(069). 518.055

Quy định số 77-QĐ/TW, ngày 25 tháng 7 năm 1986 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tổ chức đảng trong Bộ đội Biên phòng

Ngày 03/08/2021245

Căn cứ vào Nghị quyết số 27-NQ-TW ngày 4/7/1985 của Bộ Chính trị, trong đó quy định "Tổ chức đảng ở các đơn vị Bộ đội Biên phòng thành lập theo đúng các quy định về tổ chức đảng trong Quân đội nhân dân Việt Nam hoạt động dưới sự lãnh đạo của cấp uỷ địa phương, đồng thời chịu sự chỉ đạo của Đảng uỷ Quân sự, sự hướng dẫn của cơ quan chính trị cấp trên" Để phù hợp với nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của Bộ đội Biên phòng, Ban Bí thư quy định hệ thống tổ chức đảng trong Bộ đội Biên phòng như sau:

I. Hệ thống tổ chức đảng ở Bộ đội Biên phòng: Ở mỗi cấp Tư lệnh Bộ đội Biên phòng, tỉnh, thành phố, đặc khu, tiểu khu, đồn biên phòng và đơn vị tương đương có Ban chấp hành đảng bộ do bầu cử dân chủ (trong trường hợp đặc biệt thì do cấp trên chỉ định). Các Ban chấp hành đó có nhiệm vụ lãnh đạo mọi mặt đối với các đơn vị trực thuộc, theo phạm vi chức năng và nội dung quy định cho từng cấp.

1. Ở trung ương, Đảng uỷ Bộ đội Biên phòng đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng uỷ Quân sự Trung ương, Đảng uỷ có nhiệm vụ:

- Nghiên cứu đề đạt với Đảng uỷ Quân sự Trung ương về nhiệm vụ, chủ trương, công tác tổ chức quản lý, bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới, vùng ven biển của Tổ quốc và tổ chức xây dựng Bộ đội Biên phòng.

- Lãnh đạo mọi mặt đối với cơ quan và đơn vị trực thuộc Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng, xây dựng đảng bộ trong sạch vững mạnh về mọi mặt, có sức chiến đấu cao; chỉ đạo xây dựng Bộ đội Biên phòng các tỉnh, thành, đặc khu phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của Bộ đội Biên phòng.

2. Ở các tỉnh, thành phố, đặc khu

Các tổ chức đảng trong các đơn vị Bộ đội Biên phòng tỉnh, thành phố, đặc khu, tổ chức thành Đảng bộ đặt dưới sự lãnh đạo về mọi mặt của Tỉnh uỷ, Thành uỷ, Đặc khu uỷ, đồng thời chịu sự chỉ đạo của Đảng uỷ Bộ đội Biên phòng về việc thực hiện nhiệm vụ chính trị và xây dựng đơn vị, sự hướng dẫn của Cục Chính trị Bộ đội Biên phòng về công tác chính trị và về kinh nghiệm xây dựng đảng trong Bộ đội Biên phòng.

a) Đảng uỷ Bộ đội Biên phòng tỉnh, thành phố, đặc khu là cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng, có nhiệm vụ:

- Nghiên cứu đề đạt với cấp uỷ địa phương các vấn đề lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ quản lý, bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới, vùng ven biển của Tổ quốc sát với đặc điểm tình hình của địa phương, khi cấp uỷ đã có nghị quyết, chỉ thị thì kết hợp chặt chẽ với cơ quan tổ chức, tuyên huấn, kiểm tra của Đảng theo dõi thực hiện.

- Lãnh đạo mọi mặt đối với các đơn vị thuộc quyền thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ và xây dựng đảng bộ trong sạch vững mạnh, có sức chiến đấu cao.

b) Tổ chức cơ sở đảng được thành lập ở các đồn biên phòng, tiểu khu biên phòng (nếu có), tiểu đoàn, đại đội cơ động và các cơ quan thuộc Bộ đội Biên phòng tỉnh, thành phố, đặc khu và tương đương đặt dưới sự lãnh đạo về mọi mặt của Đảng uỷ Bộ đội Biên phòng tỉnh, thành phố, đặc khu. Đồng thời, chịu sự chỉ đạo của huyện uỷ, quận uỷ, thị uỷ nơi đóng quân về các vấn đề có liên quan đến tình hình chính trị, trật tự an ninh và quan hệ với quần chúng ở địa phương.

3. Về tổ chức cơ quan chính trị và cán bộ chính trị

Cấp Tư lệnh Bộ đội Biên phòng có Cục Chính trị Bộ đội Biên phòng; cấp tỉnh, thành phố, đặc khu có Phòng Chính trị Bộ đội Biên phòng; cơ quan chính trị các cấp tiến hành công tác đảng, công tác chính trị dưới sự lãnh đạo của đảng uỷ cấp mình và sự chỉ đạo của cơ quan chính trị cấp trên; về mặt công tác chính trị chịu sự chỉ đạo trực tiếp của người chỉ huy cấp mình. Cục Chính trị Bộ đội Biên phòng có nhiệm vụ chỉ đạo công tác chính trị đối với lực lượng Bộ đội Biên phòng toàn quân, chỉ đạo công tác đảng đối với các tổ chức đảng trực thuộc Đảng uỷ Bộ đội Biên phòng và phối hợp chặt chẽ với Ban Tổ chức, Ban Tuyên huấn, Uỷ ban kiểm tra đảng của các tỉnh, thành phố, đặc khu uỷ trong việc hướng dẫn công tác xây dựng đảng cho các Đảng bộ Bộ đội Biên phòng, giúp cho công tác này phù hợp với chức năng, nhiệm vụ giao cho Bộ đội Biên phòng.

Ở mỗi cấp, Tư lệnh Bộ đội Biên phòng, tỉnh, thành phố, đặc khu và người chỉ huy tiểu khu, đồn biên phòng, đại đội, tiểu đoàn và đơn vị tương đương có Phó tư lệnh hoặc Phó chỉ huy về chính trị.

II. Quan hệ giữa cấp uỷ đảng trong Bộ đội Biên phòng với cấp uỷ đảng địa phương:

1. Quan hệ giữa Đảng uỷ Bộ đội Biên phòng Trung ương với tỉnh uỷ, thành uỷ, đặc khu uỷ là quan hệ phối hợp công tác để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới, vùng ven biển ở địa phương, xây dựng Bộ đội Biên phòng vững mạnh.

Đảng bộ Bộ đội Biên phòng tỉnh, thành phố, đặc khu do tỉnh uỷ, thành uỷ, đặc khu uỷ lãnh đạo về mọi mặt, đảng số thuộc đảng bộ địa phương.

Quân số, cán bộ, trang bị kỹ thuật của đơn vị Bộ đội Biên phòng do Tư lệnh Bộ đội Biên phòng quản lý, khi điều động, bổ nhiệm, thi hành kỷ luật cán bộ do cấp trên quản lý thì Đảng uỷ Bộ Tư lệnh biên phòng và tỉnh uỷ, thành uỷ, đặc khu uỷ cùng bàn bạc nhất trí, nếu còn ý kiến khác nhau thì báo cáo lên cấp trên. Trường hợp khẩn cấp trong chiến đấu thì thực hiện theo quyết định của cấp có thẩm quyền trong quân đội. Việc thi hành kỷ luật về tư cách đảng viên (nếu các cán bộ đó là đảng viên thuộc Đảng bộ Bộ đội Biên phòng tỉnh, thành phố, đặc khu) do tổ chức đảng có thẩm quyền của Đảng bộ đó và cấp uỷ địa phương tỉnh, thành phố, đặc khu quyết định theo đúng quy định của Điều lệ Đảng và của Ban Bí thư Trung ương. Nếu thi hành kỷ luật đối với các đảng viên đó bằng hình thức lưu đảng, khai trừ ra khỏi đảng thì trước khi ra quyết định chính thức cần trao đổi ý kiến với Đảng uỷ Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng. Nếu không có sự nhất trí thì báo cáo lên Ban Bí thư qua Uỷ ban kiểm tra trung ương để xem xét và cho ý kiến giải quyết.

Tỉnh uỷ, thành uỷ, đặc khu uỷ có trách nhiệm lãnh đạo Bộ đội Biên phòng tỉnh, thành phố, đặc khu chấp hành chỉ thị, mệnh lệnh của Tư lệnh Bộ đội Biên phòng về nhiệm vụ công tác biên phòng và xây dựng Bộ đội Biên phòng.

Các vụ việc xảy ra ở biên giới, vùng biển thuộc phạm vi quyền hạn của tỉnh, huyện, thì người chỉ huy Bộ đội Biên phòng phải báo cáo xin ý kiến và giải quyết theo chủ trương của cấp uỷ đảng và chính quyền địa phương. Những vấn đề có quan hệ đến chủ quyền, an ninh quốc gia, đến chủ trương, chính sách đối nội, đối ngoại của Đảng và Nhà nước, phải báo cáo với Tư lệnh Bộ đội Biên phòng để xin chủ trương và giải quyết theo chủ trương của Bộ Quốc phòng hoặc của Ban Bí thư Trung ương Đảng và Hội đồng Bộ trưởng.

2. Quan hệ giữa Đảng uỷ Bộ đội Biên phòng tỉnh, thành phố, đặc khu với các huyện uỷ, quận uỷ, thị uỷ có đồn biên phòng ở địa phương là quan hệ phối hợp công tác để thực hiện các chỉ thị, mệnh lệnh của Tư lệnh Bộ đội Biên phòng và nghị quyết của tỉnh uỷ, thành uỷ, đặc khu uỷ về công tác biên phòng trên địa bàn huyện, quận, thị xã.

Đảng uỷ, Chỉ huy trưởng cơ quan chính trị Bộ đội Biên phòng tỉnh, thành phố, đặc khu và các huyện uỷ, quận uỷ, thị uỷ nơi có các đồn và đơn vị biên phòng hoạt động phải thường xuyên quan hệ chặt chẽ với nhau để giải quyết những vấn đề có liên quan đến công tác biên phòng và những hoạt động của Bộ đội Biên phòng ở địa phương.

Đảng uỷ Quân sự Trung ương, các tỉnh uỷ, thành uỷ, đặc khu uỷ có trách nhiệm thi hành quyết định này. Trước mắt, các tỉnh, thành, đặc khu uỷ lãnh đạo chặt chẽ việc chuyển Đảng Bộ đội Biên phòng về trực thuộc tỉnh, thành, đặc khu uỷ, thực hiện quyết định chấn chỉnh tổ chức chỉ huy, củng cố xây dựng Bộ đội Biên phòng của Bộ Quốc phòng theo tinh thần Nghị quyết số 21 và 24 của Bộ Chính trị.

Tin tức khác

Zalo phone Hotline