Ngày 15/08/2021321
Biên giới quốc gia và bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ quốc gia luôn là mối quan tâm hàng đầu của bất cứ quốc gia nào trên thế giới. Lãnh thổ quốc gia là yếu tố quan trọng nhất, là không gian cần thiết và là cơ sở tồn tại của một quốc gia, cùng với cư dân và chính quyền là 3 yếu tố cơ bản của một quốc gia độc lập, có chủ quyền. Lịch sử thế giới từ khi có đối kháng giai cấp đến nay cho thấy, các cuộc chiến tranh xảy ra giữa các nước, các tập đoàn thống trị, chủ yếu là để tranh giành quyền thống trị đất đai, tài nguyên, cư dân…, và những quốc gia mạnh hơn giành ưu thế sau mỗi cuộc xung đột, chiến tranh. Trong thế giới hiện đại, chủ quyền biên giới quốc gia không những được thể hiện trên đất liền mà còn được thể hiện cả trên không, trên biển, dưới lòng đất, dưới đáy biển theo các chế độ pháp lý được xác định bởi Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 và các quy phạm pháp luật của công pháp quốc tế khác. Cũng chính vì vậy, hiện nay đang tồn tại nhiều khu vực tranh chấp lãnh thổ, chủ quyền trên biển, đảo giữa các quốc gia, là nguy cơ tiềm ẩn dẫn đến xung đột vũ trang hoặc chiến tranh, gây ra những bất ổn trong từng khu vực và trên thế giới, ảnh hưởng đến an ninh khu vực và toàn cầu.
Việt Nam là một quốc gia có vị trí địa - chính trị - chiến lược quan trọng trong khu vực, có đường biên giới trên đất liền dài 4.510km và 3.260km bờ biển với một vùng biển rộng hơn 1 triệu km2 với khoảng 3.000 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Biên giới trên đất liền, Việt Nam giáp 3 nước: tuyến biên giới phía Bắc giáp Trung Quốc dài 1.306km; tuyến biên giới phía Tây giáp Lào dài 2.067km; tuyến biên giới phía Tây Nam giáp Cam-pu-chia dài 1.137km. Vùng biển và thềm lục địa của Việt Nam tiếp giáp với 9 nước và vùng lãnh thổ. Vấn đề quản lý, bảo vệ biên giới hiện nay còn nhiều phức tạp, cả biên giới trên đất liền và ranh giới trên biển. Đối với tuyến biên giới trên đất liền, giữa ta với Trung Quốc và Lào đã hoàn chỉnh xong việc phân giới, cắm mốc biên giới, nhưng trên tuyến biên giới Việt Nam - Cam-pu-chia vẫn còn một số khu vực hai bên chưa thống nhất nên chưa hoàn thành việc phân giới, cắm mốc.
Về ranh giới trên biển, giữa Việt Nam với 5 nước và vùng lãnh thổ (Đài Loan) đang tồn tại tranh chấp chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa; Việt Nam và Trung Quốc tranh chấp chủ quyền ở quần đảo Hoàng Sa. Với các nước khác, đã cơ bản đạt thỏa thuận về phân định các vùng chồng lấn trên biển [1]. Quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về giải quyết những bất đồng còn tồn tại về biên giới trên bộ và giải quyết tranh chấp trên biển là: “thực hiện đấu tranh toàn diện, phát huy sức mạnh tổng thể, bằng nhiều biện pháp với tinh thần hết sức bình tĩnh, tỉnh táo, kiềm chế, kiến quyết, kiên trì, tránh xung đột vũ trang” [2, tr. 2], “kiên quyết bảo vệ chủ quyền đất nước, đồng thời phải giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển” [3, tr. 2], xây dựng biên giới hòa bình, ổn định, hợp tác giữa các nước.
Điều 1 và 2, trong Pháp lệnh Bộ đội Biên phòng (BĐBP) năm 1997, quy định “Bộ đội Biên phòng Việt Nam là lực lượng vũ trang nhân dân của Đảng, của Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là một thành phần thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam, làm nòng cốt, chuyên trách quản lý, bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh, trật tự biên giới quốc gia trên đất liền, các hải đảo, vùng biển và tại các cửa khẩu theo phạm vi, nhiệm vụ do pháp luật quy định và là một lực lượng thành viên trong khu vực phòng thủ tỉnh, huyện biên giới” [4], “Bộ đội Biên phòng đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, mà trực tiếp là Quân ủy Trung ương, sự thống lĩnh của Chủ tịch nước, sự thống nhất quản lý của Chính phủ và sự quản lý, chỉ huy của Bộ Quốc phòng” [5].
Từ ngày thành lập (3/3/1959) đến nay, lúc đầu mang tên Công an nhân dân vũ trang, đặt dưới sự lãnh đạo, quản lý của Bộ Công an, đến cuối năm 1979 đổi tên là BĐBP, chuyển về Bộ Quốc phòng. Trong những năm qua, BĐBP cũng đã nhiều lần chuyển qua, chuyển lại giữa Bộ Quốc phòng, Bộ Nội vụ, Bộ Công an. Từ năm 1995 đến nay, chuyển hẳn về Bộ Quốc phòng lãnh đạo, quản lý. Qua các thời kỳ lịch sử, BĐBP đã phát triển ngày càng vững mạnh, tổ chức ngày càng thống nhất, đến nay, BĐBP được tổ chức thành 3 cấp: cấp Bộ Tư lệnh, cấp bộ chỉ huy BĐBP tỉnh (thành phố) và cấp đồn biên phòng.
Từ năm 1995 đến nay, BĐBP do Bộ Quốc phòng lãnh đạo, quản lý và chỉ huy đã phát huy hết khả năng, trách nhiệm và hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó. Bên cạnh thực hiện chức năng làm nòng cốt, chuyên trách trong quản lý, bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia, BĐBP còn thực hiện 3 chức năng của quân đội nhân dân: chức năng chiến đấu, chức năng công tác và chức năng sản xuất. Với đặc thù nhiệm vụ, quản lý và bảo vệ biên giới trên đất liền, trên biển, BĐBP luôn được sự lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy trực tiếp, thường xuyên của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, đã bảo vệ và giữ vững chủ quyền, biên giới quốc gia, giữ gìn trật tự, an ninh biên giới, cùng với các nước láng giềng duy trì đường biên giới hòa bình, hữu nghị, vững chắc.
Để đáp ứng yêu cầu bảo vệ vững chắc chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh biên giới, xây dựng, quản lý biên giới quốc gia trong tình hình mới; thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được pháp luật quy định, cần phải xây dựng BĐBP trên một số nội dung sau:
- Xây dựng BĐBP ổn định, vững mạnh về tổ chức
Từ năm 1995, BĐBP do Bộ Quốc phòng quản lý và luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ, vì vậy BĐBP nên tiếp tục do Bộ Quốc phòng lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy để phát huy những thành quả đã đạt được và tiếp tục bảo vệ vững chắc chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia trong tình hình mới.
Tổ chức BĐBP theo 3 cấp như hiện nay là hợp lý, tuy nhiên về tổ chức cụ thể, còn một số bất cập như: nhiều đầu mối trung gian, lực lượng ở cơ quan, phục vụ, bảo đảm đông, lực lượng trực tiếp làm nhiệm vụ ở các đồn, trạm còn mỏng, nhất là trên tuyến biên giới đất liền, tuyến biển, cửa khẩu quốc tế; tổ chức lực lượng dàn trải, chưa tập trung cho những khu vực biên giới, vùng trọng điểm; trang bị, vũ khí còn yếu, thiếu, chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới… Do vậy, BĐBP cần phải sắp xếp lại theo hướng tinh gọn các đầu mối trung gian, ưu tiên cho cơ sở các đồn, trạm, để ổn định tổ chức.
Bộ đội Biên phòng vừa là lực lượng thực hiện các nhiệm vụ thuộc chuyên môn, nghiệp vụ, vừa thực hiện nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, trong đó yêu cầu về chuyên môn, nghiệp vụ đặt lên hàng đầu. Trong xây dựng lực lượng, BĐBP cần xây dựng đội ngũ cán bộ, nhân viên chuyên môn, nghiệp vụ vững chắc, nắm vững địa bàn, làm tốt công tác dân vận. Trong công tác tuyển chọn thanh niên nhập ngũ hàng năm, ưu tiên tuyển chọn thanh niên trên địa bàn tỉnh, huyện nơi đóng quân, những thanh niên tình nguyện phục vụ lực lượng lâu dài để bồi dưỡng nghiệp vụ, phát triển cao hơn. Ưu tiên chọn lựa từ quân nhân nghĩa vụ sang quân nhân chuyên nghiệp sau khi hết thời hạn phục vụ và có nguyện vọng phục vụ quân đội lâu dài. Thời gian huấn luyện chiến sĩ mới đối với BĐBP cũng nên dài hơn so với chương trình huấn luyện chung cho chiến sĩ mới của toàn quân, bổ sung thêm chương trình huấn luyện một số nội dung về chuyên môn, nghiệp vụ ngành thiết yếu, để khi về đơn vị, bộ đội làm nhiệm vụ được ngay.
- Xây dựng BĐBP vững mạnh về chính trị
Xây dựng BĐBP vững mạnh về chính trị để BĐBP thực sự là lực lượng chiến đấu trung thành và tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân, xứng đáng là lực lượng nòng cốt, chuyên trách trong quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia. Nội dung xây dựng BĐBP vững mạnh về chính trị cần tập trung vào:
Xây dựng, nâng cao chất lượng chính trị - tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng BĐBP, làm cho mọi cán bộ, chiến sĩ, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên quốc phòng có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định với các nguyên tắc, lập trường, quan điểm, đường lối của Đảng; tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước xã hội chủ nghĩa và nhân dân, nắm chắc và có khả năng vận dụng pháp luật trong nước và luật pháp quốc tế vào nhiệm vụ giữ vững chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia trong mọi tình huống. Luôn luôn quán triệt sâu sắc, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện nghiêm túc các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, nhất là Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng, Nghị quyết lần thứ IX của Đảng bộ quân đội. Nhận thức rõ tình hình, nhiệm vụ, cảnh giác với những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, kiên quyết đấu tranh với các loại tội phạm, quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới quốc gia. Chủ động và kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, “phi chính hóa quân đội” của các thế lực thù địch, các thủ đoạn của các loại tội phạm. Tích cực đấu tranh chống những quan điểm sai trái, những biểu hiện cơ hội, trục lợi, thực dụng, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, có sức miễn dịch tốt để phòng chống sự xâm nhập, lây lan của những hiện tượng tiêu cực trong nội bộ.
Xây dựng các tổ chức đảng trong BĐBP thực sự trong sạch vững mạnh, có năng lực lãnh đạo toàn diện và sức chiến đấu cao, là hạt nhân lãnh đạo và đoàn kết, phát huy hiệu lực cơ chế lãnh đạo của Đảng trong toàn đảng bộ cũng như các tổ chức cơ sở đảng. Đẩy mạnh xây dựng các tổ chức cơ sở đảng trong sạch vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các chi ủy, chi bộ. Nâng cao chất lượng sinh hoạt của các cấp ủy và chi bộ, nhất là sinh hoạt ra nghị quyết lãnh đạo, sinh hoạt tự phê bình và phê bình. Gắn xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh với xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện. Tăng cường rèn luyện, giáo dục đội ngũ cán bộ đảng viên, phát huy tính tiền phong, gương mẫu của người cán bộ, đảng viên, thực hiện sâu rộng việc “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, đẩy mạnh đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát trong Đảng, chú trọng kiểm tra, giám sát trong thực hiện và chấp hành các nghị quyết của Đảng, Điều lệ Đảng, 19 điều đảng viên không được làm, các nguyên tắc tổ chức và hoạt động, quy chế làm việc, chế độ công tác…, nhất là trên các lĩnh vực dễ phát sinh tiêu cực. Xử lý nghiêm khắc những hiện tượng vi phạm nguyên tắc, ý thức đảng, ý thức tổ chức kỷ luật kém, thiếu trách nhiệm trong công tác… góp phần tích cực tạo được sự chuyển biến vững chắc về đoàn kết, dân chủ và kỷ luật trong tổ chức đảng, trong cơ quan, đơn vị.
Xây dựng đội ngũ cán bộ BĐBP đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong thời kỳ mới. Quán triệt và tổ chức thực hiện nghiêm túc nguyên tắc: Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, tập thể cấp ủy đảng trực tiếp quyết định mọi vấn đề về cán bộ theo phân cấp quản lý. Việc sắp xếp, bố trí, đề bạt cán bộ phải được lựa chọn hợp lý, đáp ứng cả trước mắt và lâu dài, chú ý cả đức và tài, thực sự dân chủ trong công tác cán bộ. Xây dựng và tổ chức tốt quy hoạch cán bộ, nhất là cán bộ chủ trì, tạo nhiều nguồn, nhiều độ tuổi, có nguồn kế tiếp và kế cận vững chắc, chú ý việc tạo nguồn cán bộ ở các vùng dân tộc, vùng sâu, vùng xa. Thực hiện đào tạo toàn diện, chuyên sâu cho đội ngũ cán bộ và các lực lượng làm nhiệm vụ chuyên môn, nghiệp vụ. Chủ động tuyển chọn nguồn ở những lĩnh vực cần thiết, thực hiện đồng bộ, thống nhất các chính sách để thu hút cán bộ đến công tác ở những vùng xa, khó khăn, gian khổ.
Xây dựng các cơ quan và đơn vị trong BĐBP vững mạnh toàn diện. Xây dựng các cơ quan, đơn vị an toàn gắn với xây dựng địa bàn an toàn, nhất là an toàn về chính trị. Nâng cao công tác bảo vệ chính trị nội bộ, phòng gian, giữ bí mật, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn cài cắm, xâm nhập, móc nối để phá hoại, làm mất trật tự khu vực biên giới. Thường xuyên nắm tình hình mọi mặt, kịp thời phát hiện và đấu tranh với các âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, các loại tội phạm, bảo vệ vững chắc chủ quyền và giữ gìn an ninh biên giới.
Tăng cường quan hệ, gắn bó máu thịt với nhân dân, phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương và các lực lượng khác trên địa bàn giữ vững chủ quyền, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở khu vực biên giới. Tích cực đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác dân vận và các phương thức tiến hành công tác dân vận, góp phần tăng cường đoàn kết quân dân, xây dựng thế trận lòng dân vững chắc. Ra sức giúp nhân dân xóa đói, giảm nghèo, xóa mù chữ, phòng chống và khắc phục những thảm họa thiên tai, phát triển kinh tế - xã hội, ổn định và nâng cao chất lượng cuộc sống, nhất là ở những vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc ít người, vùng đồng bào có đạo…, góp phần xây dựng nền biên phòng toàn dân, thế trận biên phòng toàn dân vững mạnh trong thế trận quốc phòng, an ninh ở khu vực biên giới.
Thực hiện tốt công tác đối ngoại biên phòng, tăng cường mối quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước tiếp giáp. Trong quan hệ đối ngoại biên phòng, cần quán triệt yêu cầu vừa hợp tác vừa đấu tranh, kiên trì xây dựng biên giới hòa bình, hữu nghị, tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau. Giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia, đồng thời tăng cường tình hữu nghị với nhân dân nước tiếp giáp. Phối hợp quản lý, bảo vệ an toàn hệ thống mốc quốc giới và các dấu hiệu cố định đường biên giới. Thực hiện đúng các hiệp ước, hiệp định đã ký kết, đảm bảo thuận lợi cho giao lưu, hợp tác quốc tế, củng cố tình đoàn kết, hữu nghị giữa nhân dân hai bên biên giới. Hợp tác giữ gìn an ninh, trật tự ở biên giới, phòng và chống các loại tội phạm, ngăn chặn âm mưu gây chia rẽ, gieo rắc hận thù dân tộc của các thế lực thù địch. Chủ động trao đổi, hợp tác, bàn bạc để giải quyết những vấn đề nảy sinh trên tinh thần đoàn kết, hữu nghị, thông cảm, hiểu biết lẫn nhau, không để phát sinh căng thẳng, xung đột quân sự làm mất ổn định biên giới quốc gia.
- Bổ sung, mua sắm các trang, thiết bị phục vụ cho công tác biên phòng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới
Trước những yêu cầu, nhiệm vụ quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia trong tình hình mới, những vũ khí, trang, thiết bị hiện nay của BĐBP còn thiếu, lạc hậu so với công nghệ hiện nay, làm cho BĐBP gặp khó khăn trong công tác và tác nghiệp nghiệp vụ chuyên môn. Trước mắt, cần tập trung mua sắm các loại trang, thiết bị hiện đại trong trinh sát, quản lý và bảo vệ biên giới đất liền, biên giới biển để có thể từng bước trang bị cho các đồn ở dọc theo biên giới trên đất liền, các đồn ở các đảo, ven biển, để nâng cao chất lượng bám nắm tình hình, hoạt động ở biên giới đạt hiệu quả cao. Mua sắm trang, thiết bị cho các đồn cửa khẩu làm nhiệm vụ quản lý xuất, nhập cảnh, có khả năng kết nối với Bộ Công an để nắm chắc, nhận dạng các loại tội phạm trong việc xuất, nhập cảnh qua biên giới, kịp thời phát hiện, bắt giữ tội phạm có lệnh truy nã, cấm xuất cảnh…
Chú trọng đầu tư, mua sắm các loại trang bị cho các hải đội biên phòng các loại tàu, xuồng tuần tra cao tốc, phương tiện trinh sát, quan sát, thông tin để phục vụ tốt nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát từ vùng lãnh hải trở vào, quản lý và hỗ trợ ngư dân trong các hoạt động ven biển. Tiếp tục nghiên cứu, mua sắm các loại vũ khí, trang bị phù hợp với điều kiện hoạt động chiến đấu của BĐBP, bảo đảm gọn, nhẹ, cơ động và hiệu quả. Nghiên cứu, bổ sung biên chế vũ khí hỏa lực đi cùng (cối 82mm, cối 100mm, DKZ 75, 82mm, SMPK 12,7mm) cho các đồn biên phòng ở biên giới đất liền, trên các đảo, huấn luyện cho bộ đội sử dụng thành thạo các loại vũ khí, trang bị, khi xảy ra tác chiến có thể giữ vững đồn, phối hợp chiến đấu với lực lượng trong khu vực phòng thủ.
Bộ đội Biên phòng được Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó là lực lượng nòng cốt, chuyên trách trong xây dựng, quản lý và bảo vệ biên giới quốc gia. Đây là nhiệm vụ thường xuyên và lâu dài để giữ gìn, xây dựng giang sơn của ông cha ta để lại qua mấy ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước. Trong thời kỳ mới, công cuộc xây dựng, quản lý và bảo vệ biên giới quốc gia có nhiều phát triển mới. Mặc dù, chúng ta đã phân giới cắm mốc phần lớn đường biên giới trên bộ, nhưng vẫn còn nhiều vấn đề phức tạp phải giải quyết, mặt khác đường ranh giới trên biển còn khá phức tạp. Do vậy, BĐBP cần được xây dựng ngày càng vững mạnh về tổ chức, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, chiến sĩ, tăng cường vũ khí, trang bị để đáp ứng yêu cầu xây dựng, quản lý và bảo vệ biên giới quốc gia trong tình hình mới.
hiếu tướng, PGS. TS Nguyễn Hồng Quân
Tài liệu tham khảo
[1]. Hiệp định vùng nước lịch sử chung giữa Việt Nam - Cam-pu-chia ngày 7/7/1982; Hiệp định phân định biển trong vịnh Thái Lan giữa Việt Nam và Thái Lan ngày 9/8/1997; Hiệp định phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa và Hiệp định hợp tác nghề cá trong vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc ngày 25/12/2000; Hiệp định phân định thềm lục địa giữa Việt Nam và In-do-ne-si-a ngày 26/6/2003; Hiệp định hợp tác nghề cá giữa Việt Nam và Phi-lip-pin ngày 28/6/2010; Bản ghi nhớ giữa Việt Nam và Ma-lay-si-a về việc khai thác chung trong vùng chồng lấn thềm lục địa (trong vịnh Thái Lan) ngày 5/6/1992.
[2], [3]. Nguyễn Tấn Tuân, “Kiên quyết bảo vệ chủ quyền Tổ quốc, đồng thời phải giữ vững môi trường hòa bình, ổn định”, Báo Quân đội nhân dân, số ra ngày 2/7/2014.
[4], [5]. Điều 1 và Điều 2, Pháp lệnh BĐBP năm 1997.