(069). 518.055

Một số vấn đề trong các vụ án mua bán người do Bộ đội Biên phòng thụ lý

Ngày 15/08/2021220

Những năm gần đây, tình trạng mua bán người diễn biến ngày càng phức tạp, nghiêm trọng và có xu hướng gia tăng về số lượng, tinh vi, xảo quyệt về thủ đoạn hoạt động; nhiều trường hợp có tổ chức chặt chẽ và có tính chất xuyên quốc gia, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Theo điều tra khảo sát của Bộ Công an chỉ tính từ năm 2004 đến 2010, cả nước có gần 4.000 đối tượng, trong đó có khoảng 250 đường dây, với gần 700 đối tượng có biểu hiện hoạt động mua bán người, xác định 51 tuyến và 182 địa bàn trọng điểm mà bọn tội phạm thường xuyên hoạt động, Đó là những tiềm ẩn không chỉ phát sinh, phát triển tội phạm mua bán người mà bọn tội phạm còn lợi dụng để đưa người di cư trái phép, môi giới lấy chồng người nước ngoài, xuất khẩu lao động trái phép, đưa người ra nước ngoài bán nội tạng... 

Các cơ quan chức năng đã phát hiện được 1.949 vụ mua bán người với 3.543 đối tượng, lừa bán 4.793 nạn nhân (chủ yếu là phụ nữ và trẻ em), tập trung chủ yếu trên tuyến biên giới Việt Nam - Trung Quốc (65% tổng số vụ), tuyến Việt Nam - Campuchia (11%), tuyến biên giới Việt Nam - Lào (6,5%), số còn lại qua đường hàng không và đường biển; trong đó lực lượng công an và BĐBP đã điều tra, khám phá 1.650 vụ, bắt 2.640 đối tượng, triệt xoá 540 đường dây; giải cứu được 1.450 nạn nhân, tiếp nhận hồi hương, tái hoà nhập cộng đồng cho gần 3.290 nạn nhân bị mua bán từ nước ngoài trở về. Nạn nhân của những đường dây mua bán người thường tập trung vào các đối tượng phụ nữ ở nông thôn, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em ở vùng cao, vùng biên giới có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có việc làm, thiếu hiểu biết hoặc gặp trắc trở về tình cảm và chủ yếu là các trường hợp nạn nhân bị lừa bán, thậm chí có trường hợp nạn nhân bị người thân lừa bán. Nhận thức rõ hậu quả của tội phạm mua bán người đối với các nạn nhân là rất nặng nề cả về thể chất và tinh thần, ngày 29/3/2011, Quốc hội đã ban hành Luật số 66/2011/QH12 Luật phòng, chống mua, bán người, trong đó quy định những vấn đề về chống kỳ thị, phân biệt đối xử với nạn nhân; bảo vệ và hỗ trợ nạn nhân; chăm sóc, giúp đỡ nạn nhân là thành viên của gia đình để họ hòa nhập cuộc sống gia đình và cộng đồng... và ngày 13/8/2012 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 62/2012/NĐ-CP có hiệu lực từ 10/10/2012 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phòng, chống mua bán người. Cụ thể quy định về “Căn cứ xác định nạn nhân bị mua bán và bảo vệ an toàn cho nạn nhân, người thân của họ” áp dụng đối với các nạn nhân của các hành vi mua bán người, người thân thích của nạn nhân, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc xác định nạn nhân và bảo vệ cho nạn nhân, người thân thích của họ. Trong đó, quy định về thẩm quyền, trách nhiệm của BĐBP; do đó các đơn vị BĐBP khi giải quyết các vấn đề có liên quan đến nạn nhân trong các vụ việc, vụ án mua bán người cần thực hiện theo đúng quy định của pháp luật và Nghị định số 62/2012/NĐ-CP về căn cứ xác định nạn nhân và bảo vệ an toàn cho nạn nhân, người thân thích của nạn nhân, cụ thể như sau:

- Về đối tượng áp dụng

Các quy định của Nghị định số 62/2012/NĐ-CP được áp dụng đối với nạn nhân của một trong các hành vi quy định tại các Khoản 1, 2 và 3 Điều 3 Luật Phòng, chống mua bán người (hành vi mua bán người theo quy định tại Điều 119 và Điều 120 của Bộ luật Hình sự; hành vi chuyển giao hoặc tiếp nhận người để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy các bộ phận cơ thể hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác; hành vi tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy các bộ phận cơ thể hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác hoặc để thực hiện các hành vi: mua bán người theo quy định tại Điều 119 và Điều 120 của Bộ luật Hình sự; hành vi chuyển giao hoặc tiếp nhận người để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy các bộ phận cơ thể hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác); người thân thích của nạn nhân; cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc xác định nạn nhân và bảo vệ an toàn cho nạn nhân, người thân thích của họ.

- Về căn cứ xác định nạn nhân

Theo Điều 5 của Nghị định số 62/2012/NĐ-CP, một người được xác định là nạn nhân khi họ là đối tượng của một trong những hành vi sau: mua bán người (coi người như một loại hàng hóa để trao đổi bằng tiền hoặc lợi ích vật chất khác); chuyển giao hoặc tiếp nhận để ép buộc bán dâm, ép buộc làm đối tượng sản xuất băng, đĩa hình, sách, tranh, ảnh, lịch và những hình thức khác có nội dung tuyên truyền lối sống đồi trụy, khiêu dâm, ép buộc biểu diễn cho người khác xem thân thể mình với mục đích kích động tình dục, làm nô nệ tình dục, cưỡng bức lao động, lấy các bộ phận cơ thể một cách bất hợp pháp, ép buộc đi ăn xin, ép buộc làm vợ hoặc chồng, ép buộc đẻ con trái ý muốn của họ, ép buộc thực hiện hành vi vi phạm pháp luật và vì mục đích vô nhân đạo khác; các hành vi tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người để thực hiện các hành vi  trên hoặc vì các mục đích vô nhân đạo khác.

- Về người thân thích của nạn nhân

Theo Khoản 2 Điều 6 của Nghị định số 62/2012/NĐ-CP, người thân thích của nạn nhân, bao gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, cha kế, mẹ kế, con đẻ, con nuôi, cha mẹ bên vợ hoặc bên chồng, anh ruột, chị ruột, em ruột, ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, cháu nội, cháu ngoại của nạn nhân.

- Về quyền và nghĩa vụ của nạn nhân và người thân thích của nạn nhân:

Theo Điều 3 của Nghị định số 62/2012/NĐ-CP, nạn nhân, người thân thích của họ có quyền: Đề nghị cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ khi tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản bị xâm hại hoặc bị đe dọa xâm hại; từ chối các biện pháp bảo vệ do cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng. Đồng thời, có nghĩa vụ: Chấp hành đầy đủ các yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ khi được bảo vệ; tự chịu trách nhiệm về an  toàn của bản thân khi từ chối biện pháp bảo vệ hoặc không chấp hành đầy đủ các yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ.

- Về tài liệu, chứng cứ xác định nạn nhân

Việc xác định nạn nhân phải dựa vào các nguồn tài liệu, chứng cứ gồm: tài liệu, chứng cứ do cơ quan tiến hành tố tụng cung cấp; thông tin, tài liệu do cơ quan giải cứu nạn nhân cung cấp; thông tin, tài liệu do cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài cung cấp; tài liệu do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền nước ngoài cung cấp; lời khai, tài liệu do nạn nhân cung cấp; lời khai, tài liệu do người thực hiện hành vi quy định tại Khoản 1 Điều 5 Nghị định số 62/2012/NĐ-CP cung cấp; lời khai, tài liệu do những người biết sự việc cung cấp; các thông tin, tài liệu hợp pháp khác.

Trường hợp không chứng minh được một người có phải là nạn nhân hay không, sau khi xác minh lý lịch, thời gian vắng mặt khỏi địa phương nơi họ cư trú, lý do vắng mặt phù hợp với lời khai của họ về việc là đối tượng của một trong những hành vi quy định tại Khoản 1 Điều 5 Nghị định số 62/2012/NĐ-CP (về căn cứ xác định nạn nhân) thì xem xét các căn cứ sau để xác nhận họ là nạn nhân: Người đó được phát hiện, giải cứu cùng với nạn nhân khác; người đó đã có thời gian chung sống cùng với nạn nhân tại nơi các đối tượng thực hiện hành vi quy định tại Khoản 1 Điều Nghị định số 62/2012/NĐ-CP giam giữ, quản lý và bị đối xử như những nạn nhân này; biểu hiện về thể chất và tinh thần: có dấu hiệu bị bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, bị đối xử tàn tệ, bị thương tích, sợ hãi, hoảng loạn, trầm cảm, ốm yếu; thời gian người đó rời khỏi địa phương nơi cư trú thì thân nhân của họ trình báo cơ quan chức năng về việc họ bị mất tích hoặc là đối tượng của một trong những hành vi quy định tại Khoản 1 Điều Nghị định số 62/2012/NĐ-CP; những thông tin hợp pháp khác giúp có cơ sở để tin rằng người đó là nạn nhân.

- Về biện pháp bảo vệ

Khi đã xác định được nạn nhân, người thân thích của nạn nhân; tùy từng trường hợp cụ thể và điều kiện thực tế, người có thẩm quyền của BĐBP có thể áp dụng một hoặc nhiều biện pháp bảo vệ sau đây để bảo đảm an toàn cho nạn nhân, người thân thích của họ (sau đây gọi chung là người được bảo vệ): giữ bí mật về việc cung cấp tài liệu, chứng cứ của người được bảo vệ; giữ bí mật các thông tin về đời tư, đặc điểm nhân dạng, nơi cư trú, làm việc, học tập và các thông tin khác có liên quan đến người được bảo vệ; bố trí lực lượng bảo vệ tại nơi cư trú, làm việc, học tập, đi lại của người được bảo vệ, tại phiên tòa và những nơi cần thiết khác; hạn chế phạm vi đi lại, giao tiếp của người được bảo vệ; bố trí nơi tạm lánh cho người được bảo vệ; bố trí nơi ở, nơi làm việc, học tập mới cho người được bảo vệ; áp dụng các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn hành vi xâm hại hoặc đe dọa xâm hại đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và tài sản của người được bảo vệ theo quy định của pháp luật.

- Về thẩm quyền bảo vệ của Bộ đội Biên phòng

Theo Điểm c Khoản 1, 2 Điều 8 Nghị định số 62/2012/NĐ-CP, BĐBP có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ và người có thẩm quyền ra quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ trong BĐBP bao gồm: Cục trưởng Cục Phòng, chống tội phạm ma túy BĐBP, đoàn trưởng đoàn đặc nhiệm thuộc Cục Phòng, chống tội phạm ma túy BĐBP, Chỉ huy trưởng BĐBP tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, trưởng đồn biên phòng, hải đoàn trưởng hải đoàn biên phòng, chỉ huy trưởng biên phòng cửa khẩu cảng.

Những người trên của BĐBP có thẩm quyền ra quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ quy định tại các Khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6 và 7 Điều 7 Nghị định 62/2012/NĐ-CP đối với nạn nhân, người thân thích của họ trong vụ việc, vụ án hình sự do đơn vị mình thụ lý. Khi vắng mặt thì được quyền ủy nhiệm cho một cấp phó thực hiện các quyền hạn của mình và cấp phó được ủy nhiệm phải chịu trách nhiệm trước cấp trưởng về nhiệm vụ được giao.

Người có thẩm quyền ra quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ của BĐBP có trách nhiệm tổ chức thực hiện biện pháp bảo vệ an toàn cho nạn nhân, người thân thích của họ và có nhiệm vụ, quyền hạn sau: Áp dụng biện pháp bảo vệ khi có căn cứ cho rằng nạn nhân, người thân thích của họ bị xâm hại hoặc bị đe dọa xâm hại đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản. Được lựa chọn áp dụng một hoặc nhiều biện pháp bảo vệ theo thẩm quyền. Yêu cầu người được bảo vệ chấp hành các quy định để bảo đảm an toàn cho họ trong quá trình bảo vệ. Yêu cầu chính quyền địa phương, cơ quan, tổ chức, cá nhân phối hợp trong việc áp dụng các biện pháp bảo vệ. Giữ bí mật việc bảo vệ an toàn cho nạn nhân, người thân thích của họ. Lập, quản lý, lưu trữ và khai thác hồ sơ bảo vệ theo chế độ tài liệu mật.

- Về trình tự, thủ tục áp dụng các biện pháp bảo vệ của BĐBP đối với nạn nhân và người thân thích của nạn nhân:

Theo Điều 10 Nghị định số 62/2012/NĐ-CP, trình tự, thủ tục áp dụng các biện pháp bảo vệ của BĐBP đối với nạn nhân và người thân thích của họ được thực hiện như sau:

+ Tổ chức, cá nhân đề nghị áp dụng biện pháp bảo vệ phải có văn bản đề nghị gửi đơn vị BĐBP. Trường hợp khẩn cấp có thể đề nghị trực tiếp hoặc qua điện thoại và các hình thức thông tin, liên lạc khác nhưng sau đó phải thể hiện bằng văn bản. Văn bản đề nghị áp dụng biện pháp bảo vệ phải ghi rõ: thời gian, địa điểm làm văn bản; họ tên, ngày, tháng, năm sinh, quê quán, nghề nghiệp, nơi cư trú của người làm văn bản; đề nghị bảo vệ cho ai; họ tên, ngày, tháng, năm sinh, quê quán, nghề nghiệp, nơi cư trú của người được đề nghị bảo vệ (nếu người làm văn bản đề nghị áp dụng biện pháp bảo vệ cho người khác); lý do đề nghị áp dụng biện pháp bảo vệ và những nội dung khác có liên quan.

+ Đơn vị BĐBP nhận được đề nghị bảo vệ phải xem xét, xác định sự cần thiết áp dụng các biện pháp bảo vệ. Trường hợp có căn cứ cho rằng nạn nhân, người thân thích của họ bị xâm hại hoặc bị đe dọa xâm hại đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản và cần phải áp dụng biện pháp bảo vệ thì ra quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ. Trường hợp xét thấy không cần thiết áp dụng biện pháp bảo vệ thì phải có văn bản trả lời tổ chức, cá nhân đề nghị bảo vệ biết rõ lý do.

+ Trong quá trình thụ lý vụ việc nếu có căn cứ cho rằng nạn nhân, người thân thích của họ bị xâm hại hoặc bị đe dọa xâm hại đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản và cần phải áp dụng biện pháp bảo vệ thì người có thẩm quyền trong BĐBP ra quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ theo thẩm quyền hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ.

Quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ phải ghi rõ: thời gian, địa điểm ra quyết định; tên đơn vị BĐBP có trách nhiệm bảo vệ; họ tên, chức vụ của người ra quyết định; họ tên, ngày, tháng, năm sinh, quê quán, nghề nghiệp, nơi cư trú của người được bảo vệ; các biện pháp bảo vệ được áp dụng; thời gian bắt đầu áp dụng biện pháp bảo vệ và những nội dung khác có liên quan đến việc bảo vệ.

+ Người có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ của BĐBP trong trường hợp khẩn cấp, có thể điều động lực lượng, phương tiện đến bảo vệ hoặc bố trí nơi tạm lánh để bảo đảm an toàn cho người được bảo vệ trước khi ra quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ. Trong quá trình bảo vệ, nếu phát sinh yêu cầu cần áp dụng thêm biện pháp bảo vệ thì ra quyết định bổ sung quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ. Khi người được bảo vệ không còn bị xâm hại, đe dọa bị xâm hại thì ra quyết định chấm dứt áp dụng biện pháp bảo vệ. Quyết định chấm dứt áp dụng biện pháp bảo vệ phải ghi rõ lý do chấm dứt biện pháp bảo vệ. Các quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ, quyết định bổ sung quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ, quyết định chấm dứt biện pháp bảo vệ phải được gửi cho người được bảo vệ, cơ quan yêu cầu áp dụng biện pháp bảo vệ và các cơ quan, đơn vị có liên quan.

- Về hồ sơ áp dụng biện pháp bảo vệ

Quá trình thực hiện trách nhiệm bảo vệ nạn nhân và người thân thích của nạn nhân, đơn vị BĐBP phải lập hồ sơ, quản lý, lưu trữ và khai thác hồ sơ bảo vệ theo chế độ tài liệu mật. Hồ sơ áp dụng biện pháp bảo vệ bao gồm: Văn bản đề nghị bảo vệ; lý lịch cá nhân của người được bảo vệ; tài liệu thể hiện người được bảo vệ bị xâm hại, có nguy cơ bị xâm hại đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản; quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ; quyết định bổ sung áp dụng biện pháp bảo vệ (nếu có); các biện pháp bảo vệ đã được áp dụng, kết quả thực hiện; quyết định chấm dứt áp dụng biện pháp bảo vệ; các văn bản, tài liệu khác có liên quan đến việc bảo vệ.

Tội phạm mua bán người là loại tội phạm mà cả loài người tiến bộ lên án, nó xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội; xâm phạm nhân phẩm, danh dự, quyền tự do của con người; đặc biệt là gây hậu quả vô cùng nghiêm trọng không chỉ trực tiếp cho nạn nhân mà còn cho cả gia đình của nạn nhân. Bảo vệ nạn nhân và người thân thích của nạn nhân trong các vụ việc, vụ án mua bán người là trách nhiệm của các cơ quan chức năng, trong đó có BĐBP. Việc nắm vững và thực hiện đúng các quy định của pháp luật về bảo vệ nạn nhân và người thân thích của nạn nhân sẽ góp phần vào việc thực hiện tốt Chương trình hành động phòng, chống tội phạm mua bán người giai đoạn 2011 - 2015 của Chính phủ; góp phần đảm bảo an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, bảo vệ quyền con người và quyền công dân.

Lê Đình Quang

Tin tức khác

Zalo phone Hotline