Ngày 12/08/20211265
Nhìn chung, do hoàn cảnh lịch sử về mặt địa - tộc người, cộng đồng các dân tộc thiểu số khu vực biên giới Việt Nam - Trung Quốc có quan hệ khá gắn bó mật thiết. Với nhiều tộc người, quan hệ tộc người xuyên biên giới đã trở nên một hiện tượng dân tộc học lịch sử rõ rệt và có sức sống lâu bền đến hôm nay.
Bài viết này muốn đi sâu vào khía cạnh quan hệ tôn giáo - tộc người của các dân tộc thiểu số ấy dọc tuyến biên giới Việt Nam - Trung Quốc, và trên cơ sở đó, bước đầu nêu ra một số ý tưởng về việc hai quốc gia có thể chung tay góp phần khai thác cái “không gian thiêng” độc đáo đó vào việc thúc đẩy sự giao lưu văn hóa các dân tộc và phát triển du lịch bền vững lưu vực sông Hồng như tiêu đề của cuộc hội thảo khoa học quốc tế hôm nay của chúng ta.
Bài viết có hai nội dung chính sau đây:
- Thứ nhất, phác họa mối quan hệ tôn giáo - tộc người của các dân tộc thiểu số dọc tuyến biên giới Việt Nam - Trung Quốc, trong đó nhấn mạnh các quan hệ tộc người xuyên biên giới của họ cũng như các mối quan hệ xã hội văn hóa trong lịch sử và hiện tại.
- Thứ hai, gợi ra những khả năng mà cả hai phía có thể khai thác cái “không gian thiêng” chung vào việc thúc đẩy giao lưu văn hóa các dân tộc và phát triển du lịch trong khu vực này.
1. Từ thực trạng quan hệ các tộc người xuyên quốc gia dọc tuyến biên giới Việt Nam - Trung Quốc đến các quan hệ tín ngưỡng tôn giáo
1.1. Vài nhận xét về thực trạng mối quan hệ các tộc người xuyên biên giới Việt Nam - Trung Quốc
Những năm gần đây, giới nghiên cứu dân tộc học hai nước đều thể hiện sự quan tâm của mình đối với vấn đề quan trọng này, thậm chí có thể coi đó là vấn đề mấu chốt của tính hiện đại trong nghiên cứu. Chúng ta đều biết các tác phẩm có giá trị gần đây của phía học giả Trung Quốc như Fan Hong Gui (1999; 2005), Chou Jian Xin (2001), Lou Xian You (2009)…Phía các học giả Việt Nam là những công trình của Viện Dân tộc học, của các trường đại học, trong đó đặc biệt là Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội.
Dù có những điểm khác nhau, nhưng cái nhìn của họ đều nhấn mạnh rằng, các dân tộc thiểu số vùng biên giới Việt Nam - Trung Quốc có một “thuộc tính lịch sử” là các “dân tộc vùng biên cương”. Điều quan trọng là phần lớn các dân tộc thiểu số của cả hai nước đều có những mối quan hệ khá sâu sắc về lịch sử, văn hóa (kể cả nguồn gốc tộc người). Khi nói đến người Zhuang vùng biên giới Quảng Tây - Trung Quốc, đều có thể nghĩ ngay đến những anh em đồng tộc là người Tày, Nùng ở Việt Nam và ngược lại.
Hiện nay, chúng ta đã có thể có một danh mục các tộc người xuyên biên giới Việt Nam - Trung Quốc, chẳng hạn theo tiêu chí phân loại các nhóm ngôn ngữ và nhóm tộc người như sau:
Với 6 nhóm ngôn ngữ chủ yếu như Mon - Khmer, người ta có thể tìm thấy mối liên hệ tộc người xuyên biên giới của người Kinh (Việt Nam) với người Jing (Trung Quốc) hoặc người Khmu (Việt Nam) với nhóm Kemu (Trung Quốc). Tương tự như vậy, với nhóm ngôn ngữ Hmong - Yao là người Hmong (Việt Nam) với người Miao (Trung Quốc), Dao (Việt Nam) với Yao (Trung Quốc); với nhóm Tạng - Miến là người Hà Nhì (Việt Nam) với người Hani (Trung Quốc); nhóm Tày - Thái là người Tày, Nùng (Việt Nam) với người Zhuang (Trung Quốc) hoặc người Thái (Việt Nam) với người Dai (Trung Quốc)…
Mặc dù quan điểm về đường biên giới quốc gia có thể rất khác nhau nhưng chúng ta vẫn có thể nói rằng, đường biên giới quốc gia, trước hết là một khái niệm chính trị, nhà nước, thậm chí là chủ quyền của dân tộc, lại thường không trùng khít với biên giới văn hóa và tộc người. Và các tộc người xuyên quốc gia bất cứ trong hoàn cảnh nào vẫn chia sẻ gìn giữ nhiều đặc điểm tương đồng và không ít những khác biệt, tạo nên tính đa dạng sinh động về văn hóa tộc người khu vực biên giới.
Tuy vậy, cũng cần lưu ý rằng các tộc người xuyên biên giới Việt Nam - Trung Quốc, theo giới dân tộc học (ít nhất từ phía Việt Nam) thì thường không phải là những thành phần cư dân đồng nhất về lịch sử tụ cư. Việc xác định những tộc người có tính cách “cư dân bản địa” cũng không dễ dàng, các dòng di cư từ các nước láng giềng đến, với Việt Nam, thì có thể số đông có nguồn gốc xuất phát từ Trung Quốc, nhưng sự biến đổi của họ về văn hóa - xã hội lại tùy thuộc vào nhiều các điều kiện khác.Đặc biệt, trong quá trình hình thành quốc gia dân tộc, quá trình cộng cư cũng như mối quan hệ gắn bó với dân tộc đa số - người Việt khiến những chiều kích của văn hóa lịch sử trong các dân tộc thiểu số ấy ở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam có nhiều sắc thái mới.
1.2. Những động thái tôn giáo tín ngưỡng của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam khu vực biên giới Việt Nam - Trung Quốc
Chúng ta biết rằng, tôn giáo tín ngưỡng và các động thái của nó luôn gắn với các quan hệ dân tộc và ở mức độ nào đó là yếu tố quan trọng của sự ổn định chính trị - xã hội cũng như duy trì hay làm biến đổi văn hóa tộc người. Hơn nữa, tùy theo mỗi tôn giáo tín ngưỡng, động thái của nó còn liên quan đến vấn đề môi trường - một trong những tiêu chí đánh giá phát triển bền vững tại một địa phương, khu vực, vùng. Ngoài ra, tôn giáo tín ngưỡng và các động thái, nhất là các tôn giáo lớn còn có những ảnh hưởng không nhỏ đến phát triển kinh tế ở trên địa bàn với vai trò tác động trực tiếp hay gián tiếp đến các mối quan hệ kinh tế của các giáo dân, tạo ra những cách ứng xử tích cực hay tiêu cực của giáo dân với chính sách dân tộc và các chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước, kể cả kế hoạch, chỉ tiêu phát triển của địa phương nơi có tôn giáo.
Đối với môi trường, trong bối cảnh hiện nay, một số khu vực của không ít tộc người thiểu số ở vùng sâu vùng biên giới vẫn duy trì được các khu rừng thiêng, rừng ma, rừng đầu nguồn… là do vai trò tín ngưỡng của họ. Người dân ở các địa phương đó đến nay vẫn cho rằng ở đó có các vị thần trú ngụ với mục đích phù hộ sức khỏe cho mỗi thành viên trong bản… nên phải cấm phát làm nương, kỵ chặt cây, không chăn thả gia súc. Đối với các tôn giáo lớn như Tìn Lành, Phật giáo, Công giáo, Hồi giáo…cũng có những tác động tích cực đến tình trạng môi trường sinh thái. Ở khía cạnh tích cực có thể kể tới một số như việc trồng cây xanh tại những nơi hành lễ, xung quanh nhà nguyện, nhà thời…Tuy nhiên, ở những mức độ nhất định, mỗi loại tôn giáo cũng có ảnh hưởng không thân thiện đến môi trường, chẳng hạn như việc xây dựng nới thờ tự của một số đạo mới. Tại các khu vực biên giới, những người truyền bá những đạo có thể là Phật giáo, Khổng giáo, Công giáo…mà người dân địa phương gọi là đạo là do trái với tôn giáo tín ngưỡng truyền thống của họ, thường dựng nơi thờ tại địa điểm dễ cầu cúng hoặc dễ thực hành nhưng đều ở địa bàn khá hẻo lánh, thậm chí cạnh núi đá. Sau một thời gian nếu chính quyền địa phương không cấm, những người ở nơi khác, kể cả người dân trong khu vực bị ảnh hưởng bởi đạo mới thường đến đó cầu cúng theo thời gian thường xuyên hoặc định kỳ với số lượng người ngày cang đông. Do đó, những nơi có hiện tượng này đã gây ra không ít tổn hại cho môi trường xung quanh về cảnh quan, sự yên tĩnh, sự trong lành, thậm chí phá vỡ sinh thái do nơi thờ ngày càng được mở rộng và tôn tạo.
Trong lĩnh vực ổn định chính trị - xã hội, động thái tôn giáo tín ngưỡng có một vị trí to lớn, do có ảnh hưởng trực tiếp đến đại đoàn kết các cộng đồng dân cư ở địa phương qua những tác động và tạo ra các quan hệ dân tộc với những xu hướng khác nhau. Thậm chí, gây mâu thuẫn cục bộ và xung đột giữa các tôn giáo và giáo phái, phân biệt giữa những bộ phận theo và không theo tôn giáo. Đặc biệt, vấn đề động thái tôn giáo tín ngưỡng thường bị các thế lực thù địch lợi dụng dưới nhiều hình thức để liên kết các cộng đồng tôn giáo thành một lực lượng với mục đích chính trị là gây mất ổn định an ninh xã hội trên địa bàn, phá hoại thành quả đổi mới đất nước, đòi ly khai tự trị…Việc này hiện nay được coi là vấn đề bức xúc, đang nổi lên ở nhiều khu vực và nhiều địa bàn thuộc biên giới nước ta, từ miền núi phía Bắc đến Tây Nguyên, Tây Nam Bộ. Có thể nói, một trong những trọng tâm trọng điểm hiện nay của các thế lực thù địch là bằng mọi hình thức với mọi âm mưu để lợi dụng và kích động sự bùng nổ các sự kiện nhạy cảm liên quan đến các dân tộc và tôn giáo…
Đối với văn hóa cộng đông và bản sắc tộc người, thực tế gần đây đã chứng minh ở những bộ phận của những dân tộc bị lôi kéo theo một số tôn giáo lớn như Tin Lành hoặc Công giáo với đặc điểm là làm mất đi các yếu tố văn hóa truyền thống tộc người, thay vào đó là văn hóa tôn giáo trên nhiều lĩnh vực, nhất là lĩnh vực tinh thần và tập quán ăn uống, thực hiện các nghi lễ gia đình. Sự đồng nhất tương đối về văn hóa tôn giáo đối với những bộ phận dân cư của những tộc người bị ảnh hưởng bởi cùng một tôn giáo lớn, nhất là Tin Lành đang là nguy cơ tạo ra mối liên kết cố kết theo dạng tộc người - tôn giáo. Bên cạnh đó, do ở các khu vực biên giới, trên cơ sở các mối liên kết đó, các giáo dân cũng như các tổ chức của mỗi tôn giáo còn có cơ hội phát triển các động thái mở rộng giao lưu, quan hệ xuyên biên giới với những cá nhân, những tổ chức đồng tộc người hoặc khác tộc nhưng đồng tôn giáo. Thực tế này đang diễn ra một cách nhanh chóng đối với bộ phận là giáo dân Tin Lành ở tộc người Hmông ở Tây Bắc, Tây Nguyên hoặc Islam của dân tộc Chăm vùng Tây Nam Bộ…Đây không chỉ là hình thức mở rộng sự cố kết tôn giáo xuyên quốc gia mà còn thể hiện sự tăng cường củng cố những đặc điểm văn hóa tôn giáo, từng bước bài trừ các đặc điểm văn hóa truyền thống của tộc người...
1.3. Nghiên cứu trường hợp: đạo Tin Lành và người Hmông ở Việt Nam hiện nay
1.3.1. Tình hình đạo Tin Lành ở Tây Bắc (Việt Nam) hiện nay
Đầu những năm 30 của thể kỷ XX, sau khi xây dựng được một số cơ sở ở thành phố Hà Nội, Hải Phòng, tỉnh Nam Đinh, Hải Dương, Hội truyền giáo Phúc âm liên hiệp (CMA) của Mỹ và Hội thánh Tin Lành Việt Nam bắt đầu tổ chức truyền giáo lên vùng dân tộc thiểu số các tỉnh Lạng Sơn, Lào Cai, Cao Bằng, Hòa Bình, Sơn La, Lai Châu. Tuy nhiên, đến năm 1954 mới chỉ có một lượng tín đồ nhỏ, rải rác ở một số địa phương, đông nhất là nhóm tín đồ người Thái ở tỉnh Sơn La, người Hmông ở tỉnh Lào Cai, người Mường ở tỉnh Hòa Bình và người Dao ở huyện Bắc Sơn (tỉnh Lạng Sơn). Giai đoạn 1954 - 1975, hầu hết các nhóm Tin Lành nói trên đều hoạt động yếu ớt và tự tan rã, trừ bộ phận người Dao ở tình Lạng Sơn chính thức trở thành một chi hội của Tộng Hội thánh Tin Lành Việt Nam (miền Bắc).
Từ giữa những năm 80 của thể kỷ XX, Tin Lành tiếp tục được truyền vào các dân tộc thiểu số vùng Tay Bắc và phát triển mạnh mẽ cho đến nay, nhất là ở người Hmông. Đến tháng 6 năm 2004, tại Tây Bắc có khoảng 103.141 người tin theo, đại đa số là người Hmông (chí có khaorng 1.920 người Dao và 250 người thuộc các dân tộc khác như: Cao Lan - Sán, Cơ Lao, Pà Thèn, Hà Nhì, La Ha, Màng, Thái,…). Các tỉnh có nhiều người theo Tin Lành nhất là Lai Châu (14.294 người), Điện Biên (20.257 người), Lào Cai (7.193 người), Sơn La (4.113 người)…Đến giữa năm 2009 số tín đồ Tin Lành ở Tây Bắc đã tăng lên khoảng 22.132 hộ với 116.674 người.
Rõ ràng, vấn đề người Hmông theo đạo Tin Lành ở Tây Bắc hiện nay là hiện tượng tiêu biểu cho những động thái, những biến chuyển tâm thức tôn giáo cũng như những biến động kinh tế - xã hội ở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam hiện nay. Không chỉ vậy, nếu nghiên cứu sâu về quá trình xâm nhập của Kitô giáo vào cộng đồng này, chúng ta còn thấy có liên quan đến vấn đề “quan hệ tộc người xuyên biên giới” như chúng tôi đã đề cập ở phần trên.
1.3.2. Mối quan hệ truyền giáo
Trước những năm 1990, người Hmông ở Việt Nam chủ yếu cư trú ở những địa phương thuộc các tỉnh miền núi phía Bắc tiếp giáp với biên giới Việt Nam - Trung Quốc và Việt Nam - Lào.
Người Hmông ở Việt Nam hiện nay là hậu duệ của những người Hmông, một trong 3 nhóm của dân tộc Miao, đã di cư từ một số tỉnh Nam Trung Quốc, chủ yếu là từ Quý Châu, Vân Nam, Hà Nam và Quảng Tây sang Vệt Nam cách đây khoảng hơn 200 năm. Cụ thể các cuộc di cư của họ bắt đầu diễn ra khoảng cuối thế kỷ XVIII và kéo dài tới giữa thế kỷ XX hay tới khi Trung Quốc được giải phóng.
Sau chiến tranh Việt Nam (1975 ), từ Đông Dương, chủ yếu từ Lào có hàng trăm ngàn người Hmông đã di tản sang các nước Tây Âu, Bắc Mỹ. Vì thế ngoài các “địa bàn cư trú truyền thống” của người Hmông như các tỉnh Nam Trung Quốc, Việt Nam (Bắc), Lào; thì đã hình thành một bản đồ địa - cư trú mới của cộng đồng Hmông.
Một số nhà nghiên cứu có tên tuổi về lịch sử người Hmông, chẳng hạn ý kiến của Christan Culas dưới đây gợi cho ta thấy mối quan hệ dân tộc và tôn giáo của những tộc người xuyên biên giới Việt Nam - Trung Quốc:
- Thứ nhất, nếu có vấn đề “Tổ quốc Hmông” thì phải lưu ý Nam Trung Quốc vẫn là “Quốc gia Mèo thiểu số” với khoảng 7,4 triệu người (1990).
- Thứ hai, ở vùng Đông Nam Á thì hai khu vực biên giới Trung Quốc - Lào và Trung Quốc - Việt Nam là quan trọng nhất vì ít nhất thì cộng đồng này cũng có khoảng 1,2 triệu người. Nếu kể cả khu vực Đông Bắc Thái Lan con số ấy vượt trên 1,5 triệu người.
Trong việc cải đạo của Người Hmông theo đạo Kitô ở miền Bắc Việt Nam luôn có sự gắn bó với những sự kiện xảy ra đồng thời Miao (Quảng Tây, Trung Quốc).
Ở Tây Bắc, ai cũng biết giáo sĩ đầu tiên truyền giáo ở Sa Pa cho người Hmông là cố đạo Đại uý Savina tên Việt là Cha Vị (thuộc Hội truyền giáo nước ngoài Paris, gọi tắt là MEP). Năm 1924 - 1925 Savina mời thêm hai đoàn giáo sĩ người Hmông ở Vân Nam thuộc Hội truyền giáo lục địa Trung Quốc (Chinese Inland Missions) vào Sa Pa tăng cường truyền đạo.
Từ 1921, thời điểm Savina rửa tội cho Mã A Thông thôn Hang Đá (xã Hầu Thào, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai), đến năm 1985, qua bao biến động vẫn còn 65 hộ gia đình Hmông Sa Pa giữ đạo. Cho đến trước năm 1980, người Hmông Việt Nam chỉ đi theo Công giáo với số lượng không vượt quá 20 ngàn người, chủ yếu chỉ tập trung ở các trung tâm hành chính và quân cự của người Pháp ở các huyện Sa Pa, Bắc Hà, Bảo Thắng… Đa số người Hmông vẫn còn theo tín ngưỡng truyền thống.
Tình hình những năm gần đây đã khác hẳn: Từ thập kỷ 80 - 90 của thế kỷ XX, việc truyền đạo đã song song cả Công giáo và Tin Lành và riêng với Tin Lành có sự phát triển đột biến.
Từ năm 1993, đạo Tin Lành sau khi đã gây ảnh hưởng ở vùng dân tộc Mông đã bắt đầu phát triển sang các dân tộc khác.
Tháng 7/1993, một số đối tượng là người dân tộc đã đến vùng dân tộc Dao ở huyện Sìn Hồ, Mường Tè (Lai Châu), Bát Xát (Lào Cai) để tuyên truyền phát triển đạo Tin Lành. Đến cuối năm 1993 đã có 17 khẩu ở Huổi Luông, Sìn Hồ (Lai Châu) tin theo. Trong các năm 1997 - 1998, 2000, 2001 một số đối tượng người Trung Quốc nhập cảnh trái pháp luật vào truyền đạo “Thìn Hùng” ở vùng dân tộc Dao của 2 huyện Phong Thổ, Sìn Hồ (Lai Châu), nhưng đồng bào Dao ở những vùng này không tiếp nhận luận điệu tuyên truyền của số đối tượng trên.
* Tác động Tin Lành từ các đối tượng ở Trung Quốc và Lào
- Từ năm 1998 đến nay ở các địa phương đã phát hiện 27 người Trung Quốc thuộc tỉnh Vân Nam nhập cảnh trái pháp luật có hoạt động tuyên truyền phát triển đạo Tin Lành trong dân tộc Mông, Dao, La Hủ, Cao Lan ở các tỉnh Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang. Chúng đã tổ chức các cuộc tụ họp tuyên truyền đạo ở địa bàn biên giới và kéo hơn 20 người các dân tộc Mông, La Hủ sang Trung Quốc học giáo lý, nhận tài liệu truyền đạo (kinh sách, băng casset) để về Việt Nam hoạt động. Ta trao đổi công khai với Trung Quốc nhưng chưa được thông báo trở lại các thông tin cụ thể về đối tượng và công tác xử lý của Trung Quốc.
Nếu tính tất cả các tỉnh miền núi phía Bắc, số lượng đồng bào các dân tộc thiểu số theo đạo Tin Lành lên đến gần 80 ngàn người, chưa kể khoảng 20 ngàn đồng bào Mông di cư tự do vào khu vực Tây Nguyên và một số di cư sang Lào, Trung Quốc.
- Ngày nay, khi xem xét địa - chính trị xã hội vùng Tây Bắc cũng còn phải gắn với “tính hiện đại” của vấn đề khi mà chẳng bao lâu nữa, khi khu vực Hành lang kinh tế Đông Tây, tuyến hành lang châu Á xuyên qua đây. Trước mắt, trong không gian tiểu vùng sông Mêkông, Tây Bắc cũng đã bắt đầu hội nhập quốc tế bằng đột phá theo công thức “2 hành lang 1 vành đai” như thoả thuận gần đây giữa Việt Nam và Trung Quốc. Chắc không lâu, nhiều con em dân tộc thiểu số Tây Bắc không về thành phố Hà Nội học mà qua tỉnh Vân Nam - Trung Quốc học (giá rẻ hơn).
Như vậy là, chỉ riêng trường hợp cộng đồng Hmông Việt Nam ở các tỉnh biên giới Việt Nam - Trung Quốc cũng cho ta thấy rõ mối quan hệ gắn bó giữa các dân tộc thiểu số Việt Nam - Trung Quốc trong sự chuyển biến tôn giáo - tín ngưỡng nói chung và nói riêng là sự phát triển đột biến của đạo Tin Lành những gần đây trong khu vực này. Điều này đương nhiên có nhiều ý nghĩa chính trị - xã hội, thậm chí ở một mức độ nhất định là quan hệ hai quốc gia. Mặt khác, đây cũng là cơ sở thực tiễn khách quan để cả hai nước trong khi hoạch định chính sách, quản lý nhà nước về tôn giáo, đồng thời nó là cơ sở khoa học khách quan để cùng khai thác trao đổi văn hóa, du lịch
2. Một số ý kiến về việc phối hợp khai thác “không gian thiêng” của hai nước ở khu vực biên giới Việt Nam - Trung Quốc.
2.1. Như vậy là, do những điều kiện của lịch sử - tộc người, dọc tuyến biên giới Việt Nam - Trung Quốc của hai quốc gia đã có rất nhiều cộng đồng các dân tộc thiểu số (với cả hai nước) đã hình thành mối quan hệ tộc người xuyên quốc gia/ liên quốc gia và những nhóm tộc người như thế vẫn duy trì được mối quan hệ dân tộc, kinh tế, văn hóa… chặt chẽ. Ngày hôm nay, trong hoàn cảnh mở cửa hội nhập của cả hai quốc gia, những mối quan hệ này càng có thêm sắc thái mới. Trên cơ sở đó, mối quan hệ về tôn giáo, tín ngưỡng của các tộc người xuyên biên giới như thế cũng phát triển theo quy luật ấy. Các nhà nghiên cứu dân tộc học, sử học, nghệ thuật học cũng đã chỉ ra cho chúng ta những mối quan hệ về văn hóa tôn giáo, tín ngưỡng của các cộng đồng dân tộc này. Biết bao những lễ hội như Cấp sắc của người Dao, Hội Lùng tùng của người Tày - Nùng, Hội Xòe của người Thái và biết bao hình thức sinh hoạt tín ngưỡng khác đều có nhiều biểu hiện chung cho cả hai phía.
Riêng vấn đề tôn giáo, như chúng tôi “chọn mẫu nghiên cứu” là cộng đồng người Hmông của Việt Nam cũng đã cho thấy rằng mọi động thái chuyển biến đời sống tôn giáo, kể từ khi có những giáo đoàn truyền giáo đầu tiên cũng bắt nguồn từ những quan hệ thân tộc xuyên biên giới. Trường hợp xuất hiện đạo Công giáo cũng như đạo Tin Lành những thập kỷ gần đây ở các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc của Việt Nam cũng có một nguồn lực truyền giáo từ các tỉnh Nam Trung Quốc và đôi khi là ngược lại.
Tất cả những điều đó đã tạo nên một “không gian thiêng” bao trùm dọc tuyến biên giới Việt Nam - Trung Quốc mà dù trải qua bất kỳ mọi sự biến động về chính nào cũng không thể làm mất đi hay biến dạng cái “không gian thiêng” đó.
2.2. Sự biến chuyển đời sống tôn giáo ngày hôm nay trong khu vực biên giới Việt Nam - Trung Quốc chắc hẳn đã có thêm những nhân tố mới. Tham luận của chúng tôi dù chưa có điều kiện đề cập đến “hiện tượng tôn giáo mới” (new religions), mà theo các gọi cách gọi là Việt Nam là đạo lạ hay của Trung Quốc là tà giáo (dĩ nhiên đây là những hiện tượng tôn giáo mới khá phức tạp từ nửa cuối thế kỷ XX đến nay ở cả hai nước mà trong nhận thức, chính sách ứng xử với hiện tượng này ở hai nước cũng có những điểm khác biệt dù đại thể cách nhìn nhận khá giống nhau). Tuy vậy, qua việc nghiên cứu hiện tượng phát triển đột biến của đạo Tin Lành ở Việt Nam nói chung, nói riêng trong các cộng đồng dân tộc thiểu số các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam lại mở ra những vấn đề mới mẻ về phương diện chính trị, xã hội và văn hóa của cả Việt Nam và Trung Quốc. Chúng tôi cũng được biết dù thông tin chưa đầy đủ, về sự phát triển của đạo Tin Lành trong các cộng đồng dân tộc thiểu số ở Nam Trung Quốc. Điều này chắc hẳn có liên hệ đến vấn đề “ba thị trường" tôn giáo của Trung Quốc. Lẽ dĩ nhiên, chính sách của Trung Quốc và Việt Nam có khác nhau với vấn đề này. Ở Việt Nam, như đã nói ở phần trên, từ sau khi có Chỉ thị số 01-2005 của Chính phủ, phần lớn các hệ phái Tin Lành chính ở Việt Nam đã được công nhận, kể cả trong các cộng đồng thuộc khu vực dân tộc thiểu số…
Dù sao, những điều này vẫn có thể dẫn tới một điểm chung là yếu tố tôn giáo hôm nay rõ ràng có một bước phát triển mới với “trường ảnh hưởng” của các tôn giáo đương đại, đặc biệt như trường hợp đạo Tin Lành - một tôn giáo mà tính “phổ quát toàn cầu” về văn hóa, lối sống và hành đạo có tính quốc tế, tính hiện đại rất cao. Như vậy, cái không gian thiêng ngày hôm nay trong cộng đồng các dân tộc thiểu số, nhất là trong các tộc người có hình thái xuyên biên giới như chúng tôi đã phân tích càng đậm nét, phong phú hơn.
2.3. Với một cách nhìn như thế, ít nhất từ phương diện tôn giáo học, địa - tôn giáo và chừng mực nào đó địa - văn hóa thì ít nhất chúng ta có thể rút ra một hệ luận quan trọng: trong việc thúc đẩy mối quan hệ giao lưu văn hóa, kinh tế và đặc biệt phát triển du lịch giữa hai quốc gia dọc tuyến biên giới Việt Nam - Trung Quốc nói chung hay nói riêng hay dọc tuyến sông Hồng thì có lẽ lãnh đạo các tỉnh biên giới cả hai bên cần lưu tâm nghiên cứu khai thác những thông điệp về quan hệ văn hóa, dân tộc, xã hội, phong tục tập quán của cái “không gian thiêng” ấy. Đương nhiên, tất cả chúng ta đều hiểu rằng du lịch văn hóa ở mọi khu vực, mọi quốc gia đều không thể không khai thác những giá trị văn hóa tôn giáo vốn rất phổ biến. Bởi vì nói cho cùng tôn giáo, văn hóa tôn giáo vẫn luôn là một trong những yếu tố quyết định đến bản sắc tộc người, đến diện mạo, tâm hồn của con người và văn hóa của nó.
GS.TS. Đỗ Quang Hưng