Ngày 06/08/2021298
hủ tịch Hồ Chí Minh là người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam, người khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà (nay là nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam), người cha của các lực lượng vũ trang nhân dân và là người sáng lập Mặt trận Dân tộc thống nhất.
Người đã để lại dấu ấn sâu đậm trong lãnh đạo, chỉ đạo công tác của các lực lượng cách mạng. Riêng đối với lực lượng vũ trang, Hồ Chí Minh đã dành nhiều tình cảm và sự quan tâm đặc biệt. Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn cách mạng trong từng thời kì, Người đã chú ý thành lập các quân, binh chủng, các lực lượng chuyên trách, đảm nhiệm các công tác đặc thù, theo hướng chuyên môn hoá và chuyên nghiệp hoá. Đây là một cách làm phù hợp với xu hướng phân công lao động trong xã hội theo chiều sâu. Sự ra đời của lực lượng cảnh vệ nội địa và biên cương (sau đổi là lực lượng công an nhân dân vũ trang và nay là bộ đội biên phòng) nằm trong sự chỉ đạo chung và thống nhất đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Từ khi ra đời, lực lượng bộ đội biên phòng đã được Hồ Chí Minh quan tâm, lãnh đạo, chú ý xây dựng thành một đội quân mạnh mẽ về mọi mặt, trong đó có ván đề tổ chức, phương thức lãnh đạo. Chính Hồ Chí Minh đã đặt nền tảng lí luận và thực tiễn cơ bản cho việc tổ chức đảng, xây dựng và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Bộ đội biên phòng Việt Nam.
1. Quan điểm của Hồ Chí Minh về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Bộ đội biên phòng
Trên bình diện nhận thức và tư duy lí luận, vào những năm 20 của thế XX, nghiên cứu và rút kinh nghiệm bài học từ sự thất bại của các phong trào yêu nước Việt Nam, cũng như phong trào đấu tranh của các dân tộc, của giai cấp vô sản các nước trên thế giới, đặc biệt là kinh nghiệm của Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga, Hồ Chí Minh đi đến kết luận: cách mạng là sự nghiệp to lớn của của dân, cả nước, cả dân tộc chứ không phải của riêng một, hai người. Cách mạng xã hội phải có tổ chức, phải tập trung sức, lực lượng mới giành được thắng lợi. Từ nhận thức đó, Hồ Chí Minh đã đặt ra một vấn đề trọng đại, có tính đột phá về tư duy lí luận: “Cách mệnh trước hết phải có cái gì?” và Người tự giải đáp một cách thuyết phục: “Trước hết phải có Đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi”. Người nhấn mạnh: “Đảng có vững cách mạng mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy. Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong Đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam”. Chỉ rõ tầm quan trọng của nền tảng tư tưởng lí luận đối với một đảng cách mạng chân chính, Hồ Chí Minh khẳng định một cách có tính nguyên tắc trên cơ sở nhận diện rất rõ tính vượt trội của hệ tư tưởng mà mình đã lựa chọn: “Bây giờ học thuyết nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin(1).
Bằng một đoạn nghị luận khúc triết, có tính tổng kết, khái quát cao, Hồ Chí Minh đã đề cập đến những vấn đề cốt lõi, trọng yếu nhất về xây dựng, tổ chức và củng cố một đảng vô sản kiểu mới trong điều kiện một nước thuộc địa nửa phong kiến, nông nghiệp lạc hậu tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến dần lên chủ nghĩa xã hội như Việt Nam. Trên thực tế, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và hoạt động theo đúng những nguyên lý cơ bản này, giữ vững bản chất giai cấp công nhân, là người đại diện chân chính cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của toàn dân tộc, trở thành nhân tố và điều kiện quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Sau khi lãnh đạo quần chúng nhân dân đấu tranh giành thắng lợi trong cuộc Cách mạng tháng Tám, đánh đổ ách đế quốc, thực dân, phong kiến, lập nên Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á, Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành Đảng cầm quyền. Suốt 24 năm là người đứng đầu nhà nước, Hồ Chí Minh đã giải quyết đúng đắn, linh hoạt, đầy sáng tạo vấn đề đảng cầm quyền. Theo quan niệm nhất quán của Hồ Chí Minh, đảng cầm quyền nghĩa là đảng tiếp tục lãnh đạo sự nghiệp cách mạng trong điều kiện đảng đã lãnh đạo quần chúng nhân dân giành được quyền lực nhà nước và đảng trực tiếp lãnh đạo bộ máy nhà nước đó để tiếp tục hoàn thành sự nghiệp độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Khi chưa có chính quyền, nhiệm vụ chính của cuộc đấu tranh dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng là lật đổ chính quyền thống trị, đập tan bộ máy nhà nước của bè lũ thực dân, phong kiến, thiết lập chính quyền nhân dân. Phương thức lãnh đạo, công tác của mỗi đảng viên, cấp uỷ là giáo dục, thuyết phục vận động, tổ chức quần chúng, đưa quần chúng vào đấu tranh giành chính quyền.
Sau khi giành được chính quyền, nhiệm vụ mới của cách mạng là đấu tranh bảo vệ và xây dựng chế độ mới. Đảng lãnh đạo sự nghiệp xây dựng, củng cố chính quyền của nhân dân và sử dụng chính quyền nhà nước như một công cụ quyền lực, một phương tiện có hiệu lực để quản lí xã hội, tổ chức huy động mọi tiềm lực, mọi lực lượng của toàn xã hội nhằm thực hiện toàn diện những nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng do sự nghiệp cách mạng đặt ra cho từng thời kì. Cùng với phương thức vận động quần chúng làm cách mạng vốn là phương thức lãnh đạo, công tác cơ bản của Đảng, Đảng có thêm phương thức lãnh đạo, quản lí xã hội, tổ chức, huy động lực lượng quần chúng bằng biện pháp hành chính, pháp lí, thông qua bộ máy nhà nước.
Như vậy, khi trở thành Đảng cầm quyền, Đảng có thêm công cụ quyền lực để lãnh đạo sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế, xã hội, văn hoá, an ninh quốc phòng. Do những điều kiện đặc thù qui định, bên cạnh phát huy sức mạnh của toàn dân, công tác an ninh, quốc phòng cần có một lực lượng chuyên trách riêng, trong đó có lực lượng bảo vệ sự toàn vẹn, thống nhất lãnh thổ và an ninh biên giới quốc gia. Ngay trong Nghị quyết đầu tiên của Bộ Chính trị (số 58-NQ/TW, ngày 19 - 11 - 1958), do Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp chỉ đạo soạn thảo về việc xây dựng lực lượng cảnh vệ nội địa và biên cương (sau đổi thành lực lượng công an nhân dân vũ trang, ngày nay gọi là bộ đội biên phòng) đã xác định rất rõ nhiệm vụ của những công tác này là “trấn áp mọi hành động phá hoại của bọn phản cách mạng trong nước và bọn phản cách mạng ngoài nước xâm nhập phá hoại nước ta, luôn luôn sẵn sàng chiến đấu để bảo vệ an ninh biên giới, bờ bể, giới tuyến và nội địa, bảo vệ an toàn cho các cơ sở kinh tế, văn hoá quan trọng”(1).
Do tổ chức đặc thù, chức năng và nhiệm vụ rất riêng, lực lượng biên phòng phải có một hình thức tổ chức và phương thức lãnh đạo tương ứng của Đảng, làm công cụ cho Đảng thực hiện đường lối, chiến lược bảo đảm an ninh biên giới quốc gia, là “cánh tay đắc lực của nhân dân, của Đảng, của Chính phủ, của vô sản chuyên chính”. Vì vậy theo Hồ Chí Minh, Đảng lãnh đạo lực lượng biên phòng là vấn đề có tính nguyên tắc. Tinh thần chỉ đạo này được quán triệt trong Nghị quyết 58/NQ-TW: “Lực lượng cảnh vệ nội địa và biên phòng là một lực lượng vũ trang của Đảng và Nhà nước, phải đặt nó dưới sự chỉ đạo chặt chẽ của cấp uỷ đảng. Để cho công việc được thuận lợi, các cấp uỷ sẽ uỷ nhiệm cho đồng chí cấp uỷ viên phụ trách công an trực tiếp phụ trách lực lượng cảnh vệ này”, và Đảng đoàn Bộ Công an, các cấp uỷ đảng khu, thành, tỉnh, huyện, châu có trách nhiệm căn cứ vào đường lối, phương châm, chính sách, kế hoạch của Trung ương mà chỉ đạo việc xây dựng trật tự trị an chung”(2) .
Khẳng định nguyên tắc lãnh đạo của Đảng đối với công tác biên phòng, tại buổi lễ thành lập công an nhân dân vũ trang, Hồ Chí Minh chỉ rõ cụ thể hơn, giải đáp những băn khoăn, nghi ngại trong một bộ phận cán bộ đảng viên. Người nói: “Có người lo ngại đảng bộ địa phương không lãnh đạo được, bởi vì quân sự có chuyên môn, kỹ thuật quân sự, công an có chuyên môn, kỹ thuật công an, còn các đảng bộ địa phương phần nhiều là những đồng chí làm công tác chính trị, không quen công tác chuyên môn, không lãnh đạo được. Nghĩ như thế là không đúng. Không phải chỉ có cán bộ chuyên môn mới lãnh đạo được chuyên môn. Đảng có lãnh đạo chính trị đúng, thì chuyên môn mới đúng. Công an nhân dân vũ trang, hay là quân đội cũng thế, phải phục tùng sự lãnh đạo của Đảng từ trên xuống dưới. Nhất định phải như thế”(3).
Vai trò lãnh đạo của Đảng được xác định rõ cho các cấp trong hệ thống tổ chức của lực lượng biên phòng.
- Đảng uỷ bộ đội biên phòng các cấp là cơ quan lãnh đạo của Đảng có nhiệm vụ lãnh đạo trực tiếp, toàn diện và thống nhất về mọi mặt công tác trong toàn đơn vị thuộc phạm vi của Đảng uỷ phụ trách.
- Tổ chức bộ đội biên phòng hoạt động ở khu, thành, tỉnh nào phải đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của cấp uỷ đảng khu, thành, tỉnh đó.
- Bộ Tư lệnh Bộ đội biên phòng đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Đảng uỷ quân sự Trung ương.
Hồ Chí Minh chỉ rõ: sự lãnh đạo của Đảng và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với bộ đội biên phòng là một nguyên tắc nhất quán; nguyên tắc này được Đảng Cộng sản Việt Nam quán triệt trong tổ chức, hoạt động của lực lượng biên phòng qua tất cả các thời kỳ cách mạng và ngay cả điều kiện hiện nay. Và thực tiễn đã chứng minh rằng: Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tốt quyết định mọi thắng lợi của Bộ đội biên phòng, bảo đảm cho nó ra đời, trưởng thành và lớn mạnh như hiện nay.
2. Trên bình diện xã hội, Hồ Chí Minh xác định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trên các mặt cơ bản sau:
Một là, Đảng lãnh đạo xã hội bằng cương lĩnh, đường lối chiến lược, chủ trương, chính sách để đưa đất nước phát triển đúng con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Ở trách nhiệm này, Đảng Cộng sản Việt Nam được vũ trang bằng lí luận tiên phong, nhận sự uỷ quyền từ giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Đây là trách nhiệm lãnh đạo số một của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Hai là, Đảng lãnh đạo nhân dân thực hiện cương lĩnh, đường lối do Đảng vạch ra thông qua hệ thống tổ chức đảng, cán bộ đảng viên.
Ba là, Đảng Cộng sản Việt Nam còn có trách nhiệm lãnh đạo thông qua công tác kiểm tra, kể cả kiểm tra trong nội bộ bản thân mình và lãnh đạo công tác kiểm tra trong các tổ chức của hệ thống chính trị.
Bốn là, Đảng lãnh đạo toàn diện công tác cán bộ, từ tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cho đến chính sách đối với cán bộ tham gia vào hệ thống chính trị của đất nước.
Áp dụng vào lãnh đạo lực lượng bộ đội biên phòng, Hồ Chí Minh có những chỉ dẫn thiết thực, cụ thể. Về nguyên tắc, Người xác định: Đảng lãnh đạo một cách thống nhất, toàn diện các mặt hoạt động của bộ đội biên phòng, đảm bảo được sự thống nhất, chặt chẽ giữa lãnh đạo chính trị, tư tưởng và chuyên môn, từ trên xuống dưới, giữa quan điểm và tổ chức thực hiện, giữa sức mạnh tổng hợp của quần chúng nhân dân và lực lượng chuyên trách. ở đây có hai điểm đáng lưu ý:
- Đảng lãnh đạo bộ đội biên phòng cả về chính trị và chuyên môn, nghĩa là lãnh đạo bằng đười lối, chủ trương, chính sách và lãnh đạo cả công tác kỹ thuật, nghiệp vụ, trong đó lãnh đạo chính trị - tư tưởng là nhiệm vụ hàng đầu, có đường lối đúng, chiến lược khoa học thì mới xác định rõ các giải pháp nghiệp vụ để thực hiện đường lối. Vì thế, theo Hồ Chí Minh “chính trị là linh hồn, chuyên môn là cái xác”, không được tách biệt máy móc đến mức biệt phái giữa hai mặt đó trong công tác an ninh biên giới quốc gia. Đặc điểm này đặt ra những yêu cầu và đòi hỏi rất cao đối với người làm công tác lãnh đạo đảng trong biên giới và đảng uỷ các cấp. Bên cạnh nắm vững quan điểm, đường lối, chính sách, cán bộ lãnh đạo của đảng cần nghiên cứu công tác chuyên môn, hiểu biết chuyên môn thì “giải quyết vấn đề mới được thiết thực”, có hiệu quả cao.
- Kết hợp chính trị và chuyên môn cả ở giai đoạn thực hiện đường lối, theo dõi, giám sát, kiểm tra việc hiện thực hoá các quan điểm, nghị quyết của Đảng. Cán bộ đảng và cán bộ chỉ huy chuyên trách phải đoàn kết, nội bộ nhất trí cùng nhau hoàn thành nhiệm vụ, tránh quan niệm sai trái cho rằng Đảng chỉ lãnh đạo chính trị, tư tưởng, còn thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn là chức trách riêng của chỉ huy, chính quyền.
Trong quan niệm của Hồ Chí Minh, Đảng lãnh đạo toàn diện, thống nhất bộ đội biên phòng, bao quát các mặt: đường lối, tổ chức bộ máy, công tác cán bộ. Mức độ và sự thể hiện các mặt đó phải được cụ thể hoá cho các cấp, từ trung ương đến cơ sở, bảo đảm sự chỉ đạo có hiệu quả tốt nhất và kịp thời, nhất là tại những thời điểm cần có những quyết định nhanh, đòi hỏi sự chính xác cao độ.
3. Các điều kiện bảo đảm cho công tác biên phòng
Thực tiễn những năm qua vừa cho thấy nhiệm vụ của công tác biên phòng rất phức tạp, không chỉ thuần tuý vận động chính trị mà còn có chiến đấu, vũ trang gắn với xây dựng phát triển kinh tế, xã hội, văn hoá vùng biên và thực hiện các chức năng đối ngoại. Tính phức tạp và đa diện của chức năng, nhiệm vụ đặt ra những yêu cầu rất cao cho chủ thể hoạt động, trước hết là chủ thể lãnh đạo ở tầm vĩ mô. Theo phương pháp luận và phương thức chỉ đạo thực tiễn Hồ Chí Minh, để giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với bộ đội biên phòng, công tác biên phòng cần đến một hệ các điều kiện đảm bảo, trong đó đáng chú ý nhất là ba nhóm điều kiện chủ chốt.
Một là, Đảng phải biết tìm ra và tuân theo một qui trình nghiêm ngặt để định ra đường lối, quyết sách chiến lược biên phòng đúng đắn, khoa học, phản ánh đúng thực chất các điều kiện trong nước và quốc tế.
Hai là, phải xác định được một phương thức lãnh đạo đúng, thống nhất, kết hợp được sự tập trung cao độ với tính chủ động, tích cực sáng tạo của cơ sở, giữa địa phương và Trung ương trong việc giải quyết nhiệm vụ biên phòng. Theo Hồ Chí Minh, phương thức lãnh đạo đúng là:
- Biết giải quyết đúng đắn, kịp thời mọi vấn đề mà thực tiễn công tác biên phòng đặt ra. Các vấn đề này rất nhiều và khác nhau trong từng thời điểm lịch sử khác nhau; tổng kết thực tiễn để tìm ra những vấn đề chung xuyên suốt là nhu cầu thường trực.
- Có hình thức tổ chức thích hợp để thu hút đông đảo quần chúng nhân dân nhằm biến các quyết sách chính trị biên phòng của Đảng thành hiện thực, ở đây có sự gắn kết giữa hoạt động chuyên môn với công tác vận động quần chúng, xây dựng cơ sở biên phòng vững mạnh từ trận tuyến nhân dân.
- Phối hợp với quần chúng để tổ chức kiểm soát việc thực hiện các quyết sách biên phòng trong thực tế; phương châm tốt nhất là “dùng lực lượng dân chúng để kiểm soát dân chúng” thông qua hiệu quả công việc hàng ngày.
Ba là, xây dựng được một cơ cấu tổ chức đảng ổn định, hợp lí, có thể giải quyết và thông qua các quyết định nhanh chóng, hạn chế các mắt khâu tổ chức trung gian gắn với xây dựng đội ngũ cán bộ có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, vững vàng, giác ngộ lí tưởng cách mạng, “giàu sang không thể quyến rũ; nghèo khó không thể chuyển lay, uy vũ không thể khuất phục” và năng lực chuyên môn vững vàng theo hướng chuyên môn hoá và chuyên nghiệp hoá. Hồ Chí Minh cho rằng đây là điều kiện có tính then chốt.
Tổ chức đảng trong bộ đội biên phòng theo 2 hoặc 3 cấp là do tình hình thực tế, do dội ngũ hiện có qui định. Thực tiễn cho thấy, tổ chức theo 3 cấp như qui định của Nghị quyết 58/TW (1958) và Chỉ thị 16/TW (1961) là hợp lí nhất. Điều này càng chứng tỏ tính bền vững và sức sống của tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng và phát triển công tác biên phòng nói chung.
Gắn với công tác xây dựng và củng cố tổ chức, Hồ Chí Minh đặc biệt lưu ý đến vấn đề cán bộ và phát triển đảng trong bộ đội biên phòng. Đối với cán bộ, ngoài các phẩm chất đã nêu, Người yêu cầu “phải cố gắng học tập chính trị, học tập nghiệp vụ, học tập văn hoá và thời sự”(1).
Đối với vấn đề phát triển đảng, Hồ Chí Minh có những chỉ dẫn thiết thực. Người nói: “Bác rất bằng lòng nghe nói trong các đơn vị có 29% là đảng viên, 60% là đoàn viên. Thế là cả đảng và đoàn là gần 90%. Trong bộ đội như thế là một lực lượng rất mạnh. Đó là cái hạt nhân, là cái căn bản rất mạnh…. Các đảng viên, đoàn viên phải gương mẫu thì công tác phát triển đảng, đoàn sẽ tiến bộ rất nhiều” và Người kết luận: “Tăng cường công tác đảng, công tác đoàn thì công tác nghiệp vụ và các công tác khác sẽ tăng tiến hết”(2).
(BBT)