Ngày 18/08/20212968
Bình dị và máu thịt như thế!
Câu phương châm của Bộ đội Biên phòng gắn liền với những hình ảnh thân thuộc nhất của mỗi đời người. Trong những nhiệm vụ chính trị của mỗi người, nhiệm vụ của mỗi cuộc đời, mỗi ngành, mỗi địa phương, chúng ta rèn luyện, nhắc nhở, giúp đỡ nhau không quên những giá trị của ấm no, hạnh phúc; giá trị của độc lập tự do và khát khao của chặng đường mưu cầu hạnh phúc đầy chông gai mà dân tộc đã trải qua để đi đến hôm nay! Trên chặng đường ấy, bảo vệ biên giới, đảm bảo sự yên bình và toàn vẹn lãnh thổ là một nhiệm vụ quan trọng và thiêng liêng. Và cũng thật lạ, để thực hiện nhiệm vụ lớn lao ấy những người lính biên phòng lại mang theo mình một phương châm thân thuộc từ những thứ “không thể nào quên” trong cuộc đời mỗi người: là mái nhà - để trở về, quê hương - để lớn lên, anh em ruột thịt - để đùm bọc và giúp đỡ! Bình dị và máu thịt như thế!
Đồn là nhà! Xét về nếp nhà trong văn hóa dân tộc ngàn đời, nơi mỗi người ta mong muốn bình yên nhất chính là “nhà”. Thâm chí từ xưa bậc Chí tôn cũng phải đặt phương châm “tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”. Bình yên trong nhà dù ở nghĩa thực tại hay sâu xa đi chăng nữa thì 2 chữ bình yên là cội gốc của mọi sự hùng cường và phát triển chung. Cũng trong nếp văn hóa tư tưởng của dân tộc nơi mỗi người dân Việt Nam muốn trở về nhất sau tất cả những cảm giác vui buồn của cuộc đời cũng chính là nhà mình. Đó là nơi không chỉ chất chứa lối đi về mà nhà là nơi chứa đựng cả cuộc đời mỗi con người.
Không phải ngẫu nhiên mà đầu tiên câu phương châm của một lực lượng đặc biệt người ta ví “đồn” là “nhà”. Không phải đồn như nhà, đồn giống nhà hay đại loại một phép so sánh tương đương mà khẳng định đồn là nhà! Câu khẳng định ấy cũng chính là lời nhắc “đừng quên” với mỗi chiến sĩ: Khi ta biết đồn là ngôi nhà sẽ chứa cả cuộc đời mình nơi đó - ta phải bảo vệ, phải phấn đấu để ngôi nhà ấy bình yên. Người ta có mong muốn “về với biên giới” bởi ý niệm: nhà tôi ở đó. Câu phương châm muốn đem lý tưởng cao đẹp gắn với sự hiện diện thân thuộc của mỗi đời người. Và dù sướng vui hay khổ cực mỗi người đều muốn phấn đấu để xây dựng nhà của mình giàu đẹp hơn, vững chắc hơn. Bảo vệ biên giới cũng thế, sống với biên giới phải thân thuộc, quý trọng mà cũng thiêng liêng như nếp nhà. Ngay trong mỗi căn nhà đã không bình yên thì thử hỏi sự cường thịnh và yên ổn chung có đạt được?
Còn nhớ người con xứ Thanh Hóa, Lê Đình Chinh là chiến sĩ đầu tiên ngã xuống ở mặt trận biên giới phía Bắc khi tròn 18 tuổi. Người lính trẻ đã trở thành biểu tượng cho lòng quả cảm, xả thân vì sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Vào ngày 27/8/1978, đồng chí Lê Đình Chinh (Tiểu đội trưởng Tiểu đội 2, Trung đoàn 12, Bộ Tư lệnh Công an nhân dân vũ trang) đã anh dũng hy sinh khi đang làm nhiệm vụ bảo vệ biên cương trên tuyến đầu Tổ quốc. Và sau đó khi chiến tranh biên giới phía Bắc nổ ra những người lính đầu tiên bảo vệ biên giới chính là Công an nhân dân vũ trang, dân quân tự vệ và nhân dân 6 tỉnh biên giới - Khi những căn nhà nơi biên giới bị tàn phá thì trong lòng Tổ quốc đã không thể bình yên. Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng ra lời kêu gọi tổng động viên, lớp lớp thanh niên lên đường đến với biên cương bằng lời thề thiêng liêng sắt son quyết chiến. Khi biên giới Tây Nam căm hờn bởi hành động xâm lược tàn bạo của quân Pol pot, nhiều chiến sĩ biên phòng đã ngã xuống để bảo vệ vùng “phên dậu”. Khi biên cương dậy sóng thử hỏi còn nếp nhà nào có thể bình yên? Khi bước chân kẻ thù còn càn nát nơi biên giới, mỗi người lính, mỗi người dân thề hi sinh tất cả để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ. Nhà thân thuộc và thiêng liêng là thế, vui buồn cũng ở nếp nhà, và gìn giữ cũng bởi cái thân thuộc của đời người như vậy. Và, có lời nhắc nào về nhiệm vụ có thể sâu sắc hơn với mỗi người lính khi “đồn là nhà”
“Trong ấm, ngoài êm” là một tiêu chí xây dựng một mái nhà yên bình. Và cũng chính đồn là nhà nên cũng dễ thấy các đơn vị Bộ đội Biên phòng luôn có truyền thống đoàn kết, thân ái, giúp đỡ nhau hoàn thành tốt nhiệm vụ. Ngay trong tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng quân đội cũng nhấn mạnh việc xây dựng vững mạnh tổ chức, coi trọng giáo dục chính trị. Khi trong nếp nhà “lục đục” thì nhiều việc sẽ khó thành công. Cũng bởi ý nghĩa này mà câu phương châm muốn dặn dò mỗi chiến sĩ cần cố gắng, phấn đấu xây dựng đơn vị, tổ chức mình vững mạnh, đoàn kết. Hơn nữa, trong những năm tới, tình hình thế giới và khu vực sẽ có nhiều diễn biến phức tạp, thời cơ và vận hội phát triển mở ra rộng lớn, song đất nước cũng đối mặt với nhiều khó khăn trong tình hình mới. Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã nêu rõ mục tiêu trọng yếu của quốc phòng, an ninh: “… Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ công cuộc đổi mới, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc; bảo vệ nền văn hóa dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội”[1].Và rõ ràng dù tình hình có thay đổi thế nào, theo triều hướng phức tạp ra sao thì khi “đồn là nhà” các chiến sĩ biên phòng sẽ luôn sẵn sàng, chủ động với nhiệm vụ thân thuộc của chính cuộc đời mình.
Biên giới là quê hương! Cũng như “Đồn là nhà”, câu phương châm kế tiếp bằng một hình ảnh rất quen thuộc mà ai cũng có. Nếu như nhà thơ Chế Lan Viên từng khắc họa những hình ảnh rất thi vị về việc con người ta gắn liền với những vùng đất từng sinh sống và cống hiến dù không phải quê hương: “Khi ta ở chỉ là nơi đất ở. Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn”, thì chúng ta thấy trong câu phương châm của Bộ đội Biên phòng một hình ảnh đã được nhắc đến gắn liền với tâm hồn của người chiến sĩ: Quê hương. Lính biên phòng cũng có những quãng đời đã đi qua như các thanh thiếu niên khác của đất nước. Họ cũng bắt đầu tình cảm thân thuộc này từ “yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ”. Và khi biên giới trở thành quê hương, nơi đây mỗi cột mốc, mỗi cơ sở kinh tế, quốc phòng, mỗi đoạn đường biên, mỗi chốt gác đều trở thành nơi thiêng liêng thân thuộc như chính mảnh đất “chôn nhau cắt rốn”. Và nhiệm vụ của mỗi người lính ở đó: bảo vệ, xây dựng quê hương. Chỉ với tình cảm thân thuộc này thì dù có gian nan ngàn trùng người lính mới sẵn sàng bám trụ địa bàn, sẵn sàng mọi nhiệm vụ phân công của Đảng, trước tiên vì mục đích giản đơn trong trái tim họ là bảo vệ sự bình yên cho chính “quê hương mình”, và trên cả chính là lý tưởng vững chắc nơi “phên dậu” Tổ quốc, vì sự bình yên của Nhân dân.
Trong nhiều năm, thực hiện chương trình đưa văn hoá lên vùng cao, biên giới, hải đảo, các đồn biên phòng đã cử hơn 2.000 chiến sĩ làm nhiệm vụ tuyên truyền văn hoá, xoá mù chữ ở các xã, bản biên giới; thành lập hơn 400 tổ, đội tuyên truyền văn hoá, tuyên truyền vận động nhân dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá. Từ năm 1989 đến nay, các đơn vị đã tổ chức được 3.664 lớp học, xoá hơn 200 thôn bản trắng về giáo dục, góp hàng ngàn ngày công xây dựng trường lớp, hàng tỉ đồng mua tặng bàn ghế, đồ dùng học tập cho các nhà trường và các em học sinh có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Hình ảnh “Thầy giáo quân hàm xanh”, “Thầy thuốc quân hàm xanh”, “Chiến sĩ tuyên truyền văn hoá quân hàm xanh”… đã thực sự chiếm được tình cảm, sự tin yêu và quý mến của nhân dân các dân tộc, tô thắm thêm truyền thống tốt đẹp của “Bộ đội cụ Hồ” trong thời kỳ mới. Nhiều phong trào để xây dựng vùng biên cương đều được các chiến sĩ biên phòng quyết tâm thực hiện đạt kết quả thật tốt. Chẳng phải mỗi chiến sĩ đang cống hiến với tinh thần xây dựng, giúp đỡ, tri ân chính quê hương mình đó sao!
“Đồng bào các đân tộc là anh em ruột thịt”! Đối với mỗi con người, ngay khi đặt chân đến nhân gian, người ta đã được nuôi nấng và giáo dục về yêu thương đùm bọc anh em, về mỗi quan hệ ruột thịt và trách nhiệm của mỗi người trong mối quan hệ ấy. Ca dao có câu: “Anh em như thể chân tay. Rách lành đùm bọc, dở hay đỡ đần”. Rõ ràng khi nhắc đến mối quan hệ ruột thịt người ta đều nhấn mạnh việc yêu thương đùm bọc, việc gắn bó giúp đỡ nhau không còn dừng ở trách nhiệm mà đó chính là nhu cầu tình cảm của mỗi người. Với mỗi người lính biên phòng, nơi đóng quân thường là những vùng biên cương xa xôi, xa đường làng xóm cũ, xa bố mẹ anh chị em vốn có. Hành trang họ đến với biên cương chỉ có lý tưởng và quyết tâm vì sự bình yên biên giới. Nhưng mỗi người lính không đơn lẻ, họ đến với biên cương trong sự thân ái, đoàn kết của đồng đội, trong vòng tay đón chào của nhân dân nơi đây. Có lẽ trong mỗi người lính khi đến với biên giới là đến nơi hiện thực hóa lý tưởng thiêng liêng của cuộc đời họ. Và lẽ dĩ nhiên người ta không nghĩ xa xôi là “đi biên giới” mà ý niệm trong tim luôn là “về với vùng biên”, đúng như những vần thơ của Chế Lan Viên:
“Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ
Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa
Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa
Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa”
Nhiệm vụ với mỗi người lính thân thuộc khi về nhà, sống ở quê hương và nơi đó Nhân dân chính là anh em ruột thịt. Về quyết tâm chiến đấu, khi chiến đấu vì tình ruột thịt sức mạnh sẽ được nâng lên gấp bội lần. Lịch sử dân tộc đã ghi dấu ấn những trang sử hào hùng của tình cảm ruột thịt hai miền Nam - Bắc trong những năm kháng chiến chống Mỹ. Không chỉ là mối tình hậu phương - tiền tuyến mà mỗi người lính, mỗi người dân trên mọi trận tuyến đều cố gắng hết mình vì người anh em ruột thịt của mình. Mọi miền Tổ quốc thi đua với các khẩu hiểu: “Miền Nam không tiếc máu, miền Bắc không tiếc mồ hôi”. “Tất cả cho tiền tuyến”, “Tất cả vì miền Nam ruột thịt”. Năm 1968, khi Mỹ tiếp tục leo thang bắn phá hậu phương miền Bắc, người anh em miền Nam đã có cuộc tổng tấn công nổi dậy đầy oai hùng, bất khuất bên cạnh mục tiêu làm đảo lộn chiến lược của Mỹ khi đánh vào đô thị còn vì một nghĩa vụ thiêng liêng với ruột thịt của mình: “Miền Bắc gọi - miền Nam trả lời”. Đối với miền Nam thành đồng tổ quốc, miền Bắc đã giữ một lòng thủy chung, son sắt: tất cả vì miền Nam thân yêu! 21 năm ròng, miền Bắc đã dành cho miền Nam tất cả những gì thiêng liêng và tốt đẹp nhất của chủ nghĩa xã hội. Hậu phương miền Bắc xã hội chủ nghĩa là nguồn sức mạnh tinh thần của tiền tuyến. Đằng đẵng những tháng năm rầm trời bom đạn ấy, những người mẹ, người vợ, người chị, người em của họ đã kiên nhẫn chịu đựng thiếu thốn, vất vả và gian lao, “ba đảm đang” cho người thân yên lòng ra trận. Có lẽ, sẽ không thể tìm thấy ở đâu trên thế giới có được mối quan hệ bền chặt, thủy chung giữa hậu phương và tiền tuyến như cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc Việt Nam. Nhân dân hai miền đã sống, chiến đấu, thủy chung son sắt vì tình cảm ruột thịt, vì là anh em của mẹ hiền Việt Nam.
Ngày nay, trên mỗi chặng biên cương, những người lính biên phòng khi họ xác định đồng bào các dân tộc là anh em ruột thịt, họ sẵn sàng chiến dấu để bảo vệ mối tình ruột thịt ấy mà không quản thiệt hơn. Cũng trong chính mối quan hệ ấy, mỗi người lính thực sự là con của dân làng, được nhân dân tin yêu, góp sức cùng xây dựng biên giới yên bình, toàn vẹn và vững mạnh.
Câu phương châm “đồn là nhà, biên giới là quê hương, đồng bào các dân tộc là anh em ruột thịt” đã gợi lên những hình ảnh thân thuộc mà lại rất đỗi quan trọng đối với mỗi người lính. Đây là những điều hiện hữu trong cuộc sống hằng ngày của mỗi chiến sĩ cũng là để nhắc họ không giây phút nào quên nhiệm vụ của cuộc đời mình. Đồng thời câu phương châm cũng chỉ rõ con đường thành công của mỗi người lính biên phòng trong mối quan hệ rất biện chứng: Để hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ vững chắc biên cương, chỉ có thể thực hiện khi chắc chắn coi “đồn là nhà, biên giới là quê hương, đồng bào các dân tộc là anh em ruột thịt”. Khi mỗi chiến sĩ yêu công việc, nhiệm vụ, lý tưởng của mình. Yêu vùng biên cương mình đang chiến đấu và cống hiến. Yêu màu áo xanh biên phòng dạn dày sương gió, yêu nếp nhà, anh em và quê hương mình, chẳng phải là cuộc đời đã rất vẹn tròn đủ đầy đó thôi. Và đương nhiên rồi: Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương!
LÊ THỊ HIỆP
[1] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII. Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr 147, 148.