(069). 518.055

Quân đội thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế

Ngày 15/08/2021134

Bảo vệ môi trường (BVMT) là một trong những nhiệm vụ sống còn của nhân loại; là nhân tố đảm bảo sức khoẻ và chất lượng cuộc sống của nhân dân; góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế - xã hội, ổn định chính trị, an ninh quốc gia; là quyền lợi và nghĩa vụ của mọi tổ chức, mọi gia đình và của mỗi người. Đối với quân đội, đây vừa là nhiệm vụ thường xuyên, vừa là vấn đề có tính chất cơ bản, lâu dài vì môi trường gắn liền với các hoạt động quân sự và đời sống của bộ đội. Trong những năm qua, các cơ quan, đơn vị trong toàn quân đã tích cực triển khai thực hiện các nhiệm vụ BVMT và đã thu được những kết quả đáng khích lệ.

Trước hết, đó là việc xây dựng các chiến lược, chính sách và pháp luật về BVMT. Thời gian qua, Cục Khoa học Quân sự (Bộ Quốc phòng) đã chủ trì xây dựng và trình Thủ trưởng Bộ Quốc phòng ban hành nhiều văn bản nhằm cụ thể hóa những quy định pháp luật BVMT của Nhà nước để thực hiện nhiệm vụ BVMT trong quân đội, như: Chiến lược BVMT của Bộ Quốc phòng đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 cụ thể hoá các quan điểm, mục tiêu và các nội dung cơ bản trong Chiến lược BVMT quốc gia, xác định hiện trạng và thách thức về môi trường đối với quân đội và các giải pháp thực hiện Chiến lược; Điều lệ công tác BVMT và ứng phó với biến đổi khí hậu (BĐKH) của QĐND Việt Nam năm 2015 nhằm khắc phục một số hạn chế và thay thế Điều lệ năm 2011, quy định về nguyên tắc, nội dung, biện pháp, nguồn lực BVMT, ứng phó với BĐKH trong quân đội, trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị quân đội trong việc thực hiện công tác BVMT và ứng phó với BĐKH.

Để thực hiện tốt nhiệm vụ BVMT, công tác tuyên truyền luôn được quan tâm đúng mức. Các hoạt động tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức về BVMT đối với cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên chức quốc phòng được tiến hành thường xuyên, với nhiều hình thức đa dạng như hội thi tìm hiểu về môi trường, thi viết về môi trường, viết báo, thi ảnh, phim tài liệu, phóng sự về môi trường... Thông qua đó, nhận thức của quân nhân được nâng lên và chuyển biến thành ý thức trách nhiệm BVMT.

Theo quy định của Luật BVMT, Bộ Quốc phòng giao cho Cục Khoa học Quân sự và các đơn vị được phân cấp chủ trì tổ chức thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường của các dự án đầu tư, các cơ sở đang hoạt động trong các lĩnh vực đầu tư sản xuất, sửa chữa, vũ khí, xây dựng công trình chiến đấu, trung tâm huấn luyện quân sự… Quá trình thẩm định, cơ quan quản lý đã yêu cầu chủ đầu tư điều chỉnh, bổ sung các hạng mục công trình BVMT và các giải pháp xử lý chất thải, ứng phó sự cố môi trường theo quy định của Luật BVMT và Điều lệ công tác BVMT Quân đội nhân dân Việt Nam. Bộ Quốc phòng cũng đã làm tốt công tác quản lý, vận hành 3 trạm quan trắc môi trường thuộc hệ thống quan trắc môi trường quốc gia, thường xuyên tổng hợp báo cáo các kết quả quan trắc môi trường cho cơ quan chức năng của Nhà nước theo quy định.

Công tác xử lý cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng và khu vực bị tồn lưu chất độc da cam/đi-ô-xin, chất độc CS đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Đến nay, đã có 15/19 cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng đã hoàn thành việc xử lý triệt để đáp ứng quy định về BVMT; 4/19 cơ sở đang xây dựng, thực hiện dự án xử lý chất thải và thực hiện các biện pháp BVMT theo quy định.

Cơ quan chức năng của Bộ Quốc phòng phối hợp với Cơ quan phát triển quốc tế Hoa Kỳ (USAID) đã hoàn thành giai đoạn 1 của dự án xử lý triệt để đất nhiễm chất độc đi-ô-xin ở khu vực sân bay Đà Nẵng, với hơn 44.000 mét khối đất nhiễm đã được xử lý, giai đoạn 2 đang tiếp tục thực hiện, dự kiến đến năm 2018 sẽ hoàn thành. Khu vực nhiễm chất độc da cam/đi-ô-xin ở sân bay Biên Hòa đã và đang được Bộ Tư lệnh Hóa học thực hiện việc chôn lấp, cô lập một phần nhằm kiểm soát, hạn chế phát tán ra khu vực xung quanh. Cơ quan chức năng của Bộ Quốc phòng cũng đang phối hợp với USAID thực hiện việc đánh giá môi trường nhằm xác định mức độ, quy mô ô nhiễm, lựa chọn giải pháp công nghệ để sớm xử lý triệt để đất nhiễm chất độc đi-ô-xin ở khu vực này. Bên cạnh đó, hoạt động điều tra, xử lý chất độc CS tồn lưu sau chiến tranh được thực hiện ở nhiều địa bàn, đặc biệt là các tỉnh miền Trung, miền Nam, góp phần mang lại môi trường an toàn cho người dân.

Việc ứng dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ phục vụ xử lý ô nhiễm, cải thiện chất lượng môi trường phục vụ cho các hoạt động quân sự và phục vụ kinh tế xã hội cũng được các cơ quan, đơn vị trong quân đội tích cực triển khai. Công nghệ xử lý nước thải, khí thải, chất thải rắn trong công nghiệp quốc phòng, trong bảo đảm hậu cần, kỹ thuật được ứng dụng tại 32 đơn vị thông qua các đề tài, nhiệm vụ, dự án BVMT; việc xử lý nước sinh hoạt phục vụ cho cho bộ đội sử dụng trong huấn luyện, diễn tập được ứng dụng tại 16 đơn vị; xử lý chất thải sinh hoạt bằng công nghệ sinh học (biogas) được ứng dụng cho 18 đơn vị; xử lý nước thải, chất thải rắn nguy hại được ứng dụng tại 4 bệnh viện quân y; lĩnh vực năng lượng sạch (mặt trời, gió) được triển khai ứng dụng tại 11 đơn vị.

Thực hiện Chiến lược Quốc gia về BĐKH của Thủ tướng Chính phủ và Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH, Bộ Quốc phòng đã phê duyệt Kế hoạch hành động về BĐKH giai đoạn từ năm 2013 - 2020. Kế hoạch hành động này đã xác định mục tiêu phát huy sức mạnh của toàn quân để chủ động ứng phó, giảm thiểu tác động xấu của BĐKH đối với tính mạng, sức khỏe bộ đội, tài sản, vũ khí, trang bị kỹ thuật, công trình và hoạt động quân sự trên phạm vi cả nước nhằm đảm bảo khả năng huấn luyện và SSCĐ của quân đội trong điều kiện BĐKH, nước biển dâng; giảm nhẹ phát thải khí nhà kính trong các hoạt động quân sự.

Có thể nói, công tác BVMT những năm qua của các cơ quan, đơn vị quân đội đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, thể hiện vai trò tiên phong của người lính trong thực hiện Luật BVMT, góp phần giải quyết khá tốt các vấn đề môi trường phát sinh trong sản xuất, sửa chữa quốc phòng, bảo quản vũ khí, huấn luyện, diễn tập và do hậu quả của chiến tranh.

Cùng với sự phát triển về mọi mặt của đất nước trong thời kỳ mới, yêu cầu công tác BVMT cũng sẽ được đạt ra ngày càng cao và bức thiết. Trên cơ sở quán triệt và tổ chức thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước và Bộ Quốc phòng về BVMT, định hướng nhiệm vụ công tác BVMT trong Quân đội thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước được xác định bao gồm:

1. Phòng ngừa, giảm thiểu, xử lý, khắc phục suy thoái môi trường, ô nhiễm môi trường, sự cố môi trường trong các hoạt động quân sự. Quản lý, khai thác, sử dụng hợp lý và có hiệu quả các thành phần môi trường phục vụ cho các hoạt động quân sự; quản lý tài nguyên và môi trường biển, đảo; nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ phục vụ hoạt động BVMT.

2. Cải thiện điều kiện môi trường nơi đóng quân, bảo đảm số lượng, chất lượng các nguồn nước cho bộ đội, đặc biệt ưu tiên thực hiện đối với các đơn vị đóng quân vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới hải đảo, vùng có điều kiện môi trường khắc nghiệt.

3. Xử lý triệt để ô nhiễm môi trường tại các cơ sở sản xuất, sửa chữa quốc phòng, kho tàng, bệnh viện quân y. Đối với các cơ sở sửa chữa, sản xuất quốc phòng mới được xây dựng có công nghệ sạch, có hệ thống xử lý chất thải đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường; kết hợp với việc quan trắc, kiểm soát các thông số môi trường phục vụ cho việc đánh giá hiệu quả hệ thống xử lý ô nhiễm và trình độ công nghệ sản xuất, sửa chữa, bảo quản vũ khí.

4. Tổ chức thực hiện khoanh vùng, xử lý triệt để các vùng ô nhiễm chất độc da cam/đi-ô-xin theo Kế hoạch hành động quốc gia khắc phục cơ bản hậu quả chất độc hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam.

5. Tổ chức thực hiện các nhiệm vụ về BĐKH theo Chương trình mục tiêu quốc gia và Chiến lược quốc gia về BĐKH.

6. Xây dựng lực lượng nòng cốt thực hiện các hoạt động ứng cứu, xử lý, khắc phục suy thoái, ô nhiễm, sự cố môi trường ở quy mô quốc gia; quan trắc môi trường; kiểm soát ô nhiễm xuyên biên giới, bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học, phòng chống vũ khí môi trường.

Để thực hiện tốt các nhiệm vụ nêu trên, cần tập trung vào một số giải pháp chính sau:

Một là, tiếp tục quán triệt, tổ chức thực hiện tốt các quy định về BVMT trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trong đó đặc biệt chú trọng các văn bản như: Chương trình hành động số 251-CT/QUTW ngày 14/4/2014 của Quân ủy Trung ương thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 3/6/2013 của Ban Chấp hànhTrung ương về chủ động ứng phó với BĐKH, tăng cường quản lý tài nguyên và BVMT; Chiến lược BVMT của Bộ Quốc phòng đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030; Chỉ thị 37/CT-BQP ngày 13/3/2015 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng về triển khai thực hiện Chiến lược khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên và BVMT biển đến năm 2020, tầm nhìn 2030 trong quân đội; Chỉ thị số 97/2005/CT-BQP ngày 11/7/2005 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng về việc thực hiện công tác BVMT thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; Điều lệ Công tác BVMT và ứng phó với BĐKH của QĐND Việt Nam năm 2015...

Hai là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền về BVMT và ứng phó với BĐKH. Đa dạng hoá và đổi mới các hình thức tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm BVMT và ứng phó với BĐKH trong quân đội, trong đó, tập trung vào các nội dung như tuyên truyền về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và quy định của Bộ Quốc phòng, của đơn vị về BVMT; những ảnh hưởng xấu của ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường đối với sức khoẻ bộ đội, đối với độ bền của vũ khí, trang bị kỹ thuật và các hoạt động quân sự, quốc phòng; những tác động của hoạt động quân sự, quốc phòng đối với tài nguyên, môi trường và biện pháp khắc phục...

Ba là, tăng cường công tác quản lý nhà nước về BVMT. Hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách về BVMT trong quân đội; bảo đảm thực thi các quy định pháp luật về BVMT; thực hiện tốt việc việc thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường các dự án đầu tư trong quân đội; giám sát và xác nhận hoàn thành công trình, giải pháp BVMT; quản lý chất thải nguy hại phát sinh từ hoạt động quân sự. Kiện toàn hệ thống cơ quan quản lý môi trường các cấp; tăng cường trang thiết bị, đào tạo cán bộ chuyên môn để có đủ năng lực hoàn thành các nhiệm vụ. Xây dựng, tổ chức lực lượng quân đội tham gia ứng phó, khắc phục sự cố môi trường, phòng tránh thiên tai, ứng phó với BĐKH; BVMT biển, quan trắc môi trường quốc gia, kiểm soát ô nhiễm xuyên biên giới. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát.

Bốn là, tăng cường công tác điều tra cơ bản tài nguyên và môi trường phục vụ cho việc xây dựng chiến lược, chính sách và quy hoạch BVMT gắn với các hoạt động quân sự, quốc phòng.

Năm là, đa dạng hoá các nguồn đầu tư cho môi trường, bao gồm cả ngân sách Nhà nước và ngân sách quốc phòng. Cần đặc biệt quan tâm đảm bảo cơ chế để các đơn vị quân đội được phép sử dụng ngân sách cho hoạt động BVMT theo hướng cơ quan, đơn vị nào hoạt động thuần tuý về quân sự được cấp kinh phí cho các hoạt động BVMT theo kế hoạch hàng năm; cơ quan, đơn vị thực hiện nhiệm vụ quốc phòng - kinh tế được hạch toán khoản chi cho hoạt động BVMT vào hoạt động sản xuất kinh doanh.

Sáu là, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực về môi trường, kết hợp với việc hợp tác với các cơ quan, đơn vị ngoài Quân đội trong hoạt động BVMT.

BVMT không chỉ là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài, mà nay đã trở thành nhiệm vụ cấp bách đối với mọi quốc gia. Dưới sự chỉ đạo của Quân uỷ Trung ương và Bộ Quốc phòng, với các chiến lược, chương trình, kế hoạch hành động BVMT cụ thể, Quân đội sẽ thực hiện tốt nhiệm vụ công tác này, góp phần tích cực vào công tác BVMT quốc gia trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

 

Phó Cục trưởng Cục Khoa học Quân sự

Đại tá, TS Thân Thành Công

Tin tức khác

Zalo phone Hotline