(069). 518.055

Thờ cúng tổ tiên của người Việt ở vùng biên cương Tây Nam

Ngày 07/08/2021645

Người Việt trong khi thiết tha hướng tới tương lai tốt đẹp hơn cho bản thân và con cháu mình, đã không bao giờ quên truyền thống nhớ nguồn, hướng về cội nguồn. Do đó, thờ cúng tổ tiên là một trong những phong tục thiêng liêng của người Việt, là truyền thống tốt đẹp của văn hóa Việt Nam đã được định hình ở nước ta từ lâu đời.

Thờ cúng tổ tiên không chỉ trở thành một tín ngưỡng sâu sắc của người Việt mà còn là đạo lí. Đặc biệt, ở vùng đất biên ải miền Tây Nam Bộ từ thế kỷ XIX đến nay còn được gọi là đạo: Đạo Ông Bà, Đạo Tổ Tiên.

Ở người Việt miền Tây Nam Bộ nói riêng và người Việt cả nước nói chung, thờ cúng tổ tiên được đặt vào vị trí quan trọng nhất, vai trò trung tâm trong đời sống tinh thần của cư dân. Người Việt theo Tam giáo: Nho, Phật, Lão, tin vào sự bất diệt của linh hồn, nên cho rằng linh hồn người chết luôn lui tới người đang sống, là một thành viên vô hình của gia đình, vẫn luôn ngự trên bàn thờ để gần gũi con cháu, theo dõi con cháu trong cuộc sống và giúp đỡ khi cần, “con cháu ở đâu tổ tiên ở đấy”. Quan niệm qua việc thờ cúng tổ tiên, người khuất và người còn sống như có một sự liên lạc mật thiết, tồn tại khá phổ biến ở người Việt. Vì vậy, sự tin tưởng vào vong hồn ông bà, cha mẹ ngự trên giường thờ ảnh hưởng nhiều đến hành động của người sống. Ở Nam Bộ, việc thờ cúng tổ tiên của người Việt không chỉ diễn ra trong những ngày lễ, tết... mà khi có bất cứ việc gì xảy ra liên quan đến gia đình, con cháu đều cáo gia tiên. Vì người Việt luôn có tâm lí tin ở sự phù hộ của tổ tiên và sự hiện diện của tổ tiên quanh mình.

Đạo lí “uống nước nhớ nguồn” là điều đầu tiên phải kể trong thờ cúng tổ tiên. Một mặt, con cháu bày tỏ sự tri ân đối với tổ tiên, mặt khác nó cũng thể hiện trách nhiệm liên tục và lâu dài của con cháu đối với nhu cầu của tổ tiên. Trách nhiệm được biểu hiện không chỉ trong hành vi sống (giữ gìn danh dự và tiếp tục truyền thống của gia đình, dòng họ, đất nước) mà còn ở trong hành vi cúng tế cụ thể. Khi cúng tế tổ tiên, một mặt con người hướng về quá khứ, định hướng cho hiện tại và mặt khác chuẩn bị hành trang cho thế hệ tương lai.

Thờ cúng tổ tiên không chỉ thể hiện đạo hiếu của người Việt, mà nó còn phù hợp với tư tưởng hiếu của Nho gia. Nghi thức tang chế và cúng giỗ được mô phỏng theo Nho giáo đã được các vương triều phong kiến ủng hộ vì nó góp phần quan trọng vào việc tổ chức xã hội, bảo đảm tôn ti trật tự trong gia đình, trong dòng họ cho tới quốc gia.

Ở người Việt Nam Bộ, sự thờ cúng ông bà cha mẹ đã khuất là một việc rất hệ trọng và đượm phần sâu nặng. Sở dĩ như vậy, vì trên vùng đất để lại cho con cháu, tổ tiên của họ đã phải vượt qua mọi gian nan để đuổi sấu bắt rắn và đổ cả máu để khai phá vùng đất này. Bởi thế, ơn cha mẹ lúc sống cũng như thờ cha mẹ lúc chết có ý nghĩa thiêng liêng đặc biệt.

Trong ý thức của ngừơi Việt, khái niệm tổ tiên bao gồm từ nhà tổ, tổ họ cho đến tổ làng, tổ nghề, tổ nước. Vì vậy, khắp mọi nơi, ở bất cứ ngôi đình nào người Việt Nam Bộ cũng đều đặt bàn thờ Tiền hiền khai khẩn, Hậu hiền khai cơ rất trân trọng. Rất nhiều đình làng thờ nhân thần có công mở đất hoặc đánh giặc giữ nước: Nguyễn Hữu Cảnh, Thoại Ngọc Hầu, Nguyễn Trung Trực, Lê Văn Duyệt...

Ở miền Tây Nam Bộ, có thể coi thờ cúng tổ tiên là một phong tục đã được tôn giáo hóa. Vì thế, người Việt gọi là Đạo Ông Bà, Đạo Tổ tiên. Điều đó được thể hiện rõ ràng trong giáo lí Tứ Ân  không chỉ của tôn giáo Bửu Sơn Kì Hương, mà có cả trong giáo lí của Tứ Ân Hiếu Nghĩa. Ngay cả các tôn giáo ra đời trên đất này về sau như Hòa Hảo cũng biết dựa trên cơ sở thờ cúng tổ tiên và ở các tín ngưỡng dân gian khác, như tín ngưỡng thờ Thành hoàng, thờ Mẫu... ta cũng thấy tác động của tín ngưỡng thờ tổ tiên với sự biết ơn cội nguồn, biết ơn các đấng sinh thành. Có thể nói rằng, đối với người dân miền Tây Nam Bộ thế kỷ XIX, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên đã được tôn giáo hóa thành đạo Bửu Sơn Kì Hương. Vì vậy, không ngẫu nhiên mà người ta gọi tôn giáo này là Đạo Lành. Điều đó được thể hiện rõ ràng trong giáo lý Tứ Ân của đạo. Trong “Tứ đại trọng ân” thì người Việt miền Tây coi ân tổ tiên cha mẹ là hàng đầu, sau mới đến ân đất nước, ân đồng bào, ân nhân loại và ân Tam bảo.

Như vậy, với việc thờ cúng tổ tiên và giáo lí Tứ ân của Bửu Sơn Kì Hương, người Việt miền Tây Nam Bộ vẫn chứng tỏ dù có xa nơi chôn rau cắt rốn từ miền Trung, miền Bắc, đến vùng đất mới, họ vẫn luôn nhớ về “cố hương”, nhớ về cội nguồn, vẫn đang tìm kiếm lại “căn cước” của chính mình, tìm kiếm lại lí lịch đích thực của người Việt, một thứ lí lịch không dựa trên những tiêu chuẩn xã hội và giai cấp nào đó mà dựa vào “huyết thống” và “di truyền sinh học”, đúng hơn là “di truyền văn hóa”. Trên bình diện khác, bình diện những xung đột văn hóa hay những đụng độ về văn hóa, khi người Pháp xâm lược 3 tỉnh miển Tây, với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, người Việt đã có chỗ dựa để chống lại những làn sóng xâm lăng văn hóa ồ ạt từ bên ngoài đe dọa làm mất bản sắc văn hóa dân tộc- chứ không phải chỉ mất chủ quyền lãnh thổ. Vì vậy, ngoài nghi thức thờ cúng tổ tiên, người Việt miền Tây còn giữ lại cho mình cách phục sức - lễ phục truyền thống: quần chùng - áo dài - khăn đóng (của các tín đồ Bửu Sơn Kì Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa) như thái độ bảo tồn phong tục, giữ gìn văn hóa tộc người, chống lại những gì phương Tây xa lạ. Suy cho cùng, Bửu Sơn Kỳ Hương- một hiện tượng tôn giáo hóa thờ cúng tổ tiên, là một phản ứng của văn hóa Việt đối với sự xâm nhập của văn hóa ngoại lai.    

Thờ cúng tổ tiên của người Việt còn là hình thái tín ngưỡng có ý nghĩa lớn về mặt tổ chức cộng đồng trong xã hội truyền thống, yếu tố vững chắc nhất gắn bó các thành viên của đại gia tộc. Để duy trì tổ chức cộng đồng từ gia đình tới dòng họ, người Việt cũng rất coi trọng việc ghi chép gia phả. Đây là việc làm mang tính chất giáo dục gia đình và giữ gìn kỉ cương, nền nếp gia phong. Do đó, truyền thống được bảo tồn, lễ nghi trật tự được tôn trọng. Niềm tin, ý thức gia tộc cũng như ý thức về một cội nguồn giữ một vai trò rất quan trọng trong đời sống tâm linh, có vai trò rất to lớn trong tổ chức cố kết cộng đồng, là sức mạnh giúp cho cộng đồng chiến thắng trước mọi đe dọa của ngoại xâm.

Thờ cúng tổ tiên của người Việt Tây Nam Bộ còn thể hiện có tính cách thiêng liêng trong “cúng việc lề”, một nghi lễ đặc thù của người Việt miền này. Cúng việc lề không chỉ biểu lộ sự trân trọng và biết ơn sâu xa đối với ông bà tổ tiên đã đem lại cho cháu con một cuộc sống no ấm, đầy đủ như hiện tại, mà còn là một hình thức, một bài học giáo dục cho con cháu về truyền thống gia tộc, uống nước nhớ nguồn sâu sắc, chân thực bậc nhất. Cúng việc lề là tín ngưỡng đặc thù của địa phương Nam Bộ được hình thành từ thời khẩn hoang đến nay. Tín ngưỡng này có tác dụng gắn kết cộng đồng, củng cố tinh thần gia tộc, dòng họ, bộc lộ sự đồng cảm, nhớ ơn của con cháu đối với cội nguồn tổ tiên và công cuộc mở đất của các bậc tiền nhân.

 Cũng như người Việt cả nước, trong bất cứ gia đình người Việt nào ở miền Tây Nam Bộ (trừ tín đồ Thiên Chúa giáo) cũng đều có bàn thờ gia tiên trong nhà. Bàn thờ thường đặt ở vị trí trang trọng nhất và họ thường tổ chức cúng tế tổ tiên vào dịp giỗ chạp, lễ. tết... Tập quán này của người Việt mang ý nghĩa giáo dục rất sâu sắc. Là hình thức nhắc nhở các thành viên trong gia đình dòng họ nhớ đến tổ tiên, nhớ đến truyền thống tốt đẹp của dân tộc mình. Đây là điểm xuất phát quan trọng không thể thiếu được trong sinh hoạt tinh thần người Việt. Đây cũng là khởi đầu và tế bào cơ bản của việc giáo dục mọi đức tính tốt đẹp của con người như lòng yêu thương quê hương, gia đình, lòng yêu Tổ quốc và hơn hết là ý thức về cội nguồn của mình. Nhờ ý thức này mà nhiều giá trị tích cực của nó được giữ gìn và phát huy.

 Một trong những hình thức để biểu lộ sự thờ phụng là săn sóc tới phần mộ tổ tiên. Thường đến cuối năm người Việt hay quét dọn, bồi đắp... phần mộ tổ tiên, nhân dịp này con cháu thắp hương trên mộ, khấn mời tổ tiên về ăn tết. Đây là một trong những hành vi tôn kính thiêng liêng nhất mà người sống có thể bộc lộ với người chết. Vì ở người Việt, mồ mả là một tài sản thiêng liêng được tôn kính sâu sắc...   

Như vậy, trong khi hướng tới tương lai, người Việt không hề đoạn tuyệt với quá khứ; trân trọng quá khứ là một truyền thống văn hóa đắc sắc của người Việt. Thờ cúng Tổ tiên, hay Đạo Ông Bà, Đạo Tổ Tiên là nét văn hóa đặc trưng, bền vững của người Việt. Người Việt miền Tây phụng thờ tổ tiên chính vì sự hiếu, vì sự tôn kính, nhớ thương và vì sự biết ơn các bậc sinh thành của người sống đối với người đã khuất. Đó là đạo lí “uống nước nhớ nguồn”(“ẩm hà tư nguyên”, “báo bản tư nguyên”) của người Việt. Một đạo lí sống giàu tính nhân văn, có vai trò rất tích cực trong việc củng cố, nâng cao đạo lí xã hội, là chỗ dựa vững chắc có khả năng “đề kháng”, “miễn dịch” cho nền văn hóa dân tộc trước sự tiến công, xâm nhập ồ ạt của những nền văn hóa xa lạ từ bên ngoài đe dọa làm mất bản sắc văn hóa dân tộc. Thờ cúng tổ tiên không chỉ trở thành “vô thức tập thể” của cư dân Việt, một thứ “gen văn hóa “ tinh thần, một thứ “di truyền văn hóa”, một tập tục mà người Việt đặc biệt gắn bó, một chiều sâu tâm linh, có tác dụng giáo dục rát sâu sắc, một tác nhân cố kết cộng đồng, tác động rất lớn tới quyết tâm bảo vệ gia tộc, tổ tiên và bảo vệ quê hương, Tổ quốc thiêng liêng của người Việt xưa cũng như nay ở vùng biên ải Tây Nam đất nước.

 TS Cao Thanh Tân

 

Tin tức khác

Zalo phone Hotline