(069). 518.055

Phát triển bền vững biển, đảo Việt Nam - đảm bảo an toàn môi trường và sử dụng hợp lý vùng bờ biển

Ngày 09/08/2021155

Với lợi thế vùng bờ biển nước ta chứa đựng nguồn tài nguyên đa dạng và phong phú, để phát triển hệ thống cảng, công nghiệp, thủy sản, du lịch, đảm bảo an toàn môi trường và sử dụng tài nguyên hợp lý, hướng tới phát triển bền vững, vấn đề đặt ra hiện nay là cần phải có quy hoạch và quản lý phù hợp.

* Tầm quan trọng về kinh tế và môi trường

Theo nhận xét của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Chu Hồi - Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam: Nhờ điều kiện khí hậu và tự nhiên thuận lợi, cùng với giao thông và truyền thông dễ dàng của nhiều địa điểm ở vùng bờ, nên đã khuyến khích và hấp dẫn sự định cư của con người ở đây từ lâu đời. Đến nay, khoảng 1/3 dân số nước ta sống ở các huyện ven biển và khoảng trên 50% dân số sống ở 28 tỉnh, thành phố ven biển, với khoảng 50% các đô thị của đất nước tập trung ở vùng này.

Vùng bờ biển cũng đóng vai trò rất quan trọng về mặt sinh thái học, vì chúng cung cấp một lượng lớn “dịch vụ hàng hóa và môi trường”. Trong vùng biển và đới bờ Việt Nam đã phát hiện được 11.000 loài sinh vật cư trú ở hơn 20 kiểu hệ sinh thái điển hình, thuộc về 6 vùng biển đa dạng sinh học biển khác nhau, trong đó phong phú nhất là vùng biển Móng Cái - Đồ Sơn, Hải Vân - Đại Lãnh và Đại Lãnh - Vũng Tàu.

Trên dải ven biển nước ta còn hiện diện các vùng đất ngập nước với các kiểu loại khác nhau, chủ yếu thuộc về nhóm đất ngập nước theo triều có môi trường nước lợ, phân bổ từ mức triều cao xuống đến độ sâu 6m nước; đất ngập nước ven biển với bản chất môi trường nước lợ và ngọt, tập trung ở 2 châu thổ sông Hồng và sông Cửu Long lên tới 7,5 triệu hec-ta

Các hệ sinh thái đất ngập nước này đóng vai trò quan trọng trong điều hòa và cung cấp nước, giữ ổn định mực nước ngầm và cung cấp tiềm năng cho nuôi trồng thủy sản khoảng 1.130.000ha, chưa kể 500.000ha đang trồng lúa, cói và làm muối. Riêng các diện tích đầm phá tập trung ở miền Trung có khả năng phát triển thủy sản 12.000ha. Ngoài ra, có khả năng đưa 20.000ha vùng bãi ngang sát biển vào nuôi trồng thủy sản, nhưng với điều kiện phải bảo vệ được nguồn nước ngầm ngọt có ý nghĩa sống còn với người dân ở những vùng này.

* Nỗ lực quản lý vùng bờ biển

Theo báo cáo của Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam, để có căn cứ hoạch định chính sách quản lý biển đảo, nhiều hoạt động điều tra nghiên cứu môi trường và tài nguyên biển - ven biển đã được các bộ, ngành, địa phương tiến hành, thông qua các chương trình điều tra nghiên cứu biển cấp nhà nước, cấp ngành, tỉnh và hợp tác quốc tế. Từ năm 1995, hệ thống quan trắc môi trường biển quốc gia và một số địa phương ven biển đã được thiết lập và đi vào hoạt động. Công cụ đánh giá tác động môi trường đối với các dự án phát triển riêng lẻ ở vùng bờ cũng đã được áp dụng, tuy chưa có hiệu quả đích thực.

Bằng nguồn của Chính phủ, dự án quốc gia về “Nghiên cứu xây dựng phương án quản lý tổng hợp vùng bờ Việt Nam, bảo đảm an toàn sinh thái và phát triển bền vững” đã được thực hiện trong khuôn khổ Chương trình biển quốc gia giai đoạn 1996 - 2000. Kết quả của dự án là xây dựng được 47 báo cáo chuyên đề, một bộ Atlat bản đồ và hồ sơ vùng biển Việt Nam liên quan đến các lĩnh vực; tài nguyên và môi trường vùng bờ; các vấn đề kinh tế - xã hội ở vùng bờ, tình hình sử dụng và thể chế - chính sách liên quan đến quản lý tổng hợp vùng bờ biển. Đặc biệt, dự án đã xây dựng được phương pháp luận, một khuôn khổ hành động quản lý tổng hợp vùng bờ phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam, cũng như phương án quản lý ở 2 khu vực thí điểm là Cát Bà - Hạ Long và Đà Nẵng.

Trong thời gian trên, Chính phủ Thụy Điển đã giúp Viện Hải dương học Việt Nam triển khai Dự án 3 giai đoạn “Tăng cường năng lực nghiên cứu môi trường biển và ven biển cho Việt Nam”. Tiếp theo đó, hàng loạt các tổ chức quốc tế và các nước đã hợp tác với Việt Nam về quản lý tổng hợp vùng bờ, mục đích chung của các dự án này là tăng cường năng lực cho Việt Nam và trình diễn thử nghiệm ở một số vùng bờ. Tiêu biểu như Dự án quản lý tổng hợp vùng bờ hợp tác giữa Sida Thụy Điển với Ban Biên giới của Chính phủ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư...; Dự án hợp tác Việt Nam - Hà Lan với 3 điểm trình diễn là Nam Định, Thừa Thiên - Huế và Bà Rịa - Vũng Tàu; Dự án hợp tác Việt Nam - Hoa Kỳ về “Tăng cường năng lực cho Việt Nam trong quản lý tổng hợp vùng bờ vịnh Bắc Bộ”...

Tuy vậy, các nỗ lực quốc gia và quốc tế về quản lý tổng hợp vùng bờ biển Việt Nam đang ở giai đoạn khởi đầu và còn mang nặng tính “kỹ thuật”. Tập trung chủ yếu việc nâng cao nhận thức cộng đồng, quản lý hệ sinh thái vùng bờ, bảo tồn đa dạng sinh học, quản lý ô nhiễm nguồn từ đất liền, thử triển khai ở cấp địa phương và thử nghiệm lồng ghép ở cấp ngành...Đưa quản lý tổng hợp vùng bờ vào chương trình đào tạo bậc cao học ở một số trường đại học trong nước, hoàn thành “Cẩm nang đào tạo quản lý tổng hợp vùng bờ cấp tỉnh”, với việc thiết lập một Mạng lưới đào tạo quản lý tổng hợp vùng bờ cấp tỉnh ở Việt Nam, gồm 90 thành viên ở 28 tỉnh, thành phố ven biển và một số cơ quan trung ương...

Tiến sĩ Nguyễn Hũu Cử - Viện Tài nguyên và Môi trường biển - Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam cho rằng, tiếp cận quản lý tổng hợp vùng bờ biển Việt Nam đã trải qua 2 thập kỷ và đã đạt được những kết quả nhất định, nhưng chưa có chia sẻ kinh nghiệm và thống nhất nhận thức cả về khái niệm và định danh thể thức quản lý tiên tiến này. Nhưng ở mức độ nhất định, quá trình tiếp cận và thực hành quản lý tổng hợp vùng bờ biển đã và đang tạo cơ sở lý luận và thực tiễn, phục vụ đắc lực cho việc xây dựng Luật Tài nguyên và Môi trường biển Việt Nam trong thời gian tới./.

(BBT)

Tin tức khác

Zalo phone Hotline