăn cấm, phạt tiền với những người bán hàng chèo kéo, o ép du khách mua hàng, làm phiền du khách... Có chính sách, chế tài khen thưởng, xử phạt nghiêm minh với tất cả những đơn vị, cơ quan, nhà hàng đến người dân có những hành vi, hoạt động làm ảnh hưởng đến uy tín, kinh doanh du lịch của địa phương.

Sản phẩm quan trọng của du lịch là du lịch văn hóa. Một khi yếu tố văn hóa trong du lịch được coi trọng hàng đầu thì kinh tế cũng theo đó mà phát triển theo cách "xuất khẩu tại chỗ". Tuyên bố Ô-sa-ka của Hội nghị Bộ trưởng Du lịch thế giới vẫn còn nguyên giá trị khi nhìn nhận: "Du lịch là con đẻ của hòa bình, là phương tiện củng cố hòa bình, là phương tiện cân bằng cán cân thanh toán quốc tế". Rõ ràng, không phải ngẫu nhiên mà du lịch hiện đang trở thành ngành kinh tế quan trọng bậc nhất thế giới, sánh ngang với các ngành sản xuất ô-tô, xe máy, kinh doanh vải vóc và thiết bị điện tử. Và càng không ngẫu nhiên mà Đảng ta, từ lâu cũng đã chỉ rõ: "Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp, mang nội dung văn hóa sâu sắc, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao.

Kết luận

Chỉ cần nhìn từ khía cạnh đa dạng văn hóa, từ lợi thế của sự khác biệt của một vùng đất huyền bí với sự đa dạng, phong phú của các nền văn hoá các dân tộc, một vùng đất hết sức giàu có về tri thức bản địa và đa dạng văn hoá. Lào Cai nói riêng, các tỉnh biên giới Việt Nam - Trung Quốc nói chung có đầy đủ tiềm năng, luôn là điểm đến hấp dẫn của khách trong nước và khách quốc tế. Vấn đề là làm thế nào để khai thác thật hiệu quả tiềm năng văn hóa trong hoạt động du lịch theo hướng phát triển bền vững để du lịch vừa trở thành ngành kinh tế mũi nhọn - ngành công nghiệp không ống khói, vừa là con đường để giao lưu, tiếp biến văn hóa năng động trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay.


Ngô Xuân Sao

 

Tin tức khác

Zalo phone Hotline