(069). 518.055

Toàn cầu hoá kinh tế và quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam

Ngày 07/08/2021960

oàn cầu hoá là một xu thế khách quan, bởi toàn cầu hoá là động lực phát triển của lực lượng sản xuất; lực lượng sản xuất thì không ngừng lớn mạnh đó là quy luật chung nhất cho mọi thời đại, mọi chế độ xã hội.

Trong xã hội phong kiến lực lượng sản xuất còn hết sức thấp kém, các yếu tố của quá trình sản xuất đóng khung, sự vận động trong phạm vi cai quản của lãnh chúa phong kiến theo kiểu “nội bất xuất, ngoại bất nhập”. thị trường bị vây chặt trong địa hạt của lãnh chúa.

cuộc cách mạng công nhiệp lần thứ nhất diễn ra, lực lượng sản xuất phát triển cao hơn, quan hệ sản xuất phong kiến không thể dung nạp nổi sự phát triển của lực lượng sản xuất, các cuộc cách mạng tư sản đã lật đổ chế độ phong kiến. chủ nghĩa tư bản ra đời đã phá bỏ các rào cản do lãnh chúa thiết lập và áp chế, đã hình thành được thị trường dân tộc. nhưng do lực lượng sản xuất không ngừng phát triển, thị trường dân tộc đã không chứa nổi nhu cầu phát triển của lực lượng sản xuất. do đó, nhà nước của giai cấp tư sản đã phát động các cuộc chiến tranh xâm lược thuộc địa. xét cho cùng các cuộc chiến tranh này cũng là để tìm kiếm các thị trường: nguyên liệu, sức lao động và thị trường tiêu thụ sản phẩm...

từ đầu thế kỷ xx, đặc biệt là sau thắng lợi vĩ đại của cách mạng tháng mười nga, với sự ra đời của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới, cùng với phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, hàng loạt quốc gia đã giành được độc lập dân tộc, xoá bỏ chủ nghĩa thực dân cũ. chủ nghĩa tư bản không thể chiếm giữ thị trường bằng súng đạn mà bằng một biến thái khác là chủ nghĩa thực dân mới. về bản chất, đó là một phương cách chiếm giữ thị trường bằng các thủ đoạn khác. trong khi đó, những thành tựu của cuộc cách mạng kỹ thuật và công nghệ thông tin trong những năm cuối thế kỷ 20 đã làm tăng tốc sự phát triển của lực lượng sản xuất, đưa loài người từ xã hội công nghiệp sang xã hội hậu công nghiệp và đang bước vào ngưỡng cửa của xã hội thông tin, nền kinh tế tri thức. chính sự phát triển mạnh mẽ này, về khách quan đã dặt ra yêu cầu mở rộng thị trường lên một tầm mức mới, bằng những phương cách mới. từ đó xuất hiện “toàn cầu hoá về kinh tế”. mác là người đầu tiên phát hiện ra quá trình có tính khách quan này khi ông viết: “đại công nghiệp tạo ra thị trường thế giới, thay cho tình trạng cô lập trước kia của các địa phương, dân tộc vẫn tự cung tự cấp, ta thấy phát triển những mối quan hệ phổ biến, sự phụ thuộc phổ biến của các dân tộc”

trong thời đại ngày nay, khi mà các yếu tố của sản xuất đã được quốc tế hoá một cách sâu sắc, không một quốc gia nào có thể đạt được tăng trưởng kinh tế với tốc độ cao nhằm rút ngắn khoảng cách phát triển nếu không tham gia vào quá trình này, nhất là toàn cầu hoá luôn gắn với cải cách cơ cấu kinh tế của từng nước dẫn đến sự chuyển dịch cơ cấu giữa các nước. điều đó giải thích tại sao tổ chức thương mại thế giới (wto) định chế cơ bản của toàn cầu hoá- bao gồm 150 nền kinh tế thành viên, chiếm 97% gdp, 85% tổng thương mại hàng hoá, 90% tổng thương mại dịch vụ toàn cầu. các nước chưa phải là thành viên của wto như: nga, việt nam, ucraina, arập xê-út… cũng đang khẩn trương đàm phán để được gia nhập tổ chức wto. như vậy, cùng với việc gia nhập liên hiệp quốc; việc trở thành thành viên của wto các nước mới có quyền có tiếng nói chính thức thể hiện lập trường của mình về chương trình nghị sự kinh tế toàn cầu. để có vị thế vững chắc trong hợp tác và đấu tranh trên diễn đàn của tổ chức thương mại thế giới còn cần nhiều yếu tố hội thành điều kiện đủ.

tổ chức thương mại thế giới tiền thân là hiệp định chung về thuế quan và thương mại (gatt-11/1947) được thành lập và chính thức đi vào hoạt động ngày1/1/1995. hiện nay wto có 150 nước thành viên và 30 nước quan sát viên.

cơ cấu chính của wto gồm có: cơ quan quyết định cao nhất: hội nghị bộ trưởng wto gồm đại diện tất cả các nước thành viên, thông thường họp 2 năm một lần. đại hội đồng là cơ quan quyết định giữa các hội nghị bộ trưởng. dưới đại hội đồng là các hội đồng, uỷ ban và nhóm công tác chuyên ngành liên quan đến thương mại.

ban thư ký wto có 550 thành viên, tổng giám đốc, ban thư ký do hội nghị bộ trưởng uỷ nhiệm, ban thư ký của wto trực thuộc sự chỉ đạo của tổng giám đốc wto và có trụ sở tại giơnevơ, thụy sĩ.

wto có 6 chức năng hoạt động chính là: quản lý việc thực hiện các hiệp định thương mại của wto; tạo khuôn khổ thể chế cho các vòng đàm phán thương mại; giải quyết tranh chấp giữa các thành viên; giám sát chính sách thương mại của các thành viên; hỗ trợ kỹ thuật và đào tạo các thành viên đang chậm phát triển; hợp tác với các tổ chức quốc tế khác.

wto có 5 nguyên tắc cơ bản làm nền tảng cho hệ thống thương mại đa phương đó là: thương mại không phân biệt đối xử; tự do hoá thương mại thông qua đàm phán; chính sách thương mại minh bạch và dễ dự đoán; thúc đẩy cạnh tranh bình đẳng; khuyến khích phát triển và cải cách kinh tế tại từng thành viên.

các nước tham gia quá trình toàn cầu hoá kinh tế thể hiện trong các hiệp định của wto về mở cửa thị trường, các nước tham gia tổ chức wto phải mở cửa thị trường nước mình cho các nước thành viên về cả thương mại hoá, thương mại dịch vụ và đầu tư. để mở cửa thị trường về thương mại hoá các nước phải loại bỏ các hàng rào phi quan thuế cản trở thương mại, phải giảm thuế nhập khẩu (mức độ và lộ trình cắt giảm còn phụ thuộc vào kết quả đàm phán). để mở cửa thị trường dịch vụ, mỗi nước phải chấp nhận để các nước thành viên cung ứng dịch vụ cho pháp nhân nước mình theo phương thức: cung ứng qua biên giới; tiêu dùng ngoài lãnh thổ; hiện diện thương mại; hiện diện thể nhân.

mở cửa thị trường đầu tư: yêu cầu đặt ra là các nước phải mở cửa thị trường của nước mình cho các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào nước mình mà không hạn chế lĩnh vực đầu tư, trừ những lĩnh vực có liên quan đến an ninh quốc gia, truyền thống văn hoá dân tộc.

khi mở cửa thị trường theo ba lĩnh vực nêu trên, mỗi thành viên của wto phải tuân thủ các nguyên tắc: không phân biệt đối xử; thực hiện minh bạch công khai trong cơ chế chính sách; thực hiện bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ; tuân thủ cơ chế giải quyết tranh chấp của wto và sự phán xử của cơ quan tài phán quốc tế do tổ chức này thiết lập. ngoài 4 nguyên tắc trên, các nước thành viên còn phải tuân thủ hàng chục hiệp định khác của tổ chức thương mại thế giới.

khi một quốc gia thực hiện mở cửa thị trường theo các nội dung và nguyên tắc trên đây tức là nước đó đã tham gia vào quá trình toàn cầu hoá kinh tế và do vậy, quốc gia đó cũng đang hội nhập vào dòng chảy chung của nền kinh thế thế giới.

chủ tịch hồ chí minh là người đầu tiên chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế của việt nam. ngay từ tháng 12 -1946, trong lời kêu gọi liên hiệp quốc, hồ chí minh đã đề cập: “đối với các nước dân chủ, nước việt nam sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực: nước việt nam dành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu tư của các nhà tư bản, nhà kỹ thuật nước ngoài trong tất cả các ngành kỹ nghệ của mình; nước việt nam sẵn sàng mở rộng các cảng, sân bay và đường sá giao thông cho việc buôn bán và quá cảnh quốc tế; nước việt nam chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế dưới sự lãnh đạo của liên hiệp quốc…”

đảng ta đã đề ra đường lối đổi mới và chủ trương hội nhập từ đại hội đảng lần thứ vi (1986), đó là đường lối đổi mới xã hội về mọi mặt. đại hội vii của đảng chủ trương “đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ đối ngoại”. nghị quyết tw 3 (khoá vii) ngày29/6/1992 xác định “cố gắng khai thông quan hệ với các tổ chức tài chính, tiền tệ quốc tế, mở rộng hợp tác với các tổ chức khu vực, trước hết là châu á, thái bình dương” đại hội viii xác định: “ mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động tham gia các tổ chức quốc tế và khu vực”. nghị quyết tw 4 (khoá viii) ngày 29/12/1997: nguyên tắc hội nhập quốc tế của ta là “trên cơ sở phát huy nội lực, thực hiện nhất quán lâu dài chính sách thu hút các nguồn lực bên ngoài”, “tích cực và chủ động thâm nhập và mở rộng thị trường quốc tế”. đại hội ix của đảng xác định: “phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững”. đại hội x cũng đã khẳng định mục tiêu 2006 -2010 “mở rộng quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế…”. như vậy, đường lối đổi mới và chủ trương hội nhập của việt nam là nhất quán và đã tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực.

việt nam đã có những bước đi rất cơ bản trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, đã thiết lập quan hệ ngoại giao với trên 167 nước, mở rộng quan hệ thương mại với trên 155 nước, thu hút đầu tư trực tiếp của các tập đoàn và công ty thuộc 70 nước và vùng lãnh thổ, tranh thủ viện trợ phát triển của 45 nước và định chế tài chính quốc tế. năm 1992 khai thông được quan hệ với các tổ chức tài chính- tiền tệ quốc tế: imf, vvb, adb.

đã tham gia các tổ chức kinh tế, thương mại quốc tế: việt nam có đơn xin gia nhập hiệp định chung về thuế quan và thương mại (gatt) và được chấp thuận là quan sát viên từ tháng 6/1994. sau khi wto được thành lập ngày 4/1/1995, wto thành lập ban công tác về việt nam xem xét việc kết nạp việt nam vào wto. từ đó đến nay, ban công tác về việt nam của wto đã có 12 phiên họp. đến tháng 5/2006, ta đã kết thúc đàm phán song phương với tất cả 28 nước và vùng lãnh thổ là các đối tác có yêu cầu, trong đàm phán đa phương (việt nam đã trả lời gần 3.000 câu hỏi của các thành viên wto) về cơ bản ta đã hoàn thành giai đoạn minh bạch chính sách thương mại, chính sách thuế và phí thuế, dịch vụ, chính sách đầu tư liên quan đến thương mại, công nghiệp, nông nghiệp, bảo hộ, quyền sở hữu trí tuệ và cải cách kinh tế trong nước, hệ thống pháp luật… theo các chuyên gia việt nam tham gia vòng đàm phán đa phương việt nam- wto lần thứ 12 tại giơnevơ cho biết, việt nam có khả năng trở thành thành viên của wto vào cuối năm 2006.

ngày 25/7/1995, việt nam đã tham gia hiệp hội các quốc gia đông nam á(asean); tháng 3/1995, việt nam đã tham gia sáng lập (asem) tổ chức hợp tác á- âu; tháng 11/1998, việt nam đã gia nhập (apec) tổ chức diễn đàn hiệp tác kinh tế châu á- thái bình dương.

những cơ hội khi việt nam trở thành thành viên của wto: mở rộng thị trường, tăng cường xuất khẩu: việt nam sẽ có cơ hội đẩy mạnh xuất khẩu những mặt hàng tiềm năng, có lợi thế trên lĩnh vực nông nghiệp, dệt may… thị trường xuất khẩu gạo và nông sản nói chung sẽ mở rộng. hàng hoá và dịch vụ của việt nam được đối xử bình đẳng hơn trên thị trường của các thành viên wto nhờ được hưởng quy chế mfn/ntr vĩnh viễn, gsp…, khắc phục tình trạng phân biệt đối xử, tạo dựng được thế và lực trong thương mại quốc tế. tạo điều kiện cải cách chính sách, thể chế luật pháp, hệ thống chính sách minh bạch, ổn định và dễ dự đoán sẽ giúp việt nam tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài, tạo môi trường thuận lợi cho đầu tư trong nước và nước ngoài, tạo điều kiện thuận lợi trong việc giải quyết tranh chấp thương mại, chủ động tham gia vào đàm phán quốc tế để bảo vệ quyền lợi và giải quyết tranh chấp có lợi cho ta hơn, có quyền thương lượng và khiếu nại công bằng hơn đối với các tranh chấp thương mại trong wto. do tiếp cận được hệ thống giải quyết tranh chấp wto, hạn chế bị các nước lớn gây sức ép, tạo điều kiện để việt nam không bị đối xử như nền kinh tế phi thị trường (nme) như hiện nay.

những thách thức đặt ra khi việt nam gia nhập wto: phải sửa đổi và xây dựng cơ chế chính sách phù hợp với các quy định của wto, hệ thống pháp luật của việt nam phải tiếp tục được cải cách sâu rộng để đảm bảo thực hiện những tiêu chuẩn quốc tế về tính minh bạch, công bằng hợp lý. nguồn thu ngân sách bị suy giảm: việc cắt giảm thuế nhập khẩu sẽ làm giảm đáng kể nguồn thu ngân sách trong giai đoạn đầu; thâm hụt cán cân thanh toán. vấn đề an sinh xã hội, giải quyết việc làm cho người lao động dư thừa do cải cách bộ máy hành chính, cải tổ ngành công nghiệp, nông nghiệp, doanh nghiệp phá sản, bị đóng cửa do làm ăn thua lỗ, giải quyết vấn đề phát sinh như đào tạo lại để giải quyết việc làm cho những người lao động mất việc…, khoảng cách giàu nghèo và mất cân bằng xã hội gia tăng. cạnh tranh gia tăng do chính sách bảo hộ giảm, do phải cắt giảm chính sách bảo hộ không phù hợp như cấm nhập khẩu, trợcấp trực tiếp vào giá…, việc mở cửa dịch vụ cho các nhà kinh doanh nước ngoài của việt nam còn khó khăn trên nhiều lĩnh vực nhất là tài chính, viễn thông. về cơ chế bảo vệ quyền lợi sở hữu trí tuệ, việt nam còn nhiều khó khăn về nhãn hiệu thương mại, bản quyền tác giả, bảo vệ thiết kế công nghiệp và người dân chưa có thói quen tuân thủ quyền sở hữu trí tuệ. việc cải cách doanh nghiệp đòi hỏi đầu tư rất nhiều vốn, kỹ thuật và yếu tố con người.

như vậy, hội nhập kinh tế quốc tế vừa có cơ hội, vừa có thách thức. thách thức là sứa ép trực tiếp, còn cơ hội tự nó không biến thành của cải, vật chất trên thị trường mà phải thông qua hoạt động của chủ thể. cơ hội và thách thức luôn đan xen và vận động, biến đổi phải tận dụng được cơ hội, đẩy lùi được thách thức để tạo ra cơ hội mới lớn hơn. ngược lại, nếu không biết tận dụng được cơ hội thì thách thức sẽ lấn át làm triệt tiêu cơ hội. chính vì vậy, mà vai trò “chủ thể” của doanh nghiệp, của nhà nước là rất quyết định. doanh nghiệp là người “xung trận” là lực lượng trực tiếp đương đầu trong cạnh tranh. nhưng nhà nước phải là người mở đường.

việc gia nhập wto là cơ hội lớn và là sự lựa chọn đúng đắn đối với việt nam. vượt qua được những thách thức trong quá trình hội nhập sẽ mang lại nhiều lợi ích lớn cho đất nước, phát triển mạnh mẽ thương mại, tăng cường thu hút fdi, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy tốc độ cải cách kinh tế trong nước, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu do đại hội đảng lần thứ x đề ra: “…sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển; tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại”./.

 Thiếu tướng Phạm Hữu Bồng

 

Tin tức khác

Zalo phone Hotline