(069). 518.055

Thu hẹp khoảng cách về nhận thức để đảm bảo hoạt động tôn giáo đúng pháp luật ở Việt Nam

Ngày 17/08/2021336

Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, tôn giáo. Ước tính số người theo tôn giáo hoặc có các hoạt động tín ngưỡng thể hiện sự tin theo thế giới siêu thực chiếm khoảng 95% dân số. Về tổ chức, có 37 tổ chức tôn giáo và 1 pháp môn tu hành được Nhà nước công nhận, ngoài ra còn một số tổ chức, nhóm người tin theo và thực hành lễ nghi tâm linh “đạo lạ”, như một số nhà nghiên cứu quan niệm.Các tổ chức tôn giáo có mặt ở hầu hết các vùng, miền trong cả nước, hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng đan xen, hòa quyện và ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến từng cá nhân, cộng đồng trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. 

Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn khẳng định: công dân có quyền theo hoặc không theo tôn giáo, mọi tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Tuy nhiên, thời gian qua vẫn còn nhiều hoạt động tôn giáo hoặc hoạt động khác nhằm gây ảnh hưởng của tôn giáo đối với đồng bào dân tộc thiểu số được thực hiện trái pháp luật, như: lợi dụng hoạt động từ thiện để truyền đạo, tổ chức sinh hoạt tôn giáo trái pháp luật, sử dụng tổ chức tôn giáo như công cụ để gây rối, gây áp lực tạo ra sự phức tạp về an ninh, trật tự... Trước thực trạng trên, cần có đánh giá khách quan nguyên nhân của các biểu hiện vi phạm pháp luật về tôn giáo dưới cả tư cách của cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo, đảm bảo ban ninh trật tự và các tổ chức tôn giáo, cá nhân tín đồ tôn giáo để có biện pháp xử lý hữu hiệu.

Trước hết, cần khẳng định, các tôn giáo ở Việt Nam đã và đang đóng góp to lớn cho sự nghiệp cách mạng. Đoàn kết, không phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng là nét đẹp truyền thống ngàn đời của dân tộc Việt Nam. Lịch sử cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, chúng ta đã từng chứng kiến Thư chung của Giám mục và đồng bào Công giáo Vinh, Hà Tĩnh, Quảng Bình gửi Chính phủ, thư có đoạn: “Dù phải hy sinh xương máu để kiến thiết một Nhà nước tự do hạnh phúc hoàn toàn, thì chúng tôi cũng sẵn sàng không ngần ngại”. Về đường hướng hoạt động, Hiến chương Hội thánh Tin Lành Việt Nam (miền Bắc) xác định: “Sống Phúc âm, phụng sự Thiên Chúa, phục vụ Tổ quốc và Dân tộc”, Hiến chương Giáo hội Phật giáo Việt Nam thể hiện: “Suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, trong sự nghiệp giải phóng dân tộc thống nhất đất nước, cũng như xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa ngày nay, Phật giáo Việt Nam luôn luôn là thành viên tin cậy và vững mạnh trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc”. Những dẫn chứng trên khẳng định: mọi dân tộc, mọi tôn giáo ở Việt Nam luôn đồng hành cùng dân tộc, không một cá nhân, tổ chức nào ngay cả tổ chức tôn giáo hay cơ quan nhà nước được phép tự mình hoặc bị buộc đứng sang một bên trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Vấn đề đặt ra là, làm thế nào để nhận thức đúng về tôn giáo và hoạt động tôn giáo? Làm thế nào để đảm bảo cho hoạt động tôn giáo đúng pháp luật ở nước ta hiện nay? Trong phạm vi bài viết này, xin được trao đổi, bàn luận một số vấn đề sau:

1. Cần quan niệm khách quan, rõ ràng về tự do tôn giáo

Thời gian qua, nhiều cá nhân, tổ chức tôn giáo thể hiện thái độ thiếu thiện chí khi bị ngăn cản do tụ tập đông người tại nhà riêng hoặc nơi công cộng để thực hiện các nghi lễ hoặc hành động khác có màu sắc tôn giáo. Nhìn ra thế giới, Singapore không cấm tập trung “tại gia” để hành lễ nhưng nếu các tín đồ không cùng gia đình thì không được tập trung quá 04 người. Một ví dụ khác, xảy ra tại một trường trung học ở Fremont (California, Mỹ), vụ kiện về việc một nhóm sinh viên tổ chức sinh hoạt tôn giáo vào buổi sáng tại trường. Theo nguyên đơn, hành vi này ảnh hưởng đến các hoạt động chung của nhà trường và cá nhân bị tổn thương, bởi sự phân biệt giữa những người tham gia hoạt động tôn giáo đó với những người không tham gia vì họ theo tôn giáo khác.

“Tự do” là không bị ngăn cấm, vậy tự do tôn giáo, tín ngưỡng là được phép làm những gì mà pháp luật không cấm. Hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng tuân thủ theo hiến chương, giáo lý, giáo luật của tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước công nhận nên phải được tôn trọng và đảm bảo thực hiện, không được phép sử dụng các biện pháp hành chính để gây khó khăn hoạt động tôn giáo. Ở mặt khác, tổ chức, tín đồ tôn giáo cần nhận thấy, không có tự do hoàn toàn, bởi lợi ích của Nhà nước so với các tổ chức tôn giáo và giữa các tổ chức tôn giáo, tín đồ theo hoặc không theo tôn giáo có sự khác biệt nhất định. Vì vậy, tôn trọng và cùng phát triển thì tất yếu “tự do” của mình không được xâm phạm, ảnh hưởng đến lợi ích Nhà nước, tôn giáo khác và lợi ích của người không theo tôn giáo, khuôn khổ đó chính là pháp luật được thực hiện bởi chủ thể có ý thức pháp luật.

Pháp luật đóng vai trò là khuôn mẫu cho mọi hoạt động xã hội. Song pháp luật cũng không phải là cây gậy thần kỳ để quản lý hay thực hiện quyền tôn giáo. Chúng ta thường thấy các nhà nghiên cứu khoa học, cán bộ quản lý hoạt động tôn giáo, các tổ chức tôn giáo, chức sắc, chức việc tôn giáo nhấn mạnh cần nhanh chóng hoàn thiện cơ sở pháp lý về hoạt động tôn giáo nhưng lại không mấy chú ý đến khía cạnh ý thức pháp luật. Hệ thống pháp luật không bao giờ hoàn thiện, mức độ hoàn chỉnh của nó luôn luôn là tương đối, đây là hiện thực khách quan, do đó ý thức pháp luật đóng vai trò bổ sung cho sự thiếu hoàn thiện này. Ví dụ: Luật bóng đá sân cỏ quy định: khi phạt trực tiếp không quá gần khu vực 16m50, khoảng cách từ điểm đặt bóng đến vị trí lập hàng rào tối thiểu 9,15m. Tuy nhiên, chúng ta đều thấy, không có trọng tài nào mang thước theo người, tất cả đều ước lượng bằng những bước chân, song được mặc nhiên thừa nhận. Con số 9,15m là cụ thể, rõ ràng nó vừa có ý nghĩa là căn cứ cụ thể để phân định đúng/sai vừa là căn cứ định tính để cầu thủ và trọng tài quyết định cách xử sự của mình. Như vậy, “khuôn khổ pháp luật” và tôn trọng những giá trị khác ngoài tôn giáo mình, chính là tự do tôn giáo phù hợp với xã hội đa dân tộc, tôn giáo và không theo tôn giáo như ở Việt Nam.

2. Thu hẹp khác biệt do nhận thức khác nhau về lý tưởng, niềm tin

Lý tưởng và niềm tin khác nhau dẫn đến những khác biệt trên các lĩnh vực khác nhau, từ tâm lý cá nhân đến quan hệ cộng đồng. Nhiều cá nhân chức sắc, tín đồ tôn giáo lợi dụng sự khác biệt để tuyên truyền phân biệt đối xử, thậm chí tạo tâm lý ngăn cách, thù hằn. Việc làm này, dù được thực hiện dưới hình thức nào, về bản chất cũng là gây chia rẽ đoàn kết dân tộc. Đối với hệ thống chính trị, một số cán bộ không nhận thức đúng sự khác biệt, không tìm hiểu để thu hẹp sự khác biệt nên khó tìm ra tiếng nói chung giữa chính quyền và tôn giáo. Về bản chất, xã hội vốn là sự khác biệt, mỗi cá nhân tồn tại trong cộng đồng là biểu hiện của sự khác biệt đó. Chúng ta cần nhận thức đúng, đối mặt với nó để từng bước dung hòa, thu hẹp dần khác biệt. Sự khác biệt lớn nhất, gốc rễ luôn được các đối tượng viện ra để tuyên truyền cho tư tưởng bất hợp tác với Đảng, Chính phủ, đó là: những người theo tôn giáo sống, làm việc theo lời dạy của đấng tối cao, còn những người không theo tôn giáo, không thừa nhận sự tồn tại của đấng tối cao này. Sự khác biệt này tồn tại trong thời gian dài, đến khi nhận thức loài người phát triển ở trình độ cao hơn, có nhận thức chính xác hơn về nguồn gốc và sự tồn tại của thế giới. Ở đây, còn một mặt của vấn đề không được nhắc đến, đó là: Những người Cộng sản luôn tôn trọng và chung sống cùng các tôn giáo, nhóm người có quan niệm khác nhau về bản chất của thế giới.

Thu hẹp khác biệt, cần sự tích cực, chủ động từ các bên có khác biệt. Với vai trò là lực lượng lãnh đạo, điều hành đất nước, Đảng, Nhà nước Việt Nam đã phát đi thông điệp: cùng tồn tại, phát triển bên cạnh sự khác biệt của nhau. Nghị quyết số 25-NQ/TW về công tác tôn giáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng chỉ rõ “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta”. Nói cách khác, Đảng Cộng sản Việt Nam thừa nhận sự khác biệt, nhưng không tẩy chay, ngăn chặn sự khác biệt đó mà tìm ra điểm chung để thu hẹp khác biệt. Tuy nhiên, quá trình thực hiện công tác tôn giáo có một số ít cán bộ không nắm vững đầy đủ, chính xác chủ trương của Đảng, pháp luật có liên quan đến công tác tôn giáo, đặc biệt do sự xa rời quần chúng, thiếu hiểu biết cần thiết về các tổ chức tôn giáo, đời sống tôn giáo nên xảy ra tình trạng “nóng vội”, “chủ quan”, “đơn giản” khi giải quyết nhiều vấn đề liên quan đến tôn giáo. Ở mặt còn lại, một số chức sắc tôn giáo chỉ chú ý tuyên truyền giáo lý, giáo luật, chính sách riêng của tôn giáo mình nhằm phát triển tín đồ mà thiếu quan tâm phổ biến những giá trị chung của dân tộc, thậm chí có những hành động, biểu hiện khác lạ so với cộng đồng, như: tuyên truyền giáo dân không cho con em đến trường nhằm gây yêu sách với chính quyền, chỉ làm từ thiện đối với tín đồ cùng tôn giáo... những biểu hiện đó, tự nhiên sẽ hình thành khoảng cách giữa tổ chức tôn giáo đó với chính quyền, cộng đồng dân cư không theo tôn giáo đó. 

Như vậy, cán bộ phụ trách công tác tôn giáo phải hiểu rõ, sâu sắc và gắn bó hơn nữa với đời sống tôn giáo, đồng thời các tổ chức tôn giáo cũng phải “cởi mở” hơn nữa sẽ góp phần thu hẹp khác biệt nói trên.

3. Làm rõ nội dung và định hướng xây dựng truyền thống tốt đẹp và thuần phong mỹ tục của dân tộc Việt Nam trong cộng đồng

Hoạt động tôn giáo phù hợp với truyền thống tốt đẹp, thuần phong mỹ tục là thông điệp của Đảng Cộng sản Việt Nam, định hướng công tác tôn giáo. Nội dung trên chính là nền tảng tạo dựng nên Tổ quốc Việt Nam từ xa xưa đến nay. Trong đó, tinh thần đoàn kết, thân ái và truyền thống uống nước nhớ nguồn là những giá trị cốt lõi. Sẵn trong máu của mỗi người Việt Nam đã có những phẩm chất nói trên, song những giá trị nói trên không thành hình khối cụ thể nên không thể mang đi phân phát, vì vậy nếu chỉ tuyên truyền, phổ biến chung chung thì đó vẫn chỉ là những giáo huấn sáo rỗng không tác dụng. Lý luận cách mạng đã chỉ rõ: biến đổi xã hội chỉ có thể thực hiện thông qua hành động, do vậy trước hết cần xác định những giá trị cốt lõi, cần thiết tạo nên sự đoàn kết, thống nhất, những phẩm chất quý báu của con người Việt Nam nói chung, từng dân tộc, vùng miền nói riêng, lấy đó làm định hướng, mục tiêu cho mọi kế hoạch, chủ trương quản lý, phát triển kinh tế, xã hội ở địa phương. Trong đó, cần chú ý đến các hoạt động cộng đồng, như: lễ hội truyền thống, hội thi thể thao, văn nghệ quần chúng, ngày vì môi trường... bởi, thông qua hoạt động từng cá nhân, tập thể mới ý thức hơn được trách nhiệm với cộng đồng và đây cũng chính là phương thức “kết dính” tạo nên đoàn kết, thân ái.

4. Tuyên truyền, giáo dục để mọi tín đồ tôn giáo có hiểu biết xã hội toàn diện, làm chủ nhận thức

Một trong những nguyên nhân của hiện tượng một bộ phận nhân dân dễ dàng tin và làm theo những điều sai trái, thiếu chuẩn mực khi bị kẻ xấu kích động, lôi kéo là do nhận thức chưa toàn diện. Đáng kể nhất là thiếu hiểu biết và có quan điểm khác với cách hiểu của tôn giáo mình về cùng một vấn đề, ví dụ: nhiều tín đồ Tin Lành không biết rằng, sự xuất hiện của Tin Lành có nguyên nhân chính từ quan niệm khác đến mức không chấp nhận được về giáo lý, giáo luật của Thiên Chúa giáo. Hoặc, quan niệm về “đấng tối cao” được giải thích khác nhau, thậm chí phủ định lẫn nhau của những người theo tôn giáo khác nhau, và những người theo quan niệm đó vẫn đang tồn tại, phát triển với niềm tin tôn giáo của họ.

Tránh hiện tượng tin và làm theo lời kẻ xấu lợi dụng tôn giáo, trước hết các cơ quan chức năng cần xây dựng đội ngũ chuyên gia có hiểu biết toàn diện, sâu sắc về tôn giáo, đời sống tôn giáo đủ khả năng nhận thức những tiêu cực và phản bác những luận điệu sai trái. Đồng thời, cần chủ động tiếp nhận, xử lý những biểu hiện có tính phản kháng trong đời sống tôn giáo, coi đó như một trong nguồn phản biện xã hội đối với Nhà nước. Việc làm trên là tất yếu khách quan nên cần mạnh dạn thừa nhận, bởi lý luận Mác - Lênin đã khẳng định: mâu thuẫn là động lực của phát triển. Cùng thừa nhận sự khác biệt, phát hiện và giải quyết mâu thuẫn trong nhận thức về tôn giáo chính là đảm bảo cho hoạt động tôn giáo không tách rời con đường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của dân tộc Việt Nam

 

          Phạm Tuấn Đợi

Tin tức khác

Zalo phone Hotline