Ngày 18/08/202119813
Hệ thống liên minh quân sự của Mỹ từ lâu đã trở thành một trong những trụ cột chính của trật tự thế giới. Mạng lưới các căn cứ quân sự của Mỹ và đồng minh dải khắp năm châu là nền tảng vững chắc, cho phép Mỹ triển khai quân tới bất kỳ đâu trên thế giới. Nếu không có đồng minh, Mỹ không thể duy trì được ưu thế áp đảo về quân sự cũng như ảnh hưởng chính trị ở các khu vực trọng yếu.
Liên minh quân sự của Mỹ chia làm hai dạng là liên minh chính thức (được thành lập theo hiệp ước quốc tế) và liên minh không chính thức (không có hiệp ước liên minh). Hình thức liên minh quân sự có thể là song phương (giữa Mỹ và một số quốc gia) hoặc đa phương (các khối quân sự chung).
Các Hiệp ước liên minh quân sự được ký kết giữa Mỹ và các quốc gia có giá trị khác nhau. Với khối NATO, Mỹ thực hiện phòng thủ chung với tất cả các quốc gia trong khối. Với đồng minh phi-NATO, Mỹ chủ yếu cam kết bảo vệ bằng các hành động tương ứng khi đồng minh bị tấn công. Thông qua hiệp ước, các đồng minh phi-NATO dựa vào sức mạnh và sự ảnh hưởng của Mỹ để bảo vệ chính mình. Những cam kết mà thành viên phi-NATO ký với Mỹ không có tính dàn buộc, mức độ cam kết cao hay thấp còn tùy theo hiệp ước riêng của từng quốc gia. Các thành viên Phi-NATO sẽ làm nghĩa vụ quân sự, làm hậu phương giúp Mỹ tham chiến chống lại các cuộc xung đột trên khắp thế giới. Sau đây là một số liên minh quân sự của Mỹ.
Liên minh quân sự, Khối NATO.
Khối NATO (North Atlantic Treaty Organization) được thành lập ngày 04/04/1949, đây là liên minh quân sự lớn nhất mà Mỹ là thành viên, trụ sở chính của NATO đặt tại Bruxelles, Bỉ. Đến nay có 31 quốc gia và vùng lãnh thổ, tổ chức này thiết lập một liên minh phòng thủ quân sự trong đó các nước thành viên thực hiện phòng thủ chung khi bị tấn công từ các quốc gia bên ngoài khối.
Thành viên NATO gồm các nước sáng lập khối: Anh, Bỉ, Bồ Đào Nha,Canada, Đan Mạch, Hà Lan, Mỹ, Iceland,Luxembourg, Na Uy, Pháp, Ý. Các thành viên gia nhập khối trong thời gian chiến tranh lạnh: Hy Lạp; Thổ Nhĩ Kỳ;CHLB Đức; Tây Ban Nha. Các thành viên gia nhập khối sau khi kết thúc chiến tranh lạnh: Ba Lan; Cộng hoà Séc; Hungary;Bulgaria; Estonia;Latvia; Litva; Rumani; Slovakia; Slovenia; Croatia;Albania; Montenegro; Bắc Macedonia.
Các đồng minh NATO xác định trách nhiệm lớn nhất là bảo vệ lẫn nhau; nếu một nước trong khối bị tấn công quân sự, coi như tất cả các thành viên trong khối bị tấn công và phải tự động, ngay lập tức phản ứng đánh trả. Điều khoản này được Quốc hội các nước thông qua nhằm một mục đích rõ ràng và duy nhất là chống lại sự lớn mạnh của Liên Xô (cũ) và các nước Đông Âu trong thời kỳ chiến tranh lạnh. NATO có trung tâm điều hành, quân đội thường trực và căn cứ đóng ở nhiều nơi, có thể phản ứng kịp thời các cuộc tấn công quân sự.
Chi phí hoạt động của NATO chiếm 70% chi phí quân sự thế giới, riêng Mỹ chiếm khoảng 50%, Anh, Pháp, Đức và Ý gộp lại chiếm 15%. NATO xây dựng hệ thống phòng thủ tên lửa tại Đông Âu và tuyên bố hệ thống này nhằm chống lại các mối đe dọa từ Iran nhưng thực tế để kìm chế Nga, duy trì thế cân bằng lực lượng giữa NATO và Nga sau khi Liên Xô tan rã.
Liên minh quân sự Mỹ - Nhật Bản
Sau chiến tranh Thế giới thứ II, Mỹ và Nhật Bản thiết lập một mối quan hệ đặc biệt, đó là mối quan hệ giữa nước bảo trợ (Mỹ) và nước được bảo trợ (Nhật Bản). Nhật Bản đã chọn con đường phát triển kinh tế bằng toàn bộ sức lực của mình, phó thác việc phòng vệ cho Mỹ. Mối quan hệ đồng minh này tồn tại trong thời gian dài vì nó phục vụ cho lợi ích của cả Mỹ và Nhật Bản.
Việc liên minh quân sự với Nhật Bản, đặc biệt là sau sự ra đời của Hiệp ước phòng thủ giữa hai nước tạo cơ sở pháp lý cho việc có mặt dài hạn các căn cứ quân sự Mỹ ở Nhật. Đồng thời, Mỹ cũng kiểm soát trực tiếp và kiềm chế khả năng quân sự của Nhật Bản. Liên minh quân sự với Nhật Bản đảm bảo sự có mặt của Mỹ trong khu vực và sự an tâm của Nhật trước các thách thức lớn từ Trung Quốc và Triều Tiên.
Sau Hiệp ước Hòa bình, công nhận Nhật Bản là một quốc gia có chủ quyền có quyền tham gia vào các thỏa thuận phòng vệ. Nhật Bản vẫn mong muốn Mỹ duy trì lực lượng vũ trang của riêng mình tại Nhật vì lợi ích hòa bình và an ninh chung, đáp lại Mỹ sẵn sàng cung cấp, đào tạo lực lượng không quân và lực lượng phòng vệ biển cho Nhật Bản để sẵn sàng chống lại cuộc tấn công vũ trang, hỗ trợ yêu cầu từ Chính phủ Nhật Bản khốông chế các cuộc bạo loạn, gây rối hoặc can thiệp quân sự từ bên ngoài.
Liên Minh quân sự Mỹ - Hàn Quốc
Mỹ và Hàn Quốc là đồng minh theo Hiệp ước Phòng thủ lẫn nhau năm 1953. Theo thỏa thuận, các quân nhân Mỹ duy trì sự hiện diện liên tục trên bán đảo Triều Tiên. Hàn Quốc và Mỹ cam kết hợp tác quốc phòng lâu dài, toàn bộ các lực lượng vũ trang Hàn Quốc nằm dưới sự kiểm soát của Mỹ nếu chiến tranh xảy ra.
Liên minh của Mỹ - Hàn Quốc có ba mục đích, thứ nhất, xây dựng mạng lưới liên minh và các cơ sở quân sự được thiết kế để giảm mối đe dọa từ Trung Quốc, Nga, thứ hai, với các lực lượng quân đội thường trú của Mỹ tại Hàn quốc sẽ ngăn chặn một cuộc tấn công có thể xảy ra từ Triều Tiên, thứ ba, không để Hàn Quốc bị xáp nhập vào Triều Tiên.
Trong quá khứ Mỹ cũng từng triển khai nhiều loại vũ khí hạt nhân ở Hàn Quốc cho đến năm 1991, khi Tổng thống George Bush tuyên bố rút toàn bộ vũ khí hạt nhân chiến thuật ở nước ngoài. Tuy vậy dựa trên các điều ước của liên minh quân sự song phương, Mỹ vẫn ủng hộ và giúp đỡ Hàn Quốc triển khai hệ thống phòng thủ tên lửa chống đạn đạo nhằm đối phó với những căng thẳng trên bán đảo Triều Tiên.
Liên Minh quân sự Mỹ - Thái Lan
Liên minh quân sự Mỹ - Thái Lan bắt đầu từ Hiệp ước Manila 1954 với việc thành lập Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á (SEATO). SEATO không chỉ để răn đe, ngăn chặn các cuộc tấn công quân sự chính quy trong khu vực mà còn để chống lại sự phá hoại chính trị trong nội bộ các nước thành viên của khối.
Năm 1962 một hiệp ước liên minh quân sự được ký riêng bởi Bộ trưởng Ngoại giao Thái Lan và Ngoại trưởng Mỹ. Mục đích của Mỹ qua liên minh quân sự song phương với Thái Lan là tìm kiếm sự hợp tác của Thái Lan để chống lại việc mở rộng ảnh hưởng của Trung Quốc với các quốc gia Đông Nam Á mà đỉnh cao là chín căn cứ quân sự chung, nổi bật nhất trong số này là các cơ sở quân sự bao gồm các sân bay do Mỹ xây dựng tại U-Tapao, một cảng nước sâu ở Suttahip.
Liên minh này suy yếu khi Mỹ rút khỏi Chiến tranh Việt Nam năm 1973 và cuối cùng đã bỏ trống các căn cứ chung ở Thái Lan
Liên Minh quân sự Mỹ - Úc -New Zealand
Năm 1951 Úc, New Zealand ký Hiệp ước an ninh với Mỹ, đây là hiệp ước hợp tác về các vấn đề quân sự ở Thái Bình Dương và khu vực Đại Tây dương. Nó quy định rằng một cuộc tấn công vũ trang vào bất kỳ nước nào trong ba nước trên sẽ gây nguy hiểm cho những quốc gia khác và mỗi bên nên hành động tương ứng để phản ứng với mối đe dọa chung. Liên minh thành lập một ủy ban các Bộ trưởng Ngoại giao để tham khảo ý kiến lẫn nhau.
Năm 1986 New Zealand đã bị loại khỏi hiệp ước khi họ khởi xướng một khu vực phi hạt nhân trong vùng lãnh hải của mình, vào cuối năm 2012, Mỹ đã dỡ bỏ lệnh cấm các chuyến thăm của các tàu chiến New Zealand nhằm giảm căng thẳng giữa hai bên. New Zealand vẫn duy trì khu vực phi hạt nhân như một phần của chính sách đối ngoại của mình, Mỹ duy trì chính sách mềm dẻo, cho tàu chiến có mang vũ khí hạt nhân và vận hành nhiều tàu sân bay và tàu ngầm hạt nhân quanh khu vực và New Zealand vẫn chấp nhận điều đó. Tuy vậy, Hiệp ước liên minh chỉ còn giá trị với Úc.
Liên minh quân sự Mỹ - Israel
Mối quan hệ song phương của Israel Mỹ bắt đầu từ những năm 1960, Mỹ đã ủng hộ Israel rất mạnh mẽ và thúc đẩy mối quan hệ tốt đẹp giữa Israel và Jordan, Lebanon và Ai Cập, để ngăn chặn sự thù địch từ các quốc gia Trung Đông khác, đặc biệt là Syria và Iran. Mối quan hệ đồng minh này là một yếu tố rất quan trọng trong chính sách chung của chính phủ Mỹ tại Trung Đông
Từ năm 1985, Mỹ đã cấp nhiều tỷ đô la cho Israel hàng năm, bằng các viện trợ quân sự. Ngoài viện trợ tài chính, Mỹ cũng cung cấp hỗ trợ chính trị cho Israel, Mỹ sử dụng quyền phủ quyết của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc đối với các nghị quyết bất lợi liên quan đến Israel.
Hiện tại, Israel nhỏ bé nhưng mạnh mẽ về quân sự, phụ thuộc vào Mỹ về sức mạnh kinh tế đang cố gắng cân bằng các lợi ích cạnh tranh khác trong khu vực. Israel vẫn đang là đồng minh chiến lược, quan hệ của Mỹ với Israel nhằm tăng cường sự hiện diện của Mỹ ở Trung Đông. Israel là "tàu sân bay của Mỹ ở Trung Đông", là chỗ đứng quân sự trong khu vực của người Do Thái
Liên Minh Quân sự Mỹ - Đài Loan,
Mỹ và Đài Loan có mối quan hệ không chính thức nhưng rất mạnh mẽ và hợp tác chặt chẽ trong nhiều vấn đề. Từ nhiều năm qua, Mỹ duy trì mối quan hệ bền chặt với Đài Loan với mong muốn hòa bình và ổn định ở châu Á.
Mỹ Ban hành Đạo luật Quan hệ Đài Loan nhằm cung cấp cơ sở pháp lý cho mối quan hệ hai bên và bảo đảm cam kết của Mỹ trong việc hỗ trợ Đài Loan duy trì khả năng tự vệ. Mỹ phản đối những thay đổi đơn phương đối với hiện trạng của hai bờ eo biển Đài Loan, giải quyết vấn đề Đài Loan trên nguyên tắc hòa bình. Mỹ thường xuyên điều các tàu chiến tuần tra qua eo Biển, hỗ trợ vũ khí và trang bị, huấn luyện cho các lực lượng Hải, Lục, Không Quân của Đài Loan, sẵn sàng bảo vệ đài loan trước ý đồ sáp nhập từ Đại lục Trung quốc.
Các liên minh quân sự với Mỹ không phải là một khối thống nhất mà là sự tổng hoà của nhiều mối quan hệ với những mục đích kinh tế, chính trị, quân sự khác nhau. Việc không tôn trọng cam kết bảo vệ đồng minh của Mỹ có thể ảnh hưởng đến uy tín của Mỹ nói chung và uy tín của Mỹ đối với các đồng minh nói riêng. Không phải đồng minh nào cũng quan trọng như nhau trong mắt các nhà lãnh đạo Mỹ và vì thế một bản hiệp ước phòng thủ chung với Mỹ chưa chắc đã là một sự bảo đảm tuyệt đối với an ninh của một quốc gia./.
Vũ Tuấn Lâm
Tài liệu tham khảo
- www.asiafoundation.org; nghiencuuquocte.org https://en.wikipedia.org/wiki/List_of_military_alliances