(069). 518.055

Tìm hiểu về "xói lở" và "bồi tụ" đường bờ biển ở Việt Nam

Ngày 10/08/20212045

Đường bờ biển không phải là một đường cố định mà luôn luôn tiến về hải dương hay lùi về phía lục địa mỗi ngày một hay hai lần, theo thủy triều lên xuống. Đường bờ biển tiến theo thủy triều, có khi tới 15km.

Đường bờ biển ở đâu, sóng biển bắt đầu tác động đến lục địa từ đấy. Tác động ấy diễn ra trong một lãnh vực đất liền mà ta gọi là bờ biển. Do tác động ấy mà bờ biển là khu vực bờ của lục địa. Ở đấy, các dạng địa hình được tạo nên do đào bồi của nước biển. Sóng lại còn tác động ngầm dưới đáy biển, ven đường biển rộng hay hẹp tùy theo sóng to hay sóng nhỏ; lãnh vực ấy gọi là sườn ngầm bờ biển. Trên sườn ngầm, các loại địa hình cũng do sóng đào bồi nên, do vậy sóng ngầm của bờ biển cũng thuộc vào vùng ven biển mà vùng ấy chỉ chấm dứt ở nơi mà sóng hết tác động xâm thực và bồi đắp.

Sóng quét vào bờ là nhân tố xâm thực bờ biển quan trọng nhất. Hiện tượng xâm thực rõ ràng nhất là những bờ đá cao. Những đợt sóng quét vào bị bờ cao chắn lại một cách đột ngột nên bao nhiêu năng lượng tích lũy trong sóng khi tiến từ khơi vào đều được giải phóng và hợp thành một sức đập phá rất mạnh vào bờ và tung nước lên rất cao. Sóng len lỏi vào đâu cũng được, lợi dụng tất cả những chỗ yếu của bờ, đục phá, đào xới, khoét rộng những khe nứt thành hành lang, đào những lỗ nhỏ thành hầm hố, rồi đục rộng ra làm cho từng khối đá lớn đổ ập xuống.

Sóng phá hoại bờ biển cao qua hai giai đoạn. Bờ biển cao là bờ biển non nên bị sóng xâm thực mãnh liệt, phá hoại dữ dội. Sóng biển là một đội công binh mà bờ biển là một pháo đài bị vây hãm. Những ngày bão to, sóng đánh đổ những bờ đá xuống làm chấn động cả một vùng như một cuộc động đất nhỏ. Vật liệu vỡ ra từ bờ thì sóng lại dùng làm đạn để bắn vào bờ, đập phá, xói đục bờ (những nơi có núi). Những tảng đá to chất thành đống ở chân bờ bị sóng đánh tan nữa để lấy cuội, sỏi làm đạn đánh phá tiếp.

Trong giai đoạn xâm thực thứ nhất, sóng đập phá, xói mòn bờ đá làm thành sườn thẳng đứng gọi là vách biển.

Sang giai đoạn hai, sóng đào sâu chân vách đá thành một hốc sâu, phần trên vách đá mất chân, sụp đổ xuống, vật liệu chất lên thành một cái chân tạm che chở cho vách đá trong một thời gian, rồi cũng bị đánh tan thành sỏi, cuội, dùng sỏi, cuội đó làm vũ khí đánh tiếp vào vách biển và cứ thế liên tiếp xảy ra. Tiếp theo tính chất của các thứ đá mà xâm thực của sóng làm xuất hiện các bờ biển khác nhau.

Trên bờ thấp, sóng không xói mòn mà trái lại, vận chuyển vật chật để bồi đắp bãi biển và ven biển. Ở bờ biển thấp, gió đùn cát lên thành cồn. Cồn được đắp là do gió thổi, đưa cát đi dần từ bờ biển vào nội địa. Khi gió mạnh, cát chuyển lên theo sườn cồn, tạo nên từng đợt sóng cát lên đến chóp cồn, cát tung lên không tựa hình ngọn cồn bốc khói. Cát tung lên rồi rơi xuống bên kia chóp cồn; ở phía ấy, cát chỉ rơi xuống chứ không bị đẩy đi, nên sườn cồn gần như dốc đứng. Vì vậy, cồn cát phía biển, tức là phía gió thổi đến thì thoai thoải và phía nội địa dốc thẳng. Nhiều cồn cát gần nhau tạo thành dải dài, có khi thành mạch rất dài. Chóp các cồn hình thành đường sống của cồn. Đường ấy không thẳng mà thành ngoằn ngoèo và dải cồn có hình dạng như các đợt sóng trên bờ biển; phía lồi của các đợt cồn quay về hướng biển, phía lõm quay vào nội địa. Vì do gió đùn lên nên cồn thẳng góc với hướng gió và gần như song song với bờ biển, bắt nước tụ lại thành những đầm dài (gọi là bầu) dọc chân các đợt cồn và song song với các đợt cồn và bờ biển. Mặt đất bị hạ xuống làm sinh ra những bờ biển trẻ và khúc khuỷu. Ở bờ biển nước ta, từ đảo Cái Bầu đến Cát Bà, hai vùng Bái Tử Long và Hạ Long nguyên là một khối núi đá vôi song song với bờ biển đã bị chìm xuống biển làm thành muôn nghìn hòn đảo chi chít, chiếm diện tích 2.000km2.

Trái lại, mặt đất được nâng lên làm cho bờ biển được bồi đắp, có những dạng thấp và phẳng.

Do cấu tạo địa hình, ở bờ biển nước ta, tính độ dài từ 10km trở lên có 2.295 sông suối các loại. Hàng năm, mưa đổ xuống lãnh thổ Việt Nam 640 tỷ mét khối, lượng nước chảy vào sông suối đạt tới 310 tỷ mét khối. Trong đó, sông suối các loại, có 1.600 con sông, suối đổ ra biển. Như vậy, cứ 20km bờ biển lại có một cửa sông đổ ra biển, đưa phù sa từ đất liền ra, đọng lại cửa sông, bồi đắp cho đất liền. Có vùng, mỗi năm lấn thêm ra đường bờ biển hàng trăm mét chiều rộng (Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Cà Mau…)

Đồng bằng Bắc Bộ hiện nay, đất bồi vẫn tiếp tục phát triển. Với tốc độ 100m/mỗi năm, mỗi thế kỷ lấn ra biển 10km. Huyện Kim Sơn (Ninh Bình) chỉ mới mấy thế hệ, đã hình thành một cách nhanh chóng.

Từ thập kỷ 80 (thế kỷ 20) đến nay, quân dân Quân khu 3 đã lợi dụng đất bồi, lấn biển thành công. Cồn Thoi lấn biển 1.932ha, trở thành vùng kinh tế trù phú, đông đúc dân cư; Thái Bình, vùng đất bồi (biển lùi) chạy dài 153km bờ biển đã tận dụng phát triển kinh tế, trồng được 1 triệu nhóm mây, trên 2 triệu cây phi lao, mỗi năm thêm diện tích một xã; thành phố Hải Phòng, lấn biển ở xã  Vinh Quang (huyện Tiên Lãng) 2.500ha, tạo thêm 4 xã đất bồi ven biển; đào kênh Cải Tráp dài 4,5km; phục hóa 900ha trên đảo Đình Vũ; đắp đê bao đường 14 (Hải Phòng đến Đồ Sơn), mở rộng diện tích 2.200ha, tạo thành khu công nghiệp mới và khu dân cư mới; mở đường xuyên đảo 30km, nối liền thành phố với đảo Cát Bà. Đáng chú ý nhất là từ thập kỷ 80 của thế kỷ trước đến nay, thành phố Hải Phòng đã lấn biển, tận dụng đất bồi tạo ra diện tích gần một huyện.

Với 50 cuộc lấn biển, quân dân Quân khu 3 đã mở rộng thêm 5 vạn héc-ta đất, gần bằng diện tích một tỉnh nhỏ.

Việt Nam là một trong 5 quốc gia có ảnh hưởng trực tiếp của biến đổi khí hậu. Các vùng trực tiếp bị đe dọa là những nơi nằm trên mực nước biển từ 1m đến 10m, là vùng dễ bị “biển lở”.

Bán đảo Hà Nam, huyện Yên Hưng (Quảng Ninh) - vùng đất liền, hơn 60 năm nay ở dưới mức nước biển 2m, trong vòng ôm trọn của đê bao, có 7 vạn dân sinh sống. Từ một nơi đất thấp, bị nước biển đe dọa, ý chí và bàn tay lao động của người dân đã vượt qua những thử thách của thiên nhiên. Ngoài việc củng cố hàng năm và thường xuyên, đất vỡ đê được lấy từ nơi khác đến, những nơi có chất đất chịu bám tốt chứ không phải là ven đê tại chỗ.

Đó cũng là bài học tốt cho việc sử dụng đất bồi vùng ven biển nước ta và những nơi đất thấp của vùng ven biển.

Trên bờ biển thấp, không những chỉ có tác động đào bồi của sóng mà còn tác động đào bồi của gió nữa. Vật liệu do sông và thủy triều đưa lên bờ thì những phần nhẹ là cát bị gió thổi thường xuyên vào nội địa. Gặp một vật chướng ngại bụi cây hay tảng đá, mô đất thì cát tích tụ lại thành đống cát nhỏ. Nhiều đống cát gần nhau có thể dính lại thành dải dài, sát đường nước triều lên cao nhất. Đó là những cồn cát sát biển. Cồn cát xa bờ khá cao, thường vài chục mét. Ở tỉnh Quảng Bình, có cồn cát cao đến 40m.

Gió đùn cát lên thành cồn rồi tiếp tục thổi lên làm cho cồn cát lùi sâu vào nội địa. Như tỉnh Quảng Bình, ở chân Đèo Ngang, từ năm 1921 - 1927, các đợt cồn lùi đến 35m, vùi lấp cả ruộng vườn, đường cái, trên những quãng dài 30km. Kinh nghiệm ở tỉnh Quảng Bình và những vùng có cồn cát, người ta trồng phi lao để cho cồn ổn định.

Bờ biển là biên giới giữa đất và nước, đó là một một môi trường đấu tranh cũng như là một nơi hợp tác giữa hai yếu tố đất và nước. Trong cuộc đấu tranh ấy, thoạt tiên, đất bạc và lùi, nhưng bao giờ cũng bẻ gãy được cuộc tiến công và chuyển sức phá hoại ấy thành sức kiến thiết.

Bờ biển nhiều chỗ lồi, chỗ lõm là bờ biển còn non, đang bị xói mòn, sóng phá hoại những chỗ cao như mũi đất, vách đá nhưng lại sinh ra các dòng nước ven bờ, đem vật liệu bồi đắp cho những chỗ thấp như đầm, vũng nhưng thời gian đó không dài. Quá trình phá hoại và kiến thiết của nước biển tiến hành nhanh, chỉ vài ba năm đã thay đổi hình thái bờ biển. Mọi thứ bờ biển được bồi đắp cho những chỗ thấp như đầm, vũng nhưng thời gian đó không dài. Mọi thứ bờ biển được bồi đắp đều tiến tới hình thái thấp và phẳng.

Dọc theo các con sông và bờ biển, hàng ngàn năm nay, các thế hệ người Việt Nam đã xây dựng hệ thống đê để ngăn cản nước lũ, tạo nên những đồng bằng phì nhiêu ở Bắc Bộ và vùng duyên hải miền Trung, và hàng chục ngàn kilômét kênh nương để thoát nước tưới tiêu cho đồng ruộng của các châu thổ. Gần đây, quân và dân cùng biển đã tận dụng những vùng đất bồi (biển lùi) để tạo nên những vùng đất mới, phát triển kinh tế biển, kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng, để làm cho đất nước càng ngày càng giàu mạnh.

Bộ đội Biên phòng đóng quân trên các vùng bờ biển cần nhận thức rõ về “xói lở” và “bồi tụ”, về quy luật của nước và thủy triều, góp phần và làm tham mưu tích cực cho địa phương, tận dụng các vùng đất bồi, hình thành các khu dân cư mới, kết hợp chặt chẽ đẩy mạnh kinh tế biển phát triển đa dạng với việc xây dựng phòng tuyến biển vững chắc của nền quốc phòng toàn dân.

Với mục tiêu “Làm giàu, đánh thắng”, quân dân Quân khu 3 đã làm trong thời gian vừa qua ở Cồn Thoi (tỉnh Ninh Bình), Vinh Quang (thành phố Hải Phòng), bán đảo Hà Nam, Yên Hưng (tỉnh Quảng Ninh)…, là những gương tiêu biểu trong việc tận dụng “bồi tụ”, phòng và chống “xói lở”; BĐBP cần nghiên cứu, noi gương học tập để phát huy sức mạnh của địa phương trong việc bảo vệ chủ quyền, an ninh vùng biển của Tổ quốc./.

Cao Thượng Lương

 

Tin tức khác

Zalo phone Hotline