Ngày 15/08/20211754
Năm 1433, sau khi dẹp loạn Đèo Cát Hãn trở về, vua Lê Thái tổ cho khắc thơ vào vách núi Pú Huổi Chỏ (Lai Châu) và Hào Tráng (Hòa Bình) hai bài thơ thể hiện ý chí mạnh mẽ bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ. Cả hai bài thơ đều được đánh giá là vô cùng quý giá trong kho tàng văn học cổ nước nhà.
Phòng thủ biên giới, giữ yên biên giới là một trong những vấn đề hệ trọng trong công việc quản lý đất nước mà các vua giỏi nào thời xưa cũng luôn trù tính, lo liệu. Thái tổ Lê Lợi (1381-1433), vị anh hùng chiến thắng quân Minh, người khai sáng vương triều Lê là ông vua đã làm hết sức mình vì sự nghiệp an biên đó và ông đã để lại lời căn dặn sâu sắc cho bao đời sau:
Biên phòng hảo vị trù phương lược
Xã tắc ưng tu kế cửu an
(Phải có phương lược tốt phòng thủ biên giới
Cần tìm kế sách hay làm cho xã tắc yên ổn lâu dài)
Đây là hai câu trong bài thơ thứ hai Lê Thái tổ viết khi đi đánh dẹp viên tù trưởng châu Mường Lễ (Lai Châu) là Đèo Cát Hãn nổi dậy gây phiến loạn, mưu mô cát cứ vùng Tây Bắc nước ta.
Trong những năm quân Minh xâm chiếm nước ta (1406 - 1427), Đèo Cát Hãn theo chân quân Minh gây nhiều tội ác ở địa phương. Bị nghĩa quân Lam Sơn phối hợp với nhân dân cùng nghĩa binh Tây Bắc dồn đánh, thế lực tàn tạ, họ Đèo xin hàng. Nhưng sau, Đèo Cát Hãn lại phản phúc nổi dậy và Lê Thái tổ năm 1433 (tháng Giêng, Quý Sửu) đã thân đem quân ngược sông Đà, vượt suối rừng đến châu Mường Lễ đánh dẹp Đèo Cát Hãn. Tháng 3, Lê Thái tổ chiến thắng trở về. (Tháng 8 năm đó Lê Thái tổ qua đời).
Trên đường thắng lợi trở về, Lê Thái tổ cho khắc một bài khắc ở vách đá núi Pú Huổi Chỏ bên sông Đà, phần đất thuộc tỉnh Lai Châu; một bài khắc vào vách núi Hào Tráng ở Chợ Bờ, tỉnh Hòa Bình để ghi lại chiến công đó.
Bài thứ nhất:
Cuồng tặc cảm bô tru
Biên manh cửu hễ tô
Bạn thần tòng cổ hữu
Hiềm địa tự kim vô
Thảo mộc kinh phong hạc
Sơn xuyên nhập bản đồ
Đề thi khắc nham thạch
Trấn ngã Việt Tây ngu
Nghĩa là:
Giặc cuồng bạo dám trốn tránh sự trừng phạt
Dân nghèo nơi biên giới từ lâu đợi ta tới cứu sống
Kẻ bề tôi làm phản từ xưa vẫn có
Đất hiếm từ nay không còn nữa
Gió thổi, hạc kêu làm cho loài (giặc) cỏ rả run sợ
Núi sông đã vào chung một bản đồ
Đề thơ khắc vào núi đá
Trấn giữ miền Tây của nước Việt ta.
Bài thứ hai:
Kỳ thu hiểm lộ bất từ nan
Lão ngã do tồn thiết thạch can
Nghĩa khí tảo không thiên chướng vụ
Tráng tâm di tận vạn trùng san
Biên phòng hảo vị trù phương lược
Xã tắc ưng tu kế cửu an
Hư đạo nguy than tam bách khúc
Như kim chỉ tác thuận lưu khan.
Dịch nghĩa:
Đường gập ghềnh hiểm trở không ngại khó
Ta già rồi song vẫn còn tấm gan sắt đá
Nghĩa khí quét sạch nghìn đám mây mù
Lòng hùng tráng san phẳng muôn trùng núi
Phải có phương lược tốt phòng thủ biên giới
Cần tìm kế sách hay làm cho xã tắc yên ổn lâu dài
Bảo "ba trăm khúc thác gềnh nguy hiểm" (1) là nói ngoa
Nay ta chỉ thấy nước chảy xuôi dòng
Bản dịch thơ của Trần Lê Văn:
Ngại gì hiểm trở đường xa
Gan già vẫn sắt, lòng già vẫn son
Chí này san phẳng núi non
Nghĩa này quét sạch ngàn cơn mây mù
Biên phòng năm liệu mười lo
Sao cho xã tắc muôn thu thái hòa
Ba trăm gềnh thác băng qua
Nay nhìn sông nước hóa ra thuận dòng.
Qua hai bài thơ trên, chúng ta thấy Lê Thái tổ là ông vua có một ý thức và một ý chí mạnh mẽ trong việc quyết tâm dẹp tan những mưu toan cát cứ địa phương, làm nứt vỡ nền thống nhất đất nước, bảo vệ vững chắc và yên ổn miền rừng núi biên cương. ý thức và ý chí ấy cũng là tinh thần chung, nguyện vọng chung của xã hội đương thời.
Tạ Ngọc Liễn