(069). 518.055

Những điểm mới của pháp luật về xuất nhập cảnh và yêu cầu đặt ra đối với công tác xuất nhập cảnh của Bộ đội Biên phòng

Ngày 18/08/2021913

Để bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ với các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan và phù hợp với xu thế hiện nay, Quốc hội đã ban hành Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam. Bài viết giới thiệu sự cần thiết ban hành và một số điểm mới cơ bản của hai văn bản luật trên, đồng thời đưa ra một số yêu cầu đối với Bộ đội Biên phòng (BĐBP) trong quản lý nhà nước về an ninh, trật tự ở khu vực biên giới, cửa khẩu.

Qua tổng kết 10 năm thực hiện công tác quản lý xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam cho thấy, các quy định về xuất cảnh, nhập cảnh của Chính phủ cơ bản đáp ứng được yêu cầu thực tế, tạo điều kiện cho công dân ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước. Tuy nhiên, để phù hợp với xu thế hiện nay, nhất là áp dụng sự tiến bộ của khoa học, công nghệ trong việc cấp giấy tờ, kiểm soát xuất, nhập cảnh (XNC) và để bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ với các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan; ngày 22/11/2019, Quốc hội đã ban hành Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam (có hiệu lực từ ngày 1/7/2020). Việc các quy định về xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam và trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức, cá nhân có liên quan được quy định trong văn bản luật có ý nghĩa hết sức quan trọng và mang tính cấp thiết.

Thứ nhất, Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam năm 2019 được ban hành xuất phát từ yêu cầu cụ thể hóa quy định của Hiến pháp. Khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng” và Điều 23 quy định: “Công dân có quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Tuy nhiên, các quyền về xuất cảnh, nhập cảnh của công dân chưa được luật hóa mà mới được quy định tại nghị định của Chính phủ, thông tư của các Bộ.

Thứ hai, xuất phát từ yêu cầu thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật. Trong những năm qua, Quốc hội đã ban hành hoặc sửa đổi, bổ sung nhiều bộ luật, luật để triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013 có liên quan trực tiếp đến công tác quản lý xuất cảnh, nhập cảnh của công dân, như: Luật Cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Bộ luật Dân sự, Bộ luật Tố tụng dân sự, Bộ luật Hàng hải, Luật Quốc tịch, Luật Căn cước công dân, Luật Cư trú, Luật Xử lý vi phạm hành chính, Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam… Do vậy, cần phải ban hành Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam năm 2019 để bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất và hoàn thiện của hệ thống pháp luật, giảm thiểu các văn bản dưới luật để hướng dẫn thi hành.

Thứ ba, xuất phát từ yêu cầu thực tiễn hiện nay. Đó là, yêu cầu cải cách thủ tục hành chính, ứng dụng khoa học, công nghệ tiên tiến trong công tác quản lý XNC và triển khai thực hiện Đề án sản xuất và phát hành hộ chiếu có gắn chíp điện tử Việt Nam đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam năm 2019, có những điểm mới cơ bản sau:

Một là, cụ thể hóa quy định của Hiến pháp 2013 liên quan đến quyền con người, quyền công dân

Để cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013 về tôn trọng, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, Luật đã quy định công dân có các  quyền mang tính nguyên tắc, quyền được cấp giấy tờ XNC và xuất cảnh, nhập cảnh; quyền được bảo đảm bí mật cá nhân, bí mật gia đình trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam (trừ trường hợp phải cung cấp thông tin, tài liệu theo quy định của pháp luật); yêu cầu cung cấp thông tin về xuất cảnh, nhập cảnh của mình; yêu cầu cập nhật, chỉnh sửa thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về xuất cảnh, nhập cảnh… Đồng thời, có nghĩa vụ chấp hành quy định của pháp luật Việt Nam về xuất cảnh, nhập cảnh và pháp luật của nước đến khi ra nước ngoài; thực hiện thủ tục đề nghị cấp giấy tờ XNC, gia hạn hộ chiếu, khôi phục giá trị sử dụng hộ chiếu theo quy định của pháp luật; sử dụng giấy tờ XNC do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp để xuất cảnh, nhập cảnh; chấp hành yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền trong việc kiểm tra người, hành lý, giấy tờ XNC khi làm thủ tục xuất cảnh, nhập cảnh; nộp lệ phí cấp giấy tờ XNC theo quy định của pháp luật (Điều 5).

Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam quy định cụ thể, chặt chẽ hơn về điều kiện xuất cảnh, nhập cảnh (Điều 33, 34), đối tượng, thẩm quyền, thời hạn tạm hoãn xuất cảnh, vừa bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn, xã hội, vừa bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của công dân (từ Điều 36 đến Điều 39).

Hai là, quy định về giấy tờ XNC đáp ứng yêu cầu thực tiễn hiện nay

Giấy tờ XNC đối với công dân Việt Nam, Luật quy định chỉ có 4 loại, gồm: Hộ chiếu ngoại giao; Hộ chiếu công vụ; Hộ chiếu phổ thông; Giấy thông hành (đã loại bỏ Hộ chiếu thuyền viên, Giấy thông hành biên giới, Giấy thông hành nhập xuất cảnh, Giấy thông hành hồi hương, Giấy thông hành quy định chung là Giấy thông hành). Việc quy định như vậy nhằm giảm bớt các loại giấy tờ XNC, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý, kiểm soát XNC.

Hộ chiếu ngoại giao, hộ chiếu công vụ, hộ chiếu phổ thôngđều có 2 loại (có gắn chíp điện tử và không gắn chíp điện tử) để công dân lựa chọn. Hộ chiếu phổ thông cấp cho người chưa đủ 14 tuổi và cấp theo thủ tục rút gọn không gắn chíp điện tử. Hộ chiếu phổ thông được cấp riêng cho từng công dân để tạo điều kiện cho công dân khi làm thủ tục XNC (Trước đây, trẻ em có thể cấp chung với bố hoặc mẹ) (Điều 6).

Quy định việc cấp hộ chiếu phổ thông theo thủ tục rút gọn cho công dân Việt Nam để thay thế việc cấp giấy thông hành như hiện nay cho các trường hợp: Người ra nước ngoài có thời hạn bị mất hộ chiếu phổ thông, có nguyện vọng về nước ngay; người có quyết định trục xuất bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền nước sở tại nhưng không có hộ chiếu; người phải về nước theo điều ước quốc tế hoặc thỏa thuận quốc tế về việc nhận trở lại công dân; người được cấp hộ chiếu phổ thông vì lý do quốc phòng, an ninh (Điều 17). Việc cấp hộ chiếu cho các trường hợp này là sự khẳng định việc bảo hộ của Nhà nước ta đối với công dân trong mọi trường hợp, không phát sinh thêm mẫu mới.

Quy định cụ thể về trình tự, thủ tục khôi phục giá trị sử dụng của hộ chiếu phổ thông trong trường hợp đã bị hủy giá trị sử dụng do bị mất ở trong nước, sau khi tìm lại được còn nguyên vẹn và có thị thực do nước ngoài cấp còn thời hạn (Điều 32).

Quy định các trường hợp bị hủy giá trị sử dụng, thu hồi hộ chiếu đối với người bị mất quốc tịch Việt Nam, bị hủy bỏ quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam; người không thuộc diện còn được sử dụng hộ chiếu ngoại giao, hộ chiếu công vụ (Điều 27).

Ba là, quy định mới về Cơ sở dữ liệu quốc gia về xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam

Theo đó, Cơ sở dữ liệu quốc gia về xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam là tập hợp các thông tin của công dân Việt Nam có liên quan đến hoạt động xuất cảnh, nhập cảnh được số hóa, lưu trữ, quản lý, khai thác bằng cơ sở hạ tầng thông tin. Đồng thời, quy định cụ thể về yêu cầu xây dựng và quản lý, thông tin, thu thập, cập nhật, quản lý, khai thác Cơ sở dữ liệu quốc gia về xuất cảnh, nhập cảnh của công dân để phục vụ việc cấp giấy tờ XNC, kiểm soát XNC.

Bốn là, quy định cụ thể trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước  

Quy định cụ thể trách nhiệm của Chính phủ, Bộ Công an, Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng trong thực hiện quản lý nhà nước về xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam; quy định về quy trình và thực hiện thu nhận vân tay của người đề nghị cấp hộ chiếu có gắn chíp điện tử; áp dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại trong việc kiểm soát XNC bằng hệ thốngCổng kiểm soát tự động; kiểm soát XNC đối với người đi trên phương tiện quốc phòng, an ninh để ra, vào lãnh thổ Việt Nam thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh; xây dựng, thu thập, cập nhật, khai thác Cơ sở dữ liệu quốc gia về xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam (Điều 35).

Qua hơn 4 năm thực hiện, Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam năm 2014 và hơn 2 năm thực hiện Nghị quyết số 30/2016/QH14 ngày 22/11/2016 của Quốc hội khóa XIV về thực hiện thí điểm cấp thị thực điện tử cho người nước ngoài nhập cảnh Việt Nam và Nghị quyết số 74/2018/QH14 ngày 20/11/2018 của Quốc hội khóa XIV cho phép tiếp tục kéo dài thời gian thí điểm cấp thị thực điện tử cho người nước ngoài nhập cảnh Việt Nam thêm tối đa 2 năm, đã tạo hành lang pháp lý cơ bản vững chắc trong hoạt động quản lý XNC đối với người nước ngoài, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về an ninh, trật tự của Việt Nam; thể hiện sự công khai, minh bạch, bảo đảm nhanh chóng, thuận tiện và tiết kiệm, đáp ứng yêu cầu cải cách và đơn giản hóa thủ tục hành chính, yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội gắn với nhiệm vụ bảo đảm quốc phòng, an ninh của đất nước, phù hợp với chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về đổi mới và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, quá trình triển khai thực hiện cũng đã nảy sinh một số khó khăn, vướng mắc chưa phù hợp với thực tiễn.

Vì vậy, để đáp ứng các yêu cầu luật hóa chính sách cấp thị thực điện tử cho người nước ngoài nhập cảnh Việt Nam; kịp thời điều chỉnh các vấn đề mới phát sinh và bảo đảm sự đồng bộ với quy định của pháp luật khác có liên quan mới được ban hành; tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho người nước ngoài XNC Việt Nam, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội. Ngày 25/11/2019, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam năm 2013. Nội dung sửa đổi, bổ sung cụ thể là:

Thứ nhất, luật hóa việc cấp thị thực điện tử và việc áp dụng giao dịch điện tử trong việc mời, bảo lãnh người nước ngoài nhập cảnh Việt Nam mà Quốc hội đã cho phép thí điểm thực hiện theo Nghị quyết số 30/2016/QH14. Theo đó, thị thực cấp qua giao dịch điện tử là thị thực điện tử; cổng thông tin điện tử về XNC là cổng thông tin của cơ quan quản lý XNC, có chức năng xuất bản thông tin, cung cấp dịch vụ công trực tuyến, hỗ trợ tìm kiếm, liên kết, lưu trữ thông tin và hướng dẫn thủ tục, giải đáp thắc mắc liên quan đến lĩnh vực quản lý XNC; Trang thông tin cấp thị thực điện tử là trang thông tin thuộc Cổng thông tin điện tử về XNC, có chức năng tiếp nhận, giải quyết, cung cấp thông tin liên quan đến cấp thị thực điện tử. Thị thực điện tử có giá trị một lần, cấp cho những nước ngoài có hộ chiếu và không thuộc diện được hưởng các quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao và lãnh sự (Khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 8).

Thứ hai, bổ sung quy định cấp thị thực theo danh sách xét duyệt nhân sự của cơ quan quản lý XNC đối với người nước ngoài tham quan, du lịch bằng đường biển hoặc quá cảnh đường biển có nhu cầu vào nội địa tham quan, du lịch theo chương trình do doanh nghiệp lữ hành quốc tế tại Việt Nam tổ chức; thành viên tàu quân sự nước ngoài đi theo chương trình hoạt động chính thức của chuyến thăm ngoài phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi tàu, thuyền neo đậu; những trường hợp được chuyển đổi mục đích thị thực (có giấy phép là nhà đầu tư, giấy phép lao động hoặc sống cùng thân nhân); trường hợp được miễn thị thực (30 ngày) vào khu kinh tế ven biển theo quyết định của Chính phủ (Quy định này nhằm tiếp tục thực hiện việc miễn thị thực cho người nước ngoài nhập cảnh đảo Phú Quốc, Kiên Giang theo Quyết định số 80/2013/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ).

Thứ ba, sửa đổi, bổ sung về ký hiệu thị thực, thẻ tạm trú cấp cho người lao động nước ngoài và luật sư nước ngoài; sửa đổi quy định về ký hiệu, thời hạn của thị thực, thẻ tạm trú cấp cho nhà đầu tư nước ngoài; nâng thời hạn tối đa của thẻ tạm trú lên 10 năm để khuyến khích nhà đầu tư chiến lược hoặc đầu tư vào lĩnh vực, địa bàn được ưu tiên; phân loại các nhà đầu tư theo 4 mức khác nhau để cấp thị thực, thẻ tạm trú có thời hạn và ký hiệu phù hợp.

Thứ tư, quy định việc cấp chứng nhận tạm trú tại cửa khẩu bằng thời hạn thị thực nhằm đơn giản hóa thủ tục tại cửa khẩu. Riêng thị thực du lịch có thời hạn trên 30 ngày thì cấp tạm trú 30 ngày để hạn chế tình trạng người nước ngoài lợi dụng sự thông thoáng của việc cấp thị thực du lịch vào Việt Nam hoạt động vi phạm pháp luật (tội phạm công nghệ cao, lao động không phép, kinh doanh du lịch trái phép…); đồng thời phù hợp với thời gian theo chương trình du lịch tại Việt Nam, thường không quá 15 ngày.

Thứ năm, sửa đổi điều kiện nhập cảnh, theo đó, bỏ quy định người nước ngoài nhập cảnh theo diện đơn phương miễn thị thực thì phải cách thời điểm xuất cảnh Việt Nam lần trước ít nhất 30 ngày.

Thời gian tới, để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về an ninh, trật tự khu vực biên giới, cửa khẩu đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới, nhất là khi hai văn bản luật trên có hiệu lực, các đơn vị BĐBP cần thực hiện tốt một số nội dung cơ bản sau:

1. Các đơn vị BĐBP, nhất là các đồn biên phòng cửa khẩu cần tổ chức quán triệt cho cán bộ, chiến sĩ nắm chắc các quy định của pháp luật về XNC, trong đó tập trung vào những điểm mới sửa đổi, bổ sung liên quan trực tiếp đến công tác quản lý, kiểm soát XNC của BĐBP, như: Quy định về hộ chiếu có gắn chịp điện tử, thị thực điện tử; kiểm soát XNC bằng hệ thốngCổng kiểm soát tự động; kiểm soát XNC đối với người đi trên phương tiện quốc phòng, an ninh để ra, vào lãnh thổ Việt Nam thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh; tạm hoãn xuất cảnh; chuyển đổi mục đích thị thực; ký hiệu, thời hạn của các loại thị thực, thẻ tạm trú; cấp chứng nhận tạm trú tại cửa khẩu;… để thực hiện đúng, hiệu quả, bảo đảm sự công khai, minh bạch, nhanh chóng, thuận tiện và tiết kiệm, tạo bước tiến mạnh mẽ về cải cách và đơn giản hóa thủ tục hành chính trong kiểm soát XNC, góp phần kích cầu du lịch, thu hút đầu tư, mở rộng giao lưu, hợp tác quốc tế. Đồng thời, bảo đảm kiểm soát chặt chẽ hoạt động xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam và người nước ngoài; phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và đấu tranh có hiệu quả với hoạt động của các đối tượng lợi dụng sự thông thoáng của pháp luật về XNC để xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.

2. Tham mưu cho Bộ Quốc phòng phối hợp với Bộ Ngoại giao, Bộ Công an trong việc ký kết điều ước quốc tế liên quan đến xuất cảnh, nhập cảnh; chủ trì, phối hợp với Bộ Công an xây dựng, hướng dẫn cụ thể quy trình kiểm soát XNC theo thủ tục biên phòng điện tử tại các cửa khẩu do BĐBP quản lý, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho hoạt động quản lý, kiểm soát XNC của BĐBP và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật.

3. Tiếp tục tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả Kế hoạch triển khai thực hiện Quyết định số 15/2019/QĐ-TTg ngày 28/3/2019 của Thủ tướng Chính phủ về việc thực hiện thủ tục biên phòng điện tử tại các cửa khẩu do Bộ Quốc phòng quản lý, được ban hành kèm theo Quyết định số 2706/QĐ-BQP ngày 29/6/2019 của Bộ Quốc phòng; Quyết định số 2185/QĐ-TTg ngày 14/11/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch triển khai Cơ chế một cửa quốc gia, Cơ chế một cửa ASEAN và tạo thuận lợi thương mại giai đoạn 2016 - 2020; Kế hoạch 6358/KH-BQP ngày 7/62017 của Bộ Quốc phòng triển khai Cơ chế một cửa quốc gia, Cơ chế một cửa ASEAN và tạo thuận lợi thương mại giai đoạn 2016 - 2020. Nghiên cứu, ứng dụng công nghệ thông tin để nâng cấp, hoàn thiện hệ thống xử lý dữ liệu điện tử biên phòng, Cổng kiểm soát tự động, áp dụng chữ ký số, loại bỏ các loại giấy tờ phải nộp trong thực hiện thủ tục biên phòng điện tử để vừa bảo đảm cải cách thủ tục hành chính trong hoạt động XNC, vừa bảo đảm có thể kiểm soát chặt chẽ việc xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam và người nước ngoài, kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xử lý các đối tượng thuộc diện chưa cho nhập cảnh, chưa được xuất cảnh, tạm hoãn xuất cảnh, qua đó, góp phần bảo đảm an ninh, trật tự khu vực biên giới, cửa khẩu. Tiếp tục triển khai thực hiện, tổ chức rút kinh nghiệm, nghiên cứu, bổ sung hoàn thiện dự án “Xây dựng phần mềm quản lý, kiểm soát xuất nhập cảnh của BĐBP” đã được Bộ trưởng Bộ Quốc phòng phê duyệt theo Quyết định số 1455/2019/QĐ-BQP ngày 11/4/2019; đồng thời, xây dựng các phương án, giải pháp bảo đảm tuyệt đối an toàn cho hệ thống và cơ sở dữ liệu điện tử biên phòng; giữ bí mật thông tin cá nhân của hành khách xuất cảnh, nhập cảnh.

4. Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, ban, ngành, lực lượng và chính quyền địa phương, nhất là lực lượng Công an tổ chức phổ biến, giáo dục luật về XNC cho các cơ quan, tổ chức và nhân dân ở khu vực biên giới, người xuất cảnh, nhập cảnh qua các cửa khẩu do BĐBP quản lý, với các hình thức đa dạng, phong phú. Đối với công dân Việt Nam, nội dung tập trung phổ biến, giáo dục luật cho họ nắm được các nguyên tắc xuất cảnh, nhập cảnh; các hành vi bị nghiêm cấm; quyền và nghĩa vụ của công dân; quy định về đối tượng, trình tự, thủ tục cấp, quản lý, sử dụng, hủy, khôi phục các loại giấy tờ XNC; quy định về quyền lựa chọn cấp hộ chiếu có gắn chíp điện tử hoặc không gắn chíp điện tử;… Đối với người nước ngoài, nội dung tập trung vào các quy định về thị thực điện tử; thủ tục biên phòng điện tử; trường hợp được chuyển đổi mục đích thị thực; các loại thị thực, thẻ tạm trú, cấp chứng nhận tạm trú tại cửa khẩu; đồng thời, phổ biến, giáo dục cho họ nắm được quy định của pháp luật Việt Nam về xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về XNC, lợi dụng hoạt động XNC để xâm phạm an ninh, trật tự.

5. Chủ động, phối hợp chặt chẽ với Cơ quan quản lý XNC của Bộ Công an nắm chắc tình hình liên quan đến quản lý, kiểm soát XNC, nhất là tình hình về phát triển, ứng dụng các khoa học công nghệ, kỹ thuật vào sản xuất, cấp hộ chiếu, thị thực điện tử và quản lý, kiểm soát XNC trên thế giới để chủ động nghiên cứu, ứng dụng vào Việt Nam; về âm mưu, phương thức, thủ đoạn của các đối tượng vi phạm pháp luật về XNC, lợi dụng hoạt động XNC, việc cấp hộ chiếu, thị thực điện tử để XNC trái phép, xâm phạm an ninh, trật tự; xây dựng, thu thập, cập nhật, khai thác có hiệu quả Cơ sở dữ liệu quốc gia về xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam và người nước ngoài trong việc bảo đảm an ninh, trật tự; kiểm soát chặt chẽ hoạt động XNC; cấp, sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ thị thực, cấp chứng nhận tạm trú theo quy định của pháp luật về XNC.

6. Tổ chức đào tạo, tập huấn, bố trí cán bộ đúng chuyên ngành, có đủ trình độ, năng lực, kinh nghiệm đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ tại các cửa khẩu nói chung, thực hiện thủ tục biên phòng điện tử nói riêng. Kiểm soát chặt chẽ hoạt động xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam; nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam; cấp, hủy bỏ thị thực, chứng nhận tạm trú theo quy định của pháp luật về XNC; kiểm soát chặt chẽ hoạt động XNC, kịp thời phát hiện, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về XNC, nhất là các đối tượng có hành vi xâm phạm an ninh quốc gia, vi phạm pháp luật khác hoặc các trường hợp chưa cho nhập cảnh, chưa được xuất cảnh, tạm hoãn xuất khi họ xuất cảnh, nhập cảnh qua cửa khẩu theo đúng quy định của pháp luật nhằm bảo đảm an ninh, trật tự trong hoạt động XNC ở khu vực biên giới, cửa khẩu.□                                                                                                   

                                                                                            Khuất Duy Thùy

Tài  liệu tham khảo

1. Hiến pháp năm 2013.

2. Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam số 49/2019/QH14 ngày 22/11/2019.

3. Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam  số 47/2014/QH13 ngày 16/6/2014

4. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam số 51/2019/QH14 ngày 25/11/2019

5. Nghị quyết số 30/2016/QH14 ngày 22/11/2016 của Quốc hội khóa XIV về thực hiện thí điểm cấp thị thực điện tử cho người nước ngoài nhập cảnh Việt Nam.

Tin tức khác

Zalo phone Hotline