Ngày 16/08/2021524
Thời gian qua, việc luận giải về sự cần thiết ban hành Luật Biên phòng Việt Nam đã được Ban soạn thảo Dự án luật đề cập trên các chiều cạnh cơ bản, từ thực tiễn quản lý, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh BGQG đến các cơ sở chính trị, pháp lý cho việc ban hành Luật. Tuy nhiên, từ góc độ chính trị, việc tiếp tục đi sâu làm rõ hơn sự cần thiết ban hành Luật trên cơ sở quan điểm, mục tiêu, định hướng cơ bản của Đảng Cộng sản Việt Nam về bảo vệ BGQG và hoàn thiện pháp luật về quốc phòng, an ninh là hết sức cần thiết. Cụ thể:
1. Quan điểm cơ bản của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác biên phòng và xây dựng lực lượng nòng cốt, chuyên trách bảo vệ biên giới trước khi có Pháp lệnh BĐBP
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi việc bảo vệ Tổ quốc nói chung, quản lý, bảo vệ BGQG nói riêng là một nhiệm vụ chiến lược của đất nước. Từ vị trí của biên giới đất liền và bờ biển, hải đảo, Người đặt ra yêu cầu phải tổ chức giữ gìn, bảo vệ khu vực trọng yếu này. Người đã đưa ra những chỉ đạo cơ bản nhưng vô cùng quan trọng về công tác biên phòng. Người cho rằng: biên giới, đất liền, bờ biển, hải đảo là địa bàn chiến lược, có một vị trí cực kỳ quan trọng về kinh tế, chính trị và quốc phòng của cả nước. Cách đây gần 60 năm, Người đã dặn dò các lực lượng vũ trang: Ngày trước ta chỉ có đêm và rừng. Ngày nay ta có ngày, có trời, có biển. Bờ biển của ta dài, tươi đẹp, ta phải biết giữ gìn lấy nó. Người cho rằng: đồng bằng là nhà, biển là cửa. “Giữ nhà mà không giữ cửa có được không? Kẻ gian tế vào chỗ nào trước? Nó vào ở cửa trước”[1] nên phải “canh cửa cho Tổ quốc”[2].
Để “canh cửa cho Tổ quốc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam luôn quan tâm đến việc tổ chức lực lượng đảm nhiệm công tác này. Ngày 19/11/1958, Bộ Chính trị Trung ương Đảng ra Nghị quyết số 58/NQ-TW về việc xây dựng lực lượng cảnh vệ nội địa và biên cương. Nghị quyết khẳng định quan điểm của Đảng về xây dựng lực lượng chuyên trách làm công tác bảo vệ nội địa và biên cương, lấy tên là lực lượng cảnh vệ, gồm hai bộ phận: cảnh vệ nội địa và cảnh vệ biên phòng. Trong đó, “cảnh vệ biên phòng có nhiệm vụ trấn áp bọn hoạt động gián điệp, biệt kích, thổ phỉ, hải phỉ và bọn hoạt động phá hoại ở khu vực biên giới, giới tuyến, bờ biển; đánh mạnh vào bọn vũ trang xâm phạm biên giới; ngăn ngừa và trựng bị bọn buôn lậu qua biên giới; kiểm soát các hoạt động qua lại biên giới theo quy định của Chính phủ; bảo vệ trật tự an ninh, tài sản của Nhà nước và đời sống của nhân dân vùng biên giới”[3].
Thực hiện Nghị quyết số 58/NQ-TW, Thủ tướng Chính phủ đã ra Nghị định số 100/TTg ngày 3/3/1959 để “thống nhất các đơn vị bộ đội quốc phòng đang làm công tác bảo vệ nội địa, bảo vệ biên giới, giới tuyến và các đơn vị công an biên phòng, cảnh sát vũ trang thành một lực lượng vũ trang chuyên trách công tác biên phòng và bảo vệ nội địa”[4], đó chính là lực lượng Công an nhân dân vũ trang - tiền thân của lực lượng BĐBP.
Từ những quan điểm cơ bản, đầu tiên của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác biên phòng và xây dựng lực lượng BĐBP, trong suốt thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, Đảng ta tiếp tục có những nghị quyết cụ thể để củng cố tổ chức, xây dựng lực lượng và xác định những nhiệm vụ mới cho BĐBP, như: Nghị quyết số 40-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 20/1/1962 về củng cố, tăng cường lực lượng Công an nhân dân vũ trang; Nghị quyết số 116-NQ/TW ngày 28/4/1965 của Bộ Chính trị về việc phân công nhiệm vụ giữa quân đội nhân dân và lực lượng công an nhân dân vũ trang trong việc bảo vệ trị an ở miền Bắc và điều chỉnh tổ chức lực lượng công an nhân dân vũ trang...
Sau khi đất nước hoàn toàn độc lập, thống nhất hai miền Nam - Bắc, bắt nguồn từ những yêu cầu, đòi hỏi của sự nghiệp cách mạng, của công tác bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia trong từng thời kỳ, Đảng tiếp tục có những nghị quyết lãnh đạo công tác biên phòng và tổ chức lực lượng BĐBP, như: Nghị quyết số 22/NQ-TW ngày 10/10/1979 của Bộ Chính trị về việc chuyển giao nhiệm vụ và lực lượng Công an nhân dân vũ trang sang Bộ Quốc phòng. Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ công tác biên phòng thời kỳ đổi mới, ngày 8/8/1995, Bộ Chính trị Trung ương Đảng ra Nghị quyết số 11-NQ/TW về xây dựng BĐBP trong tình hình mới. Đây là nghị quyết đầu tiên quy định toàn diện về công tác biên phòng và xây dựng lực lượng BĐBP nhằm lãnh đạo thực hiện có hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước đối với công tác biên phòng và lực lượng BĐBP. Nghị quyết đã nêu rõ công tác biên phòng trong tình hình mới, quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, nguyên tắc tổ chức của BĐBP, trên cơ sở đó Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh BĐBP - tạo lập cơ sở pháp lý cho việc phát huy vai trò của BĐBP và các lực lượng vũ trang nhân dân khác, huy động tiềm lực vật chất, tinh thần của xã hội vào việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, bảo vệ an ninh biên giới, hải đảo của Tổ quốc.
2. Quan điểm, mục tiêu, định hướng hoàn thiện pháp luật về quốc phòng, an ninh, về công tác biên phòng và lực lượng BĐBP của Đảng từ sau khi có Pháp lệnh BĐBP
Với tư cách là một đạo luật điều chỉnh các quan hệ xã hội thuộc lĩnh vực quốc phòng, an ninh, việc xây dựng Luật Biên phòng Việt Nam được tiến hành trên cơ sở quan điểm hoàn thiện hệ thống pháp luật về quốc phòng, an ninh của Đảng. Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 xác định: “hoàn thiện hệ thống pháp luật về quốc phòng, an ninh nhằm xây dựng vững chắc nền quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân; thể chế hóa mối quan hệ giữa phát triển kinh tế - xã hội với củng cố và xây dựng tiềm lực quốc phòng, an ninh, quyền và nghĩa vụ của công dân trong việc bảo vệ Tổ quốc. Hoàn thiện pháp luật về BGQG, vùng biển, vùng trời; về tổ chức hoạt động của lực lượng vũ trang nhân dân”. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng cũng khẳng định: “Hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách về quốc phòng, an ninh; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh”[5] là một trong những phương hướng, nhiệm vụ cơ bản để tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN trong tình hình mới.
Những quan điểm, mục tiêu, định hướng về hoàn thiện pháp luật của Đảng là cơ sở chính trị cho việc xây dựng dự án Luật Biên phòng Việt Nam. Bên cạnh đó, trên cơ sở đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TW, Bộ Chính trị đã có những kết luận quan trọng về tổ chức BĐBP. Thông báo số 165-TB/TW ngày 22/12/2004 của Ban Chấp hành Trung ương về việc Kết luận của Bộ Chính trị về tổ chức BĐBP xác định: “Bảo đảm BĐBP thực hiện tốt ba chức năng quản lý nhà nước về an ninh, quốc phòng và đối ngoại ở khu vực biên giới; trong thời bình là quản lý biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác, thân thiện với các nước láng giềng; khi có chiến tranh hoặc xung đột biên giới, thực hiện tốt nhiệm vụ tác chiến phòng thủ được phân công trong thế trận phòng thủ chung trên địa bàn”; “BĐBP là một quân chủng thuộc Bộ Quốc phòng”.
Để cụ thể hóa các nghị quyết của Đảng về quốc phòng, an ninh thời gian qua, Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 28/9/2018 của Bộ Chính trị về Chiến lược bảo vệ BGQG tiếp tục khẳng định: “hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách, pháp luật về xây dựng, quản lý, bảo vệ BGQG phù hợp với thực tiễn, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, minh bạch, cập nhật luật pháp quốc tế; xác định rõ phạm vi, trách nhiệm, dễ thực hiện, có tính khả thi cao, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, các lực lượng vũ trang nhân dân trong xây dựng, quản lý và bảo vệ BGQG. Sớm ban hành Luật Biên phòng Việt Nam và các văn bản hướng dẫn thực hiện”.
Những quan điểm, mục tiêu, định hướng hoàn thiện pháp luật về quốc phòng, an ninh của Đảng là nền tảng cơ bản cho việc xác định phải nhanh chóng xây dựng Luật Biên phòng Việt Nam. Bên cạnh đó, Đảng ta còn có những quan điểm, mục tiêu, định hướng cụ thể cho việc xác lập phạm vi, nội dung điều chỉnh của Luật Biên phòng Việt Nam. Cụ thể như sau:
Một là, quan điểm về các nguyên tắc, phương châm, nhiệm vụ và giải pháp tăng cường quản lý, bảo vệ BGQG trong tình hình mới
Nghị quyết số 33-NQ/TW xác định hệ thống nguyên tắc, phương châm, nhiệm vụ và giải pháp tăng cường quản lý, bảo vệ BGQG trong tình hình mới. Với 5 nguyên tắc, 5 phương châm và 8 nhóm nhiệm vụ, giải pháp được xác định, trong đó có nhiều nội dung mới đã và đang đặt ra yêu cầu cấp bách cần phải thể chế hóa bằng pháp luật để tổ chức thực hiện. Dự thảo Luật Biên phòng Việt Nam với phạm vi điều chỉnh là chính sách, nguyên tắc, nhiệm vụ, lực lượng, phối hợp và hợp tác quốc tế về biên phòng; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân thực thi nhiệm vụ biên phòng[6] đang hướng đến điều chỉnh một bộ phận quan hệ xã hội thuộc lĩnh vực quốc phòng, an ninh, nền biên phòng toàn dân, thế trận biên phòng toàn dân, từ đó, góp phần tạo lập cơ chế pháp lý đồng bộ, hữu hiệu để xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân. Đồng thời, thể chế hóa và điều tiết một cách hài hòa mối quan hệ giữa phát triển kinh tế - xã hội với việc củng cố và xây dựng tiềm lực quốc phòng, an ninh ở khu vực biên giới (KVBG); xác lập quyền và nghĩa vụ của công dân, ghi nhận vai trò của nhân dân trong bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, giữ vững ổn định biên giới quốc gia, xây dựng KVBG vững mạnh về mọi mặt. Việc xây dựng và ban hành Luật Biên phòng Việt Nam sẽ cơ bản đáp ứng yêu cầu “Thể chế hóa kịp thời, đầy đủ, đúng đắn đường lối của Đảng”[7] - quan điểm chỉ đạo được đề lên hàng đầu trong xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung, pháp luật về quản lý, bảo vệ BGQG nói riêng.
Hai là, quan điểm, mục tiêu, định hướng cơ bản về xây dựng lực lượng, sức mạnh bảo vệ BGQG
Việc xây dựng lực lượng, sức mạnh bảo vệ BGQG là một bộ phận của công cuộc xây dựng lực lượng, sức mạnh bảo vệ Tổ quốc. Chính vì vậy, những quan điểm mới về xây dựng lực lượng, sức mạnh bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là cơ sở cho việc đề ra quan điểm về xây dựng lực lượng, sức mạnh bảo vệ BGQG.
Trong các văn kiện của Đảng, lực lượng bảo vệ Tổ quốc là lực lượng toàn diện và sức mạnh bảo vệ Tổ quốc là sức mạnh tổng hợp. Lực lượng toàn diện là lực lượng của toàn dân, của cả hệ thống chính trị, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là lực lượng nòng cốt, dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Sức mạnh bảo vệ Tổ quốc là sức mạnh tổng hợp, bao gồm: sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân, của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng; sức mạnh về chính trị, tư tưởng, kinh tế, xã hội, văn hóa, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; sức mạnh bên trong của đất nước, sức mạnh của chế độ chính trị, sự trong sạch của đội ngũ cán bộ và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; sức mạnh dân tộc, sức mạnh thời đại; sức mạnh của lực lượng và thế trận quốc phòng toàn dân; sức mạnh của lực lượng và thế trận an ninh nhân dân. Trong đó, nền tảng cốt lõi để tạo nên sức mạnh tổng hợp vẫn là chính trị - tinh thần; đại đoàn kết toàn dân là động lực chủ yếu tạo nên sức mạnh tổng hợp; Quân đội nhân dân và Công an nhân là lực lượng nòng cốt tạo nên sức mạnh tổng hợp. Để phát huy sức mạnh tổng hợp, cần kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh của lực lượng và thế trận quốc phòng toàn dân với sức mạnh của lực lượng và thế trận an ninh nhân dân; đồng thời, phải xây dựng “thế trận lòng dân” làm nền tảng vững chắc để phát huy sức mạnh toàn dân tộc và xây dựng nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân.
Trên cơ sở quan điểm chung về xây dựng lực lượng và sức mạnh bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, Nghị quyết số 33-NQ/TW xác định quan điểm, mục tiêu cho việc xây dựng lực lượng và sức mạnh bảo vệ BGQG. Theo đó, lực lượng bảo vệ BGQG phải được xây dựng theo hướng “rộng khắp, nhân dân là chủ thể, lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt, Bộ đội Biên phòng là một quân chủng thuộc Bộ Quốc phòng, lực lượng chuyên trách, cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số thành phần tiến thẳng hiện đại”. Trong đó, quan điểm về xây dựng lực lượng “BĐBP là một quân chủng thuộc Bộ Quốc phòng”[8] đã được Đảng ta xác định từ năm 2004. Sức mạnh bảo vệ BGQG là “sức mạnh toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại, dựa vào nội lực là chính”.
Để xây dựng lực lượng và sức mạnh bảo vệ BGQG, trước hết, phải “Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước; củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc”, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc, phải “dựa vào dân, lấy dân làm gốc, nhân dân là chủ thể”, “mỗi người dân là một cột mốc sống”, lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt. Đồng thời, cần tiếp tục xây dựng BĐBP với tư cách là lực lượng chuyên trách; lực lượng chiến đấu đầu tiên, bám trụ đến cùng để bảo vệ và giữ vững BGQG. Bên cạnh đó, cần xây dựng hệ thống chính trị các cấp ở KVBG vững mạnh, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; xây dựng nền tảng chính trị, tinh thần, “thế trận lòng dân” vững chắc ở KVBG; xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân làm nền tảng cho sự nghiệp củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh và quản lý, bảo vệ BGQG; xây dựng nền biên phòng toàn dân và thế trận biên phòng toàn dân vững mạnh, ổn định lâu dài trong nền quốc phòng toàn dân và thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc.
Những quan điểm về xây dựng lực lượng bảo vệ Tổ quốc và phát huy sức mạnh tổng hợp là quan điểm cơ bản, nhất quán, xuyên suốt trong các văn kiện của Đảng, là cơ sở chính trị cho việc hoàn thiện pháp luật về quốc phòng, an ninh và khi được khẳng định trong Nghị quyết số 33-NQ/TW thì đó là cơ sở chính trị trực tiếp cho việc xây dựng Luật Biên phòng Việt Nam. Ngược lại, Luật Biên phòng Việt Nam có trách nhiệm thể chế hóa những quan điểm, mục tiêu, nguyên tắc, phương châm, nhiệm vụ và giải pháp mới trong quản lý, bảo vệ BGQG mà Bộ Chính trị đã đề ra.
Theo Dự thảo 5.1 Luật Biên phòng Việt Nam, những quan điểm, mục tiêu, định hướng của Đảng về bảo vệ BGQG và hoàn thiện pháp luật về quốc phòng, an ninh nói chung, pháp luật về BGQG nói riêng đã cơ bản được thể chế hóa tại nhiều điều luật, thể hiện sự phù hợp về nội dung Dự thảo với đường lối, chính sách của Đảng. Chính vì vậy, khi Dự án Luật Biên phòng Việt Nam được Ủy ban Quốc phòng và an ninh trình Quốc hội thảo luận, cho ý kiến, các đại biểu đều cho rằng việc ban hành Luật Biên phòng Việt Nam là cần thiết. Tuy nhiên, để Dự án Luật nhận được nhiều ý kiến đồng thuận hơn, thể chế hóa đầy đủ, chính xác hơn quan điểm, mục tiêu, định hướng của Đảng về bảo vệ BGQG; về công tác biên phòng, xây dựng và phát huy sức mạnh bảo vệ BGQG; về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của lực lượng BĐBP trong tình hình mới, cần có sự chuyển hóa một cách hợp lý, có chất lượng nội dung quan điểm, mục tiêu, định hướng của Đảng thành các quy định pháp luật với văn phong và kỹ thuật pháp lý phù hợp, đặc biệt, phải bảo đảm phù hợp với Hiến pháp năm 2013 và các văn bản pháp luật hiện hành có liên quan.
T.M.N
Tài liệu tham khảo:
(1), (2) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.8, tr.151.
(3), (4) Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Bộ Tư lệnh BĐBP, Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác biên phòng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.46, 47.
(5) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr.151.
(6) Dự thảo 5.1 Luật Biên phòng Việt Nam.
(7) Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020.
(8) Thông báo số 165-TB/TW ngày 22/12/2004 của Ban Chấp hành Trung ương về Kết luận của Bộ Chính trị về tổ chức BĐBP.
[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.8.
[2] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.151.
[3] Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Bộ Tư lệnh BĐBP, Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác biên phòng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.46, 47.
[4] Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Bộ Tư lệnh BĐBP, Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác biên phòng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.46, 47.
[5] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr.151.
[6] Dự thảo 5.1 Luật Biên phòng Việt Nam.
[7] Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020.
[8] Thông báo số 165-TB/TW ngày 22/12/2004 của Ban Chấp hành Trung ương về Kết luận của Bộ Chính trị về tổ chức BĐBP.