(069). 518.055

Tác động văn hóa xuyên biên giới Việt Nam - Trung Quốc

Ngày 12/08/2021759

Tương tác xã hội là một chủ đề nghiên cứu lâu nay của xã hội học, khái niệm tương tác văn hóa xuyên biên giới dùng để chỉ hiện tượng những tương tác xã hội được phát sinh giữa các quốc gia có cơ sở văn hóa tương đồng. Trong những biến đổi của xã hội hiện đại, tương tác văn hóa xuyên biên giới Trung-Việt có ý nghĩa hiện thực sâu sắc. Biên giới giữa Việt Nam và tỉnh Vân Nam Trung Quốc có 7 hiện tượng văn hóa tương đồng, những hiện tượng văn hóa hoặc tài nguyên văn hóa này tạo cơ sở cho tương tác văn hóa xuyên biên giới hai quốc gia. Tương tác văn hóa xuyên biên giới có đặc điểm mang tính tương đồng và tính dị biệt, trong quá trình tương tác, cư dân biên giới cần phải vận dụng một cách hợp lý và đúng thời điểm. 

1. Khái niệm tương tác xã hội

Tương tác xã hội là một trong những khái niệm công cụ dùng để phân tích trong nghiên cứu xã hội, là một trong những chủ đề nghiên cứu chủ yếu của Xã hội học vi mô. Tương tác xã hội chỉ sự tác động qua lại giữa các chủ thể xã hội với nhau mà chủ thể đó là các cá nhân, nhóm, cộng đồng xã hội hoặc các thiết chế xã hội, nó là bước chuyển khi các cá nhân vươn tới các nhóm xã hội hoặc các thiết chế xã hội cao hơn trong đó kinh tế, chính trị, văn hóa đóng vai trò trung gian bước đệm. Tương tác xã hội là một khái niệm quan trọng của xã hội học, nhưng xưa nay vẫn chưa có một lý luận thống nhất. Khái niệm tương tác xã hội do nhà xã hội học người Đức Georg Simmel đưa ra đầu tiên, sau đó Max Weber tiếp tục đưa ra một số quan điểm xung quanh vấn đề tương tác xã hội. Những lý luận về tương tác xã hội chủ yếu bao gồm phương pháp luận của ngành nghiên cứu tri thức bình dân(ethnomethodology), thuyết tương tác biểu trưng(symbolic interactionism), phép dựng kịch (dramaturgy), lý thuyết trao đổi xã hội (social exchange theory), lý thuyết nhóm tham khảo (reference group theory), những nhân vật tiêu biểu gồm có Harold Garfinkel, George Herbert Mead, Charles Horton Cooley, Erving Goffman, Casper George Homans. Quan điểm cơ bản của họ là: trong quá trình tương tác con người học ngôn ngữ, tín hiệu biểu trưng, hình thành nên ý thức về bản thân. Trong quá trình tương tác giữa bản thân với những người khác, thông qua việc quản lý hình tượng và những gì người khác phản hồi lại về mình, con người dần hình thành nên hình tượng của bản thân và không ngừng điều chỉnh hành vi để phù hợp với vai diễn của mình trong xã hội. Những hình thức chủ yếu của tương tác xã hội bao gồm: trao đổi, cạnh tranh, hợp tác, xung đột, cưỡng chế.

Bài viết này chủ yếu thảo luận tương tác xã hội như một hành vi trao đổi trên cơ sở lấy văn hóa làm nền tảng. Hoạt động nhóm và quá trình xã hội là hành vi xã hội trên nền tảng văn hóa. Khi hai bên có liên quan cùng thực hiện hành vi xã hội thông qua gạch nối văn hóa thì sẽ hình thành nên tương tác xã hội. Tương tác xã hội còn được gọi là giao tiếp xã hội hoặc tác động tương hỗ, nó không giống với hành vi phản ứng với kích thích của động vật, nó là một quá trình hành vi xã hội có tính tương tác và có ý nghĩa nhất định, phát sinh giữa con người với nhau, giữa cá nhân với nhóm hoặc giữa các cộng đồng với nhau. Tương tác xã hội là phương thức tồn tại quan trọng của con người.

1.   Tương tác văn hóa xuyên biên giới

            Văn hóa xuyên biên giới có thể định nghĩa là “tổng hòa những hiện tượng cùng tồn tại giữa các quốc gia như ngôn ngữ văn tự, phong tục tập quán, tôn giáo tín ngưỡng, phương thức canh tác, phương thức cư trú”. Văn hóa xuyên biên giới thường xuất hiện ở khu vực biên giới hai nước, do cùng một dân tộc bị chia tách vào hai thực thể chính trị khác nhau mà nảy sinh hiện tượng văn hóa bị phân tách. Văn hóa xuyên biên giới do các dân tộc có cùng chung một nguồn gốc tộc người kế thừa và phát triển, không được coi là các nét đặc trưng văn hóa (culturetraits) khác nhau. Văn hóa xuyên biên giới là phương thức tổ hợp giữa hình thái và tài nguyên văn hóa đặc thù tại khu vực dân tộc nằm ở biên giới hai nước, nó có hai đặc điểm sau đây:

Thứ nhất, văn hóa xuyên biên giới có đặc trưng mở theo cả hai hướng, văn hóa xuyên biên giới phát huy tác dụng rất quan trọng trong quan hệ giao lưu giữa hai nước. Kiểu đặc trưng mở theo cả hai hướng này khiến cho văn hóa xuyên biên giới có thể trở thành trung gian kết hợp hai nước láng giềng với nhau. Với phương thức độc đáo của mình, văn hóa xuyên biên giới có ảnh hưởng tới hoạt động giao lưu tại khu vực dân tộc của hai quốc gia, đồng thời mang lại sức sống mới cho đời sống sản xuất của cư dân biên giới. Ví dụ như hôn nhân xuyên biên giới chính là một biểu hiện quan trọng của tương tác văn hóa xuyên quốc gia.

Thứ hai, văn hóa xuyên biên giới chiếm vai trò cực kỳ quan trọng trong quá trình xây dựng văn hóa sáng tạo cho xã hội hiện đại. Mặc dù văn hóa xuyên biên giới do cư dân có cùng một nguồn gốc tộc người sống tại khu vực biên giới hai nước kế thừa và phát triển, thế nhưng nó lại không hoàn toàn giống với những gì tổ tiên chung đã để lại từ đời này qua đời khác hoặc không giống những truyền thống văn hóa kế thừa một cách nguyên xi của một tộc người đơn lẻ trong nội bộ của một quốc gia. Văn hóa xuyên biên giới tạo nên do di dân ở những thời kỳ sớm trong lịch sử, trong quá trình này, bản thân văn hóa cũng có phần bị mai một và có phần được sáng tạo mới, những nét biến đổi văn hóa này tạo thành quá trình tái tổ hợp, mang lại sức sáng tạo và sức sống mới cho văn hóa xã hội hiện đại.

Tương tác văn hóa xuyên biên giới là một loại tương tác xã hội đặc thù, nó đặc thù là bởi vì “xuyên biên giới”. Bởi vậy ở đây cần đưa ra định nghĩa tương tác văn hóa xuyên biên giới là tương tác xã hội do văn hóa vùng biên tạo nên, tương tác xã hội này do tương tác xuyên biên giới quốc gia giữa các cư dân cùng một dân tộc tạo nên chứ không phải là do tương tác trong nội bộ dân tộc tạo nên, vì thế nó tạo nên hàng loạt các tương tác xã hội xuyên văn hóa, thậm chí cả các tác động xã hội khác với qui mô và phạm vi rộng lớn với những nội dung và hình thức khác nhau. Những tương tác này đều được triển khai trên cơ sở tương tác văn hóa xuyên biên giới.

Trong trào lưu toàn cầu hóa, hiện tượng tương tác văn hóa xuyên biên giới có ý nghĩa hiện thực hết sức quan trọng trong việc tăng cường giao lưu hợp tác giữa các quốc gia láng giềng. Với vai trò là bộ phận quan trọng tạo nên sự giao lưu văn hóa dân tộc, tương tác văn hóa xuyên biên giới có ảnh hưởng đối với quan hệ dân tộc và vấn đề phát triển ổn định và bền vững tại vùng biên giới. Vì thế, đi sâu phân tích đặc điểm của tương tác văn hóa xuyên biên giới và việc vận dụng nó trong hiện thực là một việc làm có ý nghĩa. Từ khía cạnh khác, tài nguyên văn hóa độc đáo tại khu vực văn hóa dân tộc xuyên biên giới có thể trở thành ưu thế có lợi cho việc phát triển tại khu vực biên giới. Lấy văn hóa để dẫn đường, tìm một mô hình chiến lược phát triển kinh tế xã hội mang đặc sắc văn hóa dân tộc. Đây là một con đường đúng đắn, nhiều bên được hưởng lợi. Đối với Trung Quốc, hầu hết các khu vực biên giới đều là các khu vực lạc hậu, thông qua tương tác xuyên văn hóa có thể phát huy thế mạnh, hạn chế khuyết điểm, khai thác phát triển những dự án phát triển có lợi cho địa phương mình. Đối với nước bạn, cũng có thể thông qua cơ hội này để tăng cường quan hệ với Trung Quốc, không bỏ lỡ thời cơ hai bên cùng có lợi.

2. Đặc điểm của tương tác văn hóa xuyên biên giới Việt Nam - Trung Quốc

Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam nằm ở phía Đông bán đảo Đông Dương, có địa hình dài và hẹp, có nhiều núi đồi, diện tích rộng 329.556 km2, dân số khoảng 80,67 triệu người (theo con số năm 2011), tín ngưỡng chủ yếu là Phật giáo, ngôn ngữ thông dụng là tiếng Việt, tiếng Trung Quốc và tiếng Anh cũng được sử dụng rộng rãi. Dân tộc chủ thể là dân tộc Kinh, chiếm 90% dân số, ngoài ra có các dân tộc Tày, Mường, Nùng, Thái,  Mông, Dao, Chăm, v.v... Việt Nam tiếp giáp với tỉnh Quảng Tây và tỉnh Vân Nam, châu Hồng Hà, châu Văn Sơn và khu vực Tư Mâu tiếp giáp với tỉnh Lào Cai, Lai Châu và thành phố Hà Nội. Với vai trò thúc đẩy của biên mậu, tại biên giới Trung Quốc -  Việt Nam xuất hiện tương tác xuyên văn hóa. Nói chung, tương tác xã hội xuyên biên giới bao gồm: “Cư dân biên giới đi các chợ vùng biên, vượt biên để trồng trọt, vượt biên chăn thả gia súc, hôn nhân xuyên biên giới, vượt biên để đi học, tham gia vận tải vùng biên, tham gia hoạt động văn hóa bên kia biên giới, vượt biên đánh bạc, cư dân biên giới cùng tham gia lễ hội cùng đón tết, vượt biên làm thuê, vượt biên thăm thân, tham gia các hoạt động tôn giáo bên kia biên giới. Tương tác văn hóa xuyên biên giới cũng chính là để chỉ các hoạt động văn hóa xuyên biên giới.

Nơi tiếp giáp giữa Trung Quốc và Việt Nam mặc dù đã có phân giới cắm mốc rõ ràng, nhưng rõ ràng là có tồn tại những hiện tượng văn hóa hoặc tài nguyên văn hóa tương đồng, bao gồm (1) Nằm trong khu vực văn hóa trống đồng (2) Cùng thờ cúng Nùng Trí Cao (3) Cùng thờ cúng Dàng (ông Trời) (4) Cùng nằm trong vòng cung văn hóa chữ Hán (5) Cùng nằm trong vùng phân bố của địa danh Nà và Mầng (6) Cùng thờ cúng miếu Phục Ba (7) Cùng nằm trong khu vực văn hóa nhà sàn.

Bảy tài nguyên xuyên văn hóa này là do cư dân của cả hai bên biên giới cùng sáng tạo nên. Phân chia từ góc độ thành phần dân tộc, có thể nói chủ yếu những tài nguyên văn hóa này đến từ tộc Tày, Nùng, Choang, tộc Di, tộc Mông, tộc Dao là những tộc sau này từ Trung Quốc di dân sang Việt Nam, họ cũng đều là những người đồng sáng tạo và đồng sở hữu của 7 hiện tượng văn hóa này. dụ, dân tộc Dao ở Việt Nam di cư từ Trung Quốc đến Việt Nam từ giữa thế kỷ 14 thông qua 3 tuyến đường phía Đông, phía trung tâm và phía Tây, trong đó “tuyến đường phía Tây dùng để chỉ con đường từ Hà Khẩu sang tỉnh Lào Cai. Từ thế kỷ 15, dân tộc Di từ Quí Châu đi qua Hà Khẩu đến tỉnh Cao Bằng, Lào Cai của Việt Nam. Ngoài ra tộc Bố Y, Cơ Lao, Tày, La Hụ, Hà Nhì cũng di cư vào Việt Nam. Có thể thấy, xét từ nguồn gốc tộc người, những cư dân mang văn hóa xuyên biên giới đều là anh em đồng bào có cùng tổ tiên nguồn gốc, vì thế mới có các thành tố văn hóa tương đồng, đây cũng là nguyên nhân tạo nên tương tác xã hội mang tính đặc thù của văn hóa xuyên biên giới.

Tương tác xã hội đặc thù còn có thêm một đặc điểm, đó là song song tồn tại tính tương đồng và tính dị biệt. Tính tương đồng đến từ những nhu cầu lợi ích chung của dân tộc, những hoạt động giao lưu văn hóa xuyên biên giới do cư dân hai nước cùng tiến hành, bao gồm hoạt động kinh tế, hoạt động văn hóa, hoạt động tôn giáo, hoạt động hôn nhân, lễ hội... Tính tương đồng của tương tác xã hội văn hóa xuyên biên giới có biểu hiện là tương đồng về ngôn ngữ, lịch sử dân tộc tương đồng hoặc tương tự nhau, tập quán sở thích dân tộc tương đồng hoặc tương tự, sự thừa nhận cùng nguồn gốc dân tộc, hình thái kinh tế hoặc hoạt động kinh tế tương đồng hoặc gần giống nhau, ngoài ra còn có quan hệ hôn nhân họ hàng do tiếp xúc lâu dài trong lịch sử, quan hệ bạn bè, quan hệ trao đổi thông tin, quan hệ tình cảm, quan hệ tín nhiệm, v.v... Tính dị biệt dùng để chỉ các cư dân biên giới có cùng nguồn gốc tộc người thuộc về những thực thể chính trị khác nhau, đó chính là “dị quốc”.

Mỗi thành viên của các dân tộc xuyên biên giới đều có hai thân phận, vừa là thành viên của một dân tộc, vừa là công dân của một nước. Khi tham gia các hoạt động xuyên biên giới cũng chính là sử dụng cả hai thân phận này. Dù là quan niệm quốc gia nặng hơn quan niệm tộc người hay quan niệm tộc người nặng hơn quan niệm quốc gia thì với tư cách cá thể, cư dân biên giới cũng phải tìm được điểm kết nối phù hợp giữa các lợi ích, giữa cái lợi và cái hại. Điểm kết hợp này do 3 nhân tố thuộc các tầng bậc khác nhau quyết định: thứ nhất là tầng cá nhân, tức là năng lực cá nhân, nhận thức và giác ngộ, thứ hai là tầng chỉnh thể dân tộc, tức là tình hình cụ thể của dân tộc, tần số cường độ và thành tựu giao lưu trong lịch sử, đặc biệt là tầng thứ 3, tức là tầng thái độ của quốc gia ở thời điểm đó và mối quan hệ giữa hai chính phủ. Tất cả những nhân tố này hợp lại tạo nên một phần của văn hóa xuyên biên giới, được những cá thể cảm nhận, tiếp thu và vận dụng một cách phù hợp với hoàn cảnh. Nói một cách cụ thể, sự tương tác giữa 3 tầng này như sau:

Thứ nhất là tương tác cá thể. Tương tác cá thể là một loại hành vi cá nhân, do cá thể hành động tự chủ. Tương tác cá thể biểu hiện bằng hình thức độc lập, không cần chính phủ cho phép, nội dung và hình thức tương tác hoàn toàn do cá nhân lựa chọn. Hình thức tương tác cá nhân phổ biến nhất ở vùng biên giới là hôn nhân xuyên biên giới. Loại hình thức hôn nhân này đã có từ lâu đời, đã trở thành một tập tục nhất định.

Thứ hai là tương tác nhóm xã hội. Tương tác nhóm xã hội dùng để chỉ việc cư dân biên giới hai nước thuộc cùng một dân tộc cùng nhau tham dự các hoạt động, mà những hoạt động này thường biểu hiện dưới hình thức lễ tết của dân tộc. Trong các ngày diễn ra lễ hội, cư dân biên giới hai nước tham gia theo nhóm, có tổ chức nhất định, thể hiện tình cảm dân tộc của mình.

Thứ 3 là tương tác ở tầng bậc chính phủ. Các hoạt động tương tác trong lĩnh vực kinh tế giữa chính phủ Trung Quốc và chính phủ Việt Nam khá nhiều, ví dụ như hoạt động biên mậu khởi đầu từ thập kỷ 80 thế kỷ trước, hoạt động giúp đỡ phát triển ngành trồng trọt và các ngành nghề khác, giúp trồng trọt gieo hạt giống cho các nước láng giềng của tỉnh Vân Nam và các thành phố, các châu, các địa phương của Vân Nam. Tuy nhiên, cho đến nay tương tác văn hóa ở tầng bậc chính phủ vẫn chưa nhiều. Ngày 22 - 11 - 2004, huyện Lục Xuân, châu Hồng Hà tổ chức “Thập nguyệt niên trường giai cổ yến của dân tộc Hà Nhì huyện Lục Xuân”, hơn 1 vạn người gồm bạn bè đến từ các quốc gia láng giềng như Lào, Thái Lan, Việt Nam, Miến Điện, các cơ quan trung ương, lãnh đạo các cơ quan hữu quan trong tỉnh và giới truyền thông báo chí trong và ngoài tỉnh đã đến tham gia  Trường giai yến là một trong những nét văn hóa đặc sắc nhất của dân tộc Hà Nhì, hàng năm chính quyền huyện Lục Xuân đều tổ chức hoạt động Trường giai cổ yến, trường giai yến đã được ghi vào kỷ lục ghi nét của thế giới, được gọi là “ Bàn yến tiệc dài nhất thế giới”.

Điều đáng lưu ý là, mối quan hệ giữa nét tương đồng và nét dị biệt không phải là quan hệ một mất một còn. Nét tương đồng càng được tăng cường thì tính dân tộc càng mạnh, tuy nhiên khi tính dân tộc càng mạnh thì điều đó cũng không có nghĩa là tính dị biệt hay tính quốc gia yếu đi. Chỉ cần được vận dụng và phát triển một cách hợp lý thì chúng sẽ hỗ trợ lẫn nhau. Kể từ ngày 24  - 2 - 2008, Trung Quốc - Việt Nam đã nhất trí phương án lập bia cắm mốc ở Hữu Nghị quan. Mặc dù hai nước Trung Quốc - Việt Nam đã có biên giới trên bộ rõ ràng, nhưng vấn đề tương tác văn hóa xuyên biên giới vẫn từng giờ từng phút phát sinh. Là một sức mạnh vô hình, văn hóa vẫn đã và đang tồn tại, mang đến những tác động sâu sắc cho vùng biên giới hai nước.

3. Tiểu kết về tương tác văn hóa xuyên biên giới Trung Quốc - Việt Nam

Thứ nhất, tương tác văn hóa xuyên biên giới tại khu vực biên giới Trung Quốc - Việt Nam có lợi cho việc duy trì truyền thống giao lưu hữu nghị lâu đời giữa hai nước. Truyền thống giao lưu hữu nghị này không chỉ là giữa hai chính phủ mà đồng thời còn bao gồm giao lưu giữa các nhóm xã hội và các cá nhân, tức là giao lưu hữu hảo trong dân gian.

Thứ hai, nhiều hoạt động giao lưu văn hóa dân tộc vùng biên giới như hoạt động tôn giáo, hoạt động lễ hội, triển lãm biểu diễn văn hóa nghệ thuật đều có đặc trưng chung, tức là đều có tính tương đồng và tính dị biệt cùng song song tồn tại. Vì các hoạt động này là các hành vi xuyên biên giới, đông thời là những giao lưu của các thành viên dân tộc có chung nguồn gốc tổ tiên. Là công dân của một nước, hành vi tương tác văn hóa do cá thể thực hiện là hành vi giao lưu quốc tế, có tính dị biệt, tuy nhiên nếu đứng từ nguồn gốc thành phần dân tộc thì những hành vi tương tác này có thể coi là giao lưu văn hóa trong nội bộ tộc người, có tính tương đồng. Vì vậy, tương tác văn hóa tại khu vực biên giới luôn đồng thời có cả tính tương đồng và tính dị biệt.

Thứ ba, tương tác văn hóa xuyên biên giới giữa Vân Nam và Việt Nam diễn ra thường xuyên, thỏa mãn được nhu cầu tình cảm và nhu cầu dân tộc của cư dân hai nước. Phương thức tương tác như vậy phù hợp với hình thức và diễn biến của sự phát triển và về mặt tình và lý. Nói cách khác, thông qua hoạt động tương tác xuyên biên giới, cư dân hai nước thực hiện được dân tộc tính của mình một cách hợp tình hợp lý và với phương thức đặc thù. Trong quá trình thực thi tương tác, người dân không chỉ được thỏa mãn nhu cầu vật chất mà còn được vui vẻ sung sướng về mặt tinh thần ở mức độ sâu sắc nhất.

Thứ tư, tương tác văn hóa xuyên biên giới giữa Vân Nam và Việt Nam, bất kể là ở tầng bậc nào, dù là cá nhân, nhóm xã hội hay giữa các chính phủ thì cũng đều là sự kết hợp hữu cơ giữa ý thức công dân và ý thức dân tộc. Tương tác văn hóa xuyên biên giới của cư dân được triển khai trong khuôn khổ pháp luật nhà nước cho phép, là một hành vi hợp pháp, trên nguyên tắc không vi phạm chủ quyền quốc gia. Cư dân chỉ cần triển khai hoạt động tương tác trong khuôn khổ phạm vi pháp luật cho phép thì sẽ nhận được quyền tự do lớn nhất, tự do này là do pháp luật cho phép chứ không phải là do ý muốn chủ quan của cá nhân vì vậy hành vi tương tác văn hóa xuyên biên giới là một hành vi lý tính hợp lý, được diễn ra bất cứ lúc nào, được luật pháp quốc gia ủng hộ và bảo vệ. Đây chính là vấn đề vận dụng văn hóa một cách hợp lý hợp thời ở trên đã có nhắc tới.

Tóm lại, vào thời đại các phương tiện giao lưu thông tin đại chúng lớn mạnh hơn bao giờ hết, tác động văn hóa xuyên biên giới cũng là một con đường hữu hiệu để tăng cường mối liên hệ giữa các cá nhân và nhóm xã hội ở khu vực biên giới, là bước phát triển mới của mô hình tương tác truyền thống. Điều này không chỉ thể hiện trạng thái kết nối và giao thoa văn hóa mà còn phản ánh mối liên hệ mật thiết giữa các quốc gia. Thông thường, văn hóa xuyên biên giới có ảnh hưởng quan trọng đối với cả hai quốc gia. Mười năm trở lại đây, cùng với sự lan rộng của toàn cầu hóa, tương tác xã hội ngày càng phong phú hơn trước, nội hàm và ngoại diên đều có những thay đổi lớn. Hiện nay, hợp tác giữa các khu vực, các tiểu vùng đã trở thành trào lưu trên thế giới, sự phát triển tại các vùng biên cũng không phải là ngoại lệ. Trung Quốc và Việt Nam đã đưa ra nhiều chiến lược hợp tác kinh tế khu vực như :xây dựng khu mậu dịch tự do Trung Quốc - ASEAN, xây dựng “hai hành lang, một vành đai” và hợp tác tiểu vùng sông Mê Công. Kinh tế phát triển nhanh mang đến cơ hội phát triển ngàn năm có một cho giao lưu hợp tác văn hóa giữa Trung Quốc và Việt Nam, chắc chắn sẽ có tác dụng cực kỳ to lớn trong phát triển tại khu vực biên giới.               


TS. Phùng Nhuận

Tin tức khác

Zalo phone Hotline