(069). 518.055

T­ừ "pháo đài xanh" trong lịch sử đến "trận địa lòng dân" trong bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia

Ngày 06/08/2021295

Những làng xóm miền Bắc nằm gọn sau lũy tre làng, những thôn ấp miền Nam dựa vào nhau trong những rừng dừa, rừng đước, từ lâu đời chính là những "pháo đài xanh", pháo đài kiên cố gây khiếp sợ cho kẻ thù. Làng xóm đối với người Việt Nam là quê hương gần gũi nhất, là mảnh đất chôn nhau cắt rốn, gắn bó người Việt Nam trong các mối quan hệ họ hàng, bà con thân thuộc.

Tình cảm quê hương xóm làng đã làm vững chắc thêm sự hợp tác tự nguyện trong công cuộc dựng nước và giữ nước của lịch sử hơn 4.000 năm đấu tranh anh dũng ngoan cường của dân tộc. Từ đời này qua đời khác, đàn ông, đàn bà, đủ lứa tuổi, góp sức, góp tài, góp công, góp của bảo vệ quê hương xóm làng, bảo vệ từng tấc đất của Tổ quốc.

Cũng chính vì vậy, trong suốt ngàn năm Bắc thuộc, làng quê chính là nơi ấp ủ, vun đắp và phát triển tinh hoa văn hóa cổ truyền của dân tộc, là "pháo đài xanh" chống lại âm mưu đồng hóa của kẻ thù để đến khi có thời cơ nổi dậy, những người lãnh đạo khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh giải phóng lại tìm thấy ở làng quê sức mạnh thần kỳ của chiếc đòn bẩy, làm bật dậy sức mạnh chiến đấu ngoan cường giành lại đất nước thân yêu. Nói một cách khác, trong thời kỳ Bắc thuộc, kẻ thù không thể nào với tay được đến "pháo đài xanh- lũy tre làng", không khống chế nổi cơ sở bên dưới của xã hội, không làm biến đổi được cơ sở xóm làng cổ truyền của dân tộc. Làng xã Việt Nam vẫn là những bầu trời của riêng người Việt. Có thể nói "Đứng trên phương diện thể chế chính trị và cơ cấu xã hội hạ tầng trong thời kỳ Bắc thuộc, nước Việt Nam như một tòa nhà, chỉ thay đổi mặt tiền mà không thay đổi cấu trúc bên trong"(1).

Trong quá trình dựng nước và giữ nước, dân tộc ta đã sớm hình thành và xây dựng cho mình một truyền thống rất Việt Nam đó là: "Thương yêu đùm bọc lấy nhau lúc yên vui, cũng như lúc hoạn nạn, nương tựa, trông cậy lẫn nhau, không ngừng vượt mọi hy sinh gian khổ để duy trì sự sống và khi có chiến tranh toàn dân nổi dậy chống lại quân xâm lược, giặc đến nhà đàn bà cũng đánh". Đó chính là lòng yêu nước và tinh thần đấu tranh cho độc lập tự do, bảo vệ vững chắc chủ quyền, an ninh của Tổ quốc vì quyền lợi và sự sống còn của người Việt Nam và cộng đồng dân tộc, đã trở thành động lực tư tưởng của phong trào đấu tranh bất khuất trong chiến tranh giải phóng và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc "thà chết chứ không chịu làm nô lệ", "không có gì quý hơn độc lập tự do".

Từ tinh thần đoàn kết chặt chẽ, sống chết có nhau, sung sướng có nhau, hoạn nạn có nhau, no đói có nhau, người dân Việt luôn nêu cao lòng yêu nước, ý chí đấu tranh kiên cường của dân tộc kết hợp chặt chẽ với nhau từ làng xóm trở thành những "pháo đài xanh" sau lũy tre làng, giữ vững từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc. Chiến thắng Bạch Đằng vĩ đại năm 938 của Ngô Quyền đã vận động được quần chúng nhân dân nổi dậy đập tan ách thống trị 10 thế kỷ, từ thế kỷ thứ 1 đến những thập kỷ đầu của thế kỷ thứ 10 của phong kiến xâm lược phương Bắc. Chính sức sống mãnh liệt của dân tộc ta đã tạo nên tiền đề vật chất và tinh thần cho công cuộc giành lại độc lập dân tộc và phát triển đất nước ở thế kỷ thứ 10, mở ra 5 thế kỷ độc lập tự chủ (từ thế kỷ 10 đến thế kỷ 15) qua các triều đại Đinh, Lê (tiền Lê), Lý, Trần, Lê (hậu Lê), tuy có bị gián đoạn hai thập kỷ Minh thuộc (từ năm 1406 đến năm 1428) nhưng là một thời kỳ rực rỡ của dân tộc, đưa đất nước, con người, xã hội và dân tộc Việt Nam phát triển nhảy vọt sang thời kỳ độc lập lâu dài dưới chế độ phong kiến.

Cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông thế kỷ 13, cũng như những cuộc kháng chiến trước đó (kháng chiến chống Tống của Lê Hoàn và Lý Thường Kiệt) và sau đó, cuộc kháng chiến chống Minh (của Lê Lợi và Nguyễn Trãi), đại phá quân Thanh (của Quang Trung) là những bản anh hùng ca bất hủ, thể hiện sâu sắc và rực rỡ của lòng yêu Tổ quốc, yêu quê hương xóm làng của những người Việt Nam yêu nước, liên kết chặt chẽ thành những bản làng chiến đấu "pháo đài xanh" pháo đài kiên cố đánh bại quân thù, giữ vững chủ quyền, lãnh thổ. Nhà nước coi người dân biên giới như người lính biên thùy và phát huy sức mạnh to lớn của nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ biên cương của Tổ quốc. Lịch sử Việt Nam khẳng định người dân Việt Nam không bao giờ chấp nhận sự đồng hóa của ngoại bang, không bao giờ chịu mất nước.

Như vậy, yếu tố cơ bản để phòng thủ đất nước chống xâm lược và sự đô hộ của nước ngoài, giữ vững toàn vẹn lãnh thổ trong lịch sử dân tộc là "chủ nghĩa yêu nước Việt Nam", một lòng yêu nước đặc thù của những con người Việt Nam anh hùng, bất khuất, sống chết có nhau, vinh nhục có nhau trong cộng đồng dân tộc, kết thành "pháo đài xanh" từ bản làng đến mọi miền trên đất nước, từ đó tạo nên sức mạnh liên kết từng vùng, từng khu vực đến liên kết trong cả nước vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia.

Chính một giáo sĩ người Ý đến Việt Nam từ thế kỷ thứ 17, đã có nhận xét: "Dân ở đây sống hòa hợp với nhau, cư xử với nhau rất thẳng thắn, thật thà như anh em, được nuôi sống và khôn lớn trong một nhà, mặc dù họ chưa từng thấy và biết nhau bao giờ(2). Gần đây, một học giả, chuyên gia cố vấn của Thượng nghị viện Mỹ, trong khi nghiên cứu lịch sử Việt Nam đã rút ra kết luận: "Nghiên cứu thực thể xã hội Việt Nam, với yếu tố cấu thành làng xã, thấy rõ sức mạnh của dân tộc Việt Nam trong quá khứ chống xâm lược và cũng từ nguyên tố ấy thấy rõ sức mạnh của Việt Nam trong cả tương lai"(3).

Mácnamara (nguyên Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ) trong cuốn sách "Nhìn lại tấm thảm kịch và những bài học ở Việt Nam" đã phải thừa nhận "Một trong những nguyên nhân thua ở Việt Nam là không hiểu dân tộc Việt Nam và nhất là không hiểu về chủ nghĩa yêu nước của con người Việt Nam(4).

Từ khi Đảng ta ra đời, lãnh đạo cách mạng Việt Nam, các bản làng ở các vùng núi hiểm trở, ở các vùng sâu, vùng xa, vùng kênh rạch, vùng ven biển vẫn là những căn cứ, những pháo đài của những cuộc khởi nghĩa và chiến tranh cách mạng. Từ Việt Bắc, quê hương của cách mạng tháng Tám đến chiến khu cứu quốc quân, Đội du kích Ba Tơ, Đội du kích nam Kỳ, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân (tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam) vẫn từ bản làng sôi sục lòng căm thù địch, lòng yêu nước nồng nàn, nổi dậy tiến hành khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng, từ nông thôn sau lũy tre xanh, kết hợp chặt chẽ với thành phố, đô thị để làm nên cách mạng tháng Tám.

Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, nhân dân ta đã xây dựng các bản làng chiến đấu, và từ các bản làng chiến đấu đó, nhân dân ta đã tiến hành chiến tranh nhân dân, kết hợp chặt chẽ tác chiến du kích với tác chiến chính quy. Đặc biệt, ở miền Nam Việt Nam, trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, đã kết hợp chặt chẽ tiến công và nổi dậy, nổi dậy và tiến công ở khắp 3 vùng chiến lược (vùng núi, đồng bằng, đô thị) đánh địch ở khắp nơi, căng địch ra mà đánh, tiêu hao và tiêu diệt nhiều sinh lực địch (kể cả sinh lực và phương tiện chiến tranh), phân tán lực lượng địch ra khắp chiến trường (từ 80- 90%), tạo điều kiện cho các binh đoàn chủ lực mở các chiến dịch lớn, đánh đòn tập trung tiêu diệt địch, làm thất bại mọi âm mưu chiến lược của kẻ thù.

Các bản làng và phố phường chiến đấu đã ghi những chiến công oanh liệt của những người con yêu nước liên kết chặt chẽ với nhau, tiến hành chiến tranh nhân dân, đánh bại quân thù, từ Điện Biên Phủ đến Điện Biên Phủ trên không, cuối cùng đến chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn đất nước. Lịch sử chống xâm lược của dân tộc ta từ đời này qua đời khác, luôn gắn liền với việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia, không để mất một tấc đất, một khúc sông của Tổ quốc như ông cha ta đã căn dặn.

Để bảo vệ vững chắc chủ quyền, an ninh biên giới của Tổ quốc, chúng ta phải ra sức phát huy truyền thống của dân tộc, tăng cường sức mạnh tổng hợp của cả nước, cả nhân tố chính trị, tinh thần và sức mạnh vật chất, cả sức mạnh của nội lực và sức mạnh của thời đại.

Bài học lịch sử chống ngoại xâm, bảo vệ chủ quyền, an ninh lãnh thổ bằng "pháo đài xanh, lũy tre làng" liên kết chặt chẽ với nhau trong cộng đồng dân tộc vẫn sáng ngời và sống động đến ngày nay. Lực lượng Công an vũ trang (nay là Bộ đội Biên phòng) ngay từ khi thành lập ( 3/3/1959) đến nay, luôn luôn làm theo lời căn dặn của Bác "Phải dựa vào dân để hoạt động, khi tổ chức được dân, đoàn kết được dân thì việc gì cũng làm được"(5).

Qua hơn nửa thế kỷ xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, cán bộ, chiến sĩ công an vũ trang đã vượt qua mọi thử thách khó khăn, nhất là trong thời kỳ đầu xây dựng lực lượng, sẵn sàng dốc hết sức mình, xả thân vì sự nghiệp bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới, phấn đấu hoàn thành mọi nhiệm vụ. Với phương hướng "đồn là nhà, biên giới là quê hương, đồng bào các dân tộc là anh em ruột thịt", cán bộ, chiến sĩ công an vũ trang luôn luôn bám địa bàn, làm tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương xây dựng và củng cố cơ sở chính trị, phát triển sản xuất, xóa đói giảm nghèo, góp phần nâng cao dân trí, cải thiện dân sinh, ra sức xây dựng trận địa lòng dân, bảo vệ vững chắc chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia.

Từ năm 1959- 1965: Dựa vào dân, các đơn vị công an vũ trang đã nắm bắt được tình hình, cùng với địa phương ngăn chặn và dập tắt âm mưu thủ đoạn hoạt động gây phỉ và bạo loạn vũ trang ở vùng biên giới. Trên mặt trận chống gián điệp biệt kích, Công an vũ trang cùng quân dân địa phương bắt 59 toán với hàng trăm tên, thu nhiều vũ khí và phương tiện (tiêu biểu là công an vũ trang tỉnh Lai Châu, Sơn La, Nghĩa Lộ, Nghệ An, Quảng Bình…). Trong chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ  "với tinh thần tất cả đánh thắng giặc Mỹ xâm lược", các đơn vị công an vũ trang đã sát cánh với nhân dân, chủ động hợp đồng với các lực lượng, bắn rơi tại chỗ 219 máy bay Mỹ, phối hợp với các lực lượng khác bắn hạ 225 chiếc, bắt nhiều giặc lái, bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân.

Với khẩu hiệu "một tấc đất không đi, một ly không dời", cán bộ chiến sĩ công an vũ trang (Bộ đội biên phòng) đã không quản gian khổ hy sinh, vượt qua thử thách khắc nghiệt (ruồi vàng, bọ chó, gió Lào…) vào tận rừng sâu, hang đá, thực hiện 4 cùng với nhân dân (cùng ăn, cùng ở, cùng làm, cùng nói tiếng dân tộc) giúp dân sản xuất, nhường cơm sẻ áo cho dân trong những lúc khó khăn hoạn nạn.

Ở giới tuyến tạm thời (Vĩnh Linh) nơi đối địch hai miền Nam Bắc, nơi thể hiện tập trung nhất của trận địa lòng dân, cán bộ, chiến sĩ công an vũ trang đã vượt mọi hiểm nguy, kiên trì bám đất, bám dân, chiến đấu ngày đêm bảo vệ bờ Bắc, giương cao lá cờ của Tổ quốc tung bay, tạo niềm tin cho nhân dân miền Nam đấu tranh chống âm mưu lâu dài chia cắt đất nước.

Sau khi giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, lực lượng Công an vũ trang đã nhanh chóng triển khai lực lượng, tổ chức quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia, biển đảo trên phạm vi cả nước. Dựa vào dân, tính đến năm 2006, đã phát hiện 1.400 vụ xâm nhập vào biên giới, bắt giữ 550 vụ (có 9 toán gián điệp biệt kích do CIA tổ chức) gồm 300 tên phản động lưu vong xâm nhập qua biên giới, 2.000 đối tượng địch cài cắm móc nối (diệt 450 tên, bắt 300 tên), bắt hơn 1.000 tên ngụy quân, ngụy quyền trốn ra nước ngoài(6).

Để xây dựng trận địa lòng dân cả về chất và lượng, trong mấy năm gần đây, Bộ đội Biên phòng đã cử 438 sỹ quan tăng cường cho hơn 400 xã biên giới, triển khai nhiều dự án kinh tế, xã hội, với gần 1.000 tỷ đồng, tổ chức định canh định cư cho hàng ngàn hộ dân, làm ruộng nước, đổi mới cây trồng, chăn nuôi tăng thu nhập; cử trên 2.000 chiến sỹ làm nhiệm vụ tuyên truyền văn hóa, tuyên truyền vận động nhân dân đoàn kết xây dựng đời sống mới.

Tính từ 1989- 2006, Bộ đội Biên phòng đã tổ chức 3.664 lớp học, xóa trên 200 thôn bản trắng về giáo dục, góp hàng ngàn công cho xây dựng trường lớp, hàng tỷ đồng mua bàn ghế, đồ dùng học tập cho nhà trường và các em có hoàn cảnh khó khăn(7). Hình ảnh "Thầy giáo mang quân hàm xanh", "Thầy thuốc quân hàm xanh", là những hình ảnh đẹp nhất trong việc xây dựng trận địa lòng dân, đã thực sự chiếm được tình cảm, sự tin yêu và quý mến của nhân dân các dân tộc, tô thắm truyền thống Bộ đội Cụ Hồ trong thời kỳ mới.

Xây dựng trận địa lòng dân là cơ sở vững chắc của nền biên phòng toàn dân mà hạt nhân cơ bản của nó là lòng yêu nước, yêu Tổ quốc; như một nhà quân sự và nghiên cứu lịch sử của Vương quốc Anh Peter mac Donald trong tác phẩm Võ Nguyên Giáp đã nhận định: "Người Việt Nam, nam cũng như nữ là những nhân tố thực sự kiến tạo và thắng lợi. Họ đã tỏ ra cương quyết hết lòng, kỷ luật, dũng cảm và nhiệt tình…"(8).

Suốt nửa thế kỷ qua, theo lời dạy của Bác Hồ, cán bộ, chiến sỹ công an vũ trang (nay là Bộ đội Biên phòng) đã phát huy truyền thống "pháo đài xanh" trong lịch sử dân tộc, ra sức "xây dựng trận địa lòng dân" bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới, luôn nêu cao tinh thần quyết chiến, quyết thắng của quân đội nhân dân, đoàn kết gắn bó máu thịt với nhân dân, một lòng, một dạ trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân, kiên quyết chiến đấu làm thất bại mọi âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch, của bọn phản động lưu vong (Việt Tân…), bảo vệ vững chắc chủ quyền, an ninh biên giới. Hiện nay, "loài người đang bước vào thời kỳ siêu công nghiệp với cách mạng trí tuệ và vật liệu mới của một nền văn minh trí tuệ, một nền văn minh tự động hóa quá trình sản xuất và trình độ ngày càng cao với trận địa kinh tế hàng hóa thứ 9" như một nhà kinh tế học đã mệnh danh(9). Thế giới ngày nay là "thế giới phẳng" nên mọi tin tức, thông tin khoa học phổ biến rất nhanh đến mọi ngõ ngách của hành tinh (có nhiều mặt tích cực, nhưng cũng có những mặt tiêu cực như chiến tranh tâm lý, lối sống văn hóa tư sản…". Do đó, việc nâng cao trình độ hiểu biết cho nhân dân biên giới (nhất là đồng bào dân tộc) là vấn đề rất cấp thiết, cần ra sức tuyên truyền giáo dục về đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta, đồng thời cũng vạch rõ âm mưu chống phá cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch…Từ đó, nâng cao trách nhiệm xây dựng "trận địa lòng dân" để bảo vệ vững chắc chủ quyền, an ninh biên giới trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Trên cơ sở những yêu cầu đó đòi hỏi: Trước hết, mỗi người chúng ta phải ra sức xây dựng sức mạnh tinh thần mà cốt lõi là lòng yêu đất nước, yêu quê hương, làng bản, yêu Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Vì Tổ quốc là hiện thân của toàn bộ lịch sử, hiện thân sự đấu tranh lâu đời để giành độc lập tự do, và cùng sự đấu tranh chống các lực lượng thiên nhiên để cải thiện các điều kiện sinh hoạt của mình, sự đấu tranh mà nhờ đó có được như ngày nay. Từ đó, phát hiện và đập tan mọi luận điệu tuyên truyền xuyên tạc nói xấu và bôi đen chế độ, những âm mưu bạo loạn, lật đổ của các thế lực thù địch, của bọn phản động lưu vong cấu kết với bọn phản động trong nước chống phá cách mạng Việt Nam.

Hai là, phải ra sức xây dựng sức mạnh vật chất mà trọng tâm là củng cố xây dựng hệ thống chính trị vững chắc (đảng, đoàn, thanh niên, phụ nữ, nông dân, phụ lão, cựu chiến binh…) gồm những con người yêu Tổ quốc liên kết lại cùng với lực lượng vũ trang nhân dân tại chỗ thành sức mạnh tổng hợp ở khu vực biên giới, như Lênin đã chỉ rõ: "Chỉ có trong điều kiện có một tổ chức thật tốt, thì sức mạnh tinh thần mới trở thành sức mạnh vật chất được" và mới là "trận địa lòng dân" vững chắc bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới(10).     

                                                                                  Cao Thượng Lương

(1) Giron- Tín ngưỡng và Tôn giáo, H, 1902.

(2) Christofo Borri, "Relation de la cochinchine  Revue Indochinoise, H, 4/4/1905.

(3) John Malister Vietnam origins Revolution, Nxb New York 1969.

(4) Macnamara, Nhìn lại tấm thảm kịch và những bài học về Việt Nam" trong cuốn "Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp, vị tướng vì hòa bình", Nxb Văn hóa Sài Gòn, 2009, tr.2.148.

(5) Biên phòng Việt Nam, Nxb QĐND, H, 2006, tr.32.

(6) Biên phòng Việt Nam, Nxb QĐND, H, 2006, tr.19.

(7) Biên phòng Việt Nam, Nxb QĐND, H, 2006, tr.23.

(8) Perter Macdonald Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp, vị tướng vì hòa bình, Nxb Văn hóa Sài Gòn, 2009, tr.2.180.

(9) Jacques Atali "Ligne dorizon", Nxb Fayrd Paris, 1991.

(10) Lênin toàn tập, Tập 8, Nxb Sự thật, H, 1965, tr.160.

 

Tin tức khác

Zalo phone Hotline