(069). 518.055

Một số vấn đề cơ bản của các dân tộc vùng Tây Bắc

Ngày 14/08/202111170

Tây Bắc là một phức hợp của những bồn địa lớn,nhỏ nằm xen kẹp giữa các dãy núi cao bao bọc xung quanh. Nếu tính từ phía Bắc xuống, có dãy Pu La San, Pu Đen Đin chạy từ phía khu vực thượng lưu sông Đà đến Điện Biên Phủ. Song song với chúng là dãy Pu Sam Sao chạy dọc biên giới Việt Nam - Lào.

Đặc điểm địa lý cơ bản của vùng Tây Bắc là vùng núi cao, địa hình chia cắt nhiều tầng trên một nền địa chất phức tạp và sự phân hoá khí hậu sâu sắc. Độ dốc chiếm phần lớn diện tích Tây Bắc, thoải dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam.

Khí hậu Tây Bắc khá phức tạp, mùa khô hạn kéo dài cộng với lượng gió Tây khô nóng gây khó khăn cho cây trồng và vật nuôi. Vào tháng 12  đến tháng 1 thường xuyên có sương muối và băng giá, vào đầu mùa mưa thường có gió lốc, mưa đá và lũ ống, lũ quét gây ra sự tàn phá bất thường đối với đất đai, sản xuất và đời sống.

Tất cả những khó khăn, thuận lợi của tự nhiên đều trực tiếp tác động đến đời sống kinh tế - xã hội của các cư dân vùng Tây Bắc.

 Lịch sử tộc người, dân cư, dân số, dân tộc, địa bàn cư trú các dân tộc vùng Tây Bắc.

Tây Bắc là vùng lãnh thổ không chỉ phức tạp về địa hình, có chiều dài đường biên giới giáp với Trung Quốc và Lào mà còn đa dạng về thành phần dân tộc. Theo số liệu tổng điều tra dân số ngày 1/4/1999, Tây Bắc có trên 20 dân tộc anh em với tổng dân số 82.069.8 người Trong số đó, đông nhất là dân tộc Thái 718.424 người chiếm 32% dân số trong vùng; dân tộc Mường 551.649 người chiếm 24,8%; dân tộc Kinh 462.592 người, chiếm 20,85; dân tộc Hmông 289.000 chiếm 13%; dân tộc Dao 68.791 người chiếm 3%; dân tộc Khơmú 24.845 ngưòi chiếm 1,1%; dân tộc Tày 22.713 ngươi chiếm 1%; dân tộc Xinh mun 17.985 người; dân tộc Kháng 10.114 người; dân tộc Lự 9.567 người; dân tộc Giáy 9.098 người; dân tộc La Ha 6.825 người; dân tộc Lự 4.443 người; dân tộc Hoa 3.164 người; dân tộc Mảng 2.636 người; dân tộc Cống 1.669 người; dân tộc Nùng 969 người; dân tộc Si La 800 người; dân tộc Thổ 736 người.

Sự phân bố các dân tộc vùng Tây Bắc

Một số dân tộc điển hình ở Tây Bắc sinh sống tại các tỉnh Lai Châu; Sơn La; Điện Biên được phân bố như sau:

Tỉnh Lai Châu có 20 dân tộc anh em chung sống, là tỉnh có số dân tộc thiểu số đông nhất trong 64 tỉnh, thành phố trong cả nước. Trong số đó, dân tộc Thái có số lượng đông nhất 206.001 người chiếm 35,1% dân số trong tỉnh, xếp thứ hai là dân tộc Hmông 170.460 người, chiếm 29,0%, sau đó là dân tộc Kinh 99.094 người. Ba dân tộc có dân số từ 10 nghìn đến 40 nghìn người là dân tộc Dao; Khơ mú; Hà nhì. Mười dân tộc có số dân từ 1 nghìn người đến dưới 10 nghìn người là các dân tộc: Giáy; La Hủ; Lào; Lự; Kháng; Hoa; Mảng; Cống; Xinh mun; Tày, số còn lại là các dân tộc dưới 1 nghìn người.

Tỉnh Điện Biên tính đến 12/2005 có 83.536 ngưòi, gồm nhiều dân tộc, trong số đó dân tộc Hmông có 40.571 người chiếm 48,57 %; Dân tộc Thái có 24.500 người chiếm 29,33 %.

Tỉnh Sơn La, dân tộc Thái có 48.2985 người; dân tộc Hmông 11.4578 người; dân tộc Xinh mun 1.6654 ngưòi; dân tộc Khơ mú 9950 người.

Trong bức tranh toàn cảnh của sự phân bố tộc người, chúng ta thấy tại các tỉnh Lai Châu, Điện Biên, Sơn La của Tây Bắc, dân tộc Thái và dân tộc Hmông có số dân cư trú đông nhất, đây cũng là những tỉnh được chọn làm mẫu nghiên cứu, với hai dân tộc Thái và Hmông.

 Đặc điểm kinh tế

Sản xuất nông nghiệp là hoạt động kinh tế chủ yếu của hầu hết đồng bào các dân tộc thiểu số ở Tây Bắc. Ngoài ra, họ còn chăn nuôi theo hộ gia đình, làm một số nghề thủ công, thực hiện nhiều hình thức chiếm đoạt các nguồn lợi tự nhiên sẵn có trong rừng quanh khu vực cư trú. Nhìn chung, mặc dù nền kinh tế thị trường đã phổ biến ở đồng bằng và một số khu vực miền núi nhưng về cơ bản, các dân tộc vùng Tây Bắc vẫn duy trì các phương thức sản xuất truyền thống. Tuy vậy, ở một số vùng đã có sự xuất hiện của việc phát triển cây công nghiệp, trồng cây ngô và lúa giống mới có năng suất cao, mở rộng chăn nuôi đại gia súc và chú ý phát triển nghề dệt thổ cẩm truyền thống.

Tuy nhiên, tập quán trồng trọt ở mỗi tộc người tại các vùng thung lũng, vùng rẻo giữa và vùng cao vẫn có những nét riêng biệt, bởi những cách làm ăn này đã tồn tại qua hàng nghìn năm canh tác của họ1.

+ c hoạt động kinh tế khác

Cho đến nay các tộc người sống Tây Bắc vẫn duy trì một số nghề thủ công gia đình như dệt vải, đan lát, làm mộc, làm rèn, chế tác kim loại làm trang sức, làm giấy dó. Tuy nhiên, mỗi tộc người lại có những nghề nổi trội ví dụ người Thái, người Lào, người Mường rất nổi tiếng với nghề trồng bông, dệt vải thổ cẩm; người Hmông nổi tiếng vói nghề rèn chế tác công cụ sản xuất và trồng lanh dệt vải lanh. Các công việc thủ công này thường do người phụ nữ đảm nhiệm, riêng nghề đan lát đồ gia dụng nổi tiếng của nhóm Môn - Khơme như: Khơ mu, Xinh Mun, Kháng lại chủ yếu do người đàn ông đảm nhiệm.

+ Trao đổi hàng hoá

Trao đổi hàng hoá là nhu cầu thiết yếu đã có từ lâu đời của các dân tộc thiểu số ở Tây Bắc, họ thường cùng nhau họp chợ tại trung tâm xã, huyện hoặc ngay ven đường cái. Do các tộc người đều cư trú ở vùng sâu vùng xa nên họ chỉ họp chợ 5 ngày hoặc 1 tuần 1 lần.

Đặc điểm xã hội

Thiết chế xã hội truyền thống của các tộc người cư trú ở Tây Bắc rất phong phú, điều này phụ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử của họ.

Về đặc điểm tộc người ở đây, mỗi dân tộc đều có những nét riêng biệt.

Với người Thái2: Khu vực chúa đất cai quản gọi là mường và có bộ máy cai trị cũng như có luật lệ riêng. Mỗi mường có một mường trung tâm và các mường ngoại vi. Chúa đất cai quản toàn mường, con trai cả của chúa đất sẽ cai quan rmường trung tâm, các con trai thứ và các cháu sẽ cai quản các mường phụ thuộc. Bộ máy thống tri toàn mường lớn gọi là Xiêng hay Chiềng. ...

Trong quan hệ họ hàng của người Thái có 3 mối quan hệ đặc trưng, đó là:

Ải Noọng bao gồm những thành viên trai của từng dòng họ và có cùng tổ tiên;

- Lúng Ta; Nhím Sao.

Với người Hmông bộ máy Seophải3  cai quản một bản, thống lý cai quản một vùng, ngoài ra còn có các phó thống lý, lý dịch. Những người trong bộ máy cai trị thường là người đứng đầu các dòng họ.

Trong xã hội truyển thống của người Hmông, quan hệ cố kết dòng họ là nét đặc trưng nhất, nó được biểu hiện ở 2 hình thức: cố kết rộng và cố kết hẹp.

Người Khơmú:

Người Khơ mú có nhiều dòng họ, các dòng họ của họ thường mang  tên cây, cỏ hay chim, thú. Các quan hệ của họ chủ yếu dựa theo nhóm hôn nhân. Với các dân tộc khác như Kháng, XinhMun, tổ chức xã hội truyền thống của họ cũng tương tự như ở người Khơmú, họ đều có quá trình dài lâu trong lịch sử là những người bị phụ thuộc và trở thành người làm công như lệ nông cho các chúa đất (phía tạo) người Thái.

Qua những nét chính về bức tranh xã hội của phần lớn các dân tộc thiểu số điển hình ở Tây Bắc, trong đó nổi bật là các chúa đất Thái (phía tạo) và thống lý ở người Hmông

Đặc điểm văn hoá

+ Văn hoá vật chất

Văn hoá của các tộc người vùng Tây Bắc rất đa dạng và phong phú. Ở đây chỉ xin đề cập đến một số nét mang tính khái quát và khác biệt giữa một số tộc người ở Tây Bắc.

- Nhà ở của các tộc người Thái, Lào, Mường, Khơmú, Xinhmun, Kháng, Cống đều

là nhà sàn. Với người Hmông, Dao lại ở nhà trệt, mái thấp, tường trình.

- Về trang phục: Đây là nét đa dạng và độc đáo nhất của bản sắc văn hóa tộc người thể hiện qua yếu tố văn hóa vật chất của các bộ trang phụ nữ và nam..

- Về đồ ăn, uống: Các dân tộc vùng thấp như Thái và các dân tộc vùng rẻo giữa thường ăn cơm nếp đồ, hiện nay bà con đã ăn cơm tẻ nhiều hơn. Người Thái có món nậm Pịa, mọc, lạp và làm nhiều loại bánh từ bột nếp. Người Hmông thì món ăn đặc trưng vẫn là ngô bột được đồ lên (mèn mén), thắng cố, bánh dày được làm vào dịp tết Hmông.

- n hóa tinh thần

Hầu hết các tộc người thiểu số sống vùng Tây Bắc đều theo tín ngưỡng đa thần và quan niệm về vũ trụ xung quanh con người được tạo bởi nhiều tầng thế giới. Người Hmông, Dao đều cho rằng thế giới được tạo thành bởi trời, đất, nước, dưới mặt đất. Người Thái lại cho rằng riêng trời được cấu tạo bởi 3 tầng thế giới.

Về văn học dân gian của các tộc người ở Tây Bắc rất phong phú, nhất là các dân tộc Thái, Mường, Hmông những nội dung của văn học dân gian đều phản ánh cuộc sống lao động sản xuất, xã hội tộc người, nguồn gốc lịch sử của dân tộc mình.

Về nghệ thuật dân gian: Các tộc người vùng Tây Bắc được thể hiện rất phong phú, sinh động qua hàng loạt các loại hình như nhạc cụ dân gian, dân vũ... có những nhạc cụ nổi tiếng như cồng, chiêng của người Mường, khèn, kèn lá, đàn môi của người Hmông và sáo, nhị, trống, kèn đồng. Múa dân gian của các tộc người Tây Bắc cũng rất đa dạng: Người Thái có mùa xòe, nhảy sạp, múa nón, người Hmông nổi tiếng với mùa khèn.

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA CÁC DÂN TỘC TÂY BẮC

Quan hệ dân tộc trong quá trình phát triển của các dân tộc trong vùng Tây Bắc

Để triển khai nghiên cứu vấn đề này chúng tôi dựa trên cơ sở khung lý luận cơ bản về dân tộc đi từ những khái niệm đến các vấn đề cụ thể của vấn đề quan hệ các dân tộc vùng Tây Bắc trong quá trình phát triển: khái niệm về dân tộc; khái niệm về quan hệ dân tộc.

Sau đó đến các nội dung về chủ thể quan hệ, mục đích quan hệ, phạm vi quan hệ, nội dung quy định liên quan đến các quan hệ, hình thức quan hệ, cách thức quan hệ, tính chất quan hệ, không gian và thời gian diễn ra quan hệ, xu hướng giao lưu, hợp tác, tương trợ trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng và cùng có lợi, xu hướng tiếp thu, tiếp biến văn hóa và một số lĩnh vực khác trong đời sống xã hội của các dân tộc trên cơ sở chọn lọc, đồng thời vẫn duy trì với phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, xu hướng chuyển đổi một số đặc điểm văn hóa truyền thống của cộng đồng bằng cách tiếp nhận từ bên ngoài; xu hướng liên kết, cố kết thành cộng đồng xã hội, quốc gia, với những quy mô khác nhau dựa trên cơ sở của những nguyên tắc đã được thỏa thuận. Ví dụ: ASEAN, SNG, EU

Tóm lại, vấn đề dân tộc và quan hệ dân tộc là vấn đề rộng lớn gồm nhiều khía cạnh và lĩnh vực khác nhau liên quan đến sự ổn định và phát triển của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia, do vậy vấn đề dân tộc và quan hệ dân tộc luôn là mục tiêu có tầm chiến lược trong các chính sách từ vi mô đến vĩ mô của các quốc gia.

Đi vào các nội dung cụ thể của vấn đề này chung tôi tập trung các vấn đề cụ thể sau: Quan hệ về nguồn gốc lịch sử như: quan hệ về nguồn gốc lịch sử của dân tộc Thái ở Tây Bắc; quan hệ về nguồn gốc lịch sử của dân tộc Hmông ở Tây Bắc; quan hệ mang tính tộc người và các yếu tố ảnh hưởng như chính sách, kinh tế, xã hội, văn hóa; quan hệ mang tính tộc người; quan hệ họ hàng thân tộc; các yếu tố ảnh hưởng đến quan hệ dân tộc vùng Tây Bắc; yếu tố chính sách; yếu tố kinh tế; yếu tố xã hội; yếu tố văn hóa truyền thống; các xu hướng trong quan hệ dân tộc vùng Tây Bắc.

Cho đến nay, ở vùng Tây Bắc nhất là với 2 dân tộc được chọn làm mẫu nghiên cứu thì quan hệ dân tộc mang tính tộc ngưòi vẫn giữ vai trò chủ đạo, thông qua quan hệ hôn nhân nội tộc, họ hàng thân thích, láng giềng đồng tộc để thực hiện các nghi lễ tộc người. Các xu hướng quan hệ dân tộc chủ yếu sau đang tồn tại bao trùm ở Tây Bắc:. Xu hướng ngày càng mở rộng quan hệ giữa các cộng đồng cùng dân tộc tại địa phương và tại các khu vực xuyên biên giới Việt Nam - Lào; xu hướng ngày càng mở rộng các quan hệ hợp tác, tương trợ lẫn nhau giữa các tộc người trong khu vực cư trú trên cơ sở bình đẳng và tôn trọng các đặc điểm văn hóa của nhau; xu hướng quan hệ tiếp nhận một số đặc điểm văn hóa của tộc người khác trên cơ sở. Xu hướng quan hệ chối bỏ các yếu tố đặc trưng trong văn hóa truyền thống tộc người, Với 3 hình thức phát triển của quá trình tộc người đó là: cố kết đồng tộc, hòa hợp dân tộc và đồng hóa tự nhiên; quá trình đồng hóa tự nhiên

Vấn đề cơ bản thứ hai của các các dân tộc Tây Bắc mà chúng tôi muốn đề cập ở đây là vấn đề đất đai với nhiều yếu tố rất nhạy cảm, để thấy được những nét cơ bản của tình hình đất đai ở Tây Bắc chúng tôi tập trung vào các nội dung sau đây.

Thực trạng sử dụng và quản lý đất đaỉ các dân tộc vùng Tây Bắc

Tây Bắc là vùng đất rộng, người thưa, chiếm 11,3% diện tích cả nưóc, tiềm năng đất đai, rừng, nguồn nước, hệ sinh thái được xếp vào tốp đứng đầu trong 8 vùng kinh tế của cả nước.

Tài nguyên đất ở Tây bắc vô cùng phong phú đây là một tiềm năng to lớn của Tây Bắc.Tuy nhiên, đất đai Tây Bắc còn có nhiều nơi chưa được hợp thức hóa hoặc sử dụng chưa hiệu quả nguồn tài nguyên này. Do nhiều nguyên nhân gây nên sự tồn tại này, với các vấn đề cụ thể sau: Thực trạng đất đai trước và sau Nghị định số 364/CP 1995. Những bất cập trong việc triển khai nghị định này; Thực trạng đất đai trước và sau Nghị định số 364/CP-1995. Những bất cập trong việc triển khai thực hiện nghị định này tại các tỉnh của Tây Bắc.nh hình tranh chấp đất đai; Tranh chấp đất đai sau Nghị định số 364/CP-1995; trong nội bộ dân tộc; Tranh chấp đất đai do di cư tự do; Những bất cập trong quản lý đất đai

Tóm lại: Như trên chúng tôi đã trình bày các nguyên nhân dẫn đến tình hình trên rõ nhất là do những vướng mắc của việc phân định lại địa giới hành chính theo Nghị định số 364/CP của Chính phủ.

Chúng tôi nhấn mạnh vào 3 nguyên nhân chính đó là: nguyên nhân thứ nhất do việc bất cập trong việc thực hiện Nghị định số 364/CP với nội dung phân lại địa giới hành chính tại các địa phương của Tây Bắc, nguyên nhân thứ hai việc di dân tự do của người Hmông; nguyên nhân thứ ba chúng ta không thể bỏ qua đó là những vấn đề bất cập trong quản lý sử dụng đất đai gây nên sự bất ổn định xã hội qua việc thực hiện chương trình di dân tái định cư thủy điện Sơn La.

Chúng tôi đưa ra nhận định về: Xu hướng trong sử dụng về quản lý đất đai (giai đoạn 2011 - 2020) với các nội dung cụ thể về: công tác quản lý đất đai theo địa giới hành chính; công tắc đo đạc, lập bản đồ địa chính, bản đồ đất; công tác giao đất, cho thuê đất thu hồi và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai; công tác thanh tra, kiểm tra và giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo.

Nội dung cơ bản thứ ba của đồng bào thiểu số vùng Tây Bắc mà chúng tôi đề cập tới là đói nghèo, đây là vấn đề vừa nan giải vừa bức xúc của Tây Bắc. Trên cơ sở lý thuyết cơ bản về những quan niệm về đói nghèo và các tài liệu chính thống của các cơ quan quản lý về chính sách xã hội các cơ quan nghiên cứu và quản lý vùng đồng bào các dân tộc thiểu số cộng với các tài liệu điền dã tại các dại phương và hai dân tộc được chọn làm mẫu nghiên cứu chúng tôi đã đưa ra những nhận xét và đánh giá về các vấn đề sau :

Đói nghèo của các dân tộc vùng Tây Bắc

Để giải quyết vấn đề này chúng tôi đi từ việc tìm hiểu: Khái quát về thực trạng đói nghèo của các dân tộc vùng Tây Bắc

Theo số liệu thống kê của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội ,đến cuối năm 2005 - 2010 trên địa bàn Tây Bắc vẫn còn 80.780 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 58,6%, cao nhất trong cả nươc. Nếu tổng hợp lại, có thể thấy, nhìn chung tỷ lệ hộ nghèo ở vùng các dân tộc thiểu số Tây Bắc trong gần một thập niên qua dao động trong khoảng trên dưới 40%. Với chuẩn nghèo quốc gia mới đây quy định 200.000 đ/tháng. Thu nhập và đời sống dân cư vùng Tây Bắc đến nay vẫn thấp nhất trong 8 khu vực cả nước. Nhìn ở các góc độ khác nhau để nhận xét và đánh giá: trong nh vực công nghiệp và xây dựng, trong lĩnh vực nông nghiệp; trong lĩnh vực dịch vụ thương mại; mối quan hệ giữa nghèo đối với môi trường, kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục và sức khỏe; mối quan hệ giữa đói nghèo và đời sống kinh tế - xã hội, mối quan hệ giữa đói nghèo với vấn đề y tế, giáo dục, y tế....

Vấn đề thứ tư chúng tôi muốn đề cập đến là một số vấn đề về xã hội, qua đó chúng tôi muốn cung cấp cái nhìn toàn diện về những vấn đề cơ bản của các dân tộc Tây Bắc qua các vấn đề về an sinh xã hội, tình hình y tế và giáo dục, đây là những vấn đề quan trọng tạo nên sự phát triển bền vững cho vùng Tây Bắc .

Một số vấn đề về xã hội

Thực trạng vấn đề y tế - giáo dục ở Tây Bắc. Xuất phát từ quan điểm y tế, chăm sóc sức khỏe (CSSK) là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của chiến lược kinh tế - xã hội, nhằm mang lại phúc lợi cho người dân. Trong những năm qua, việc CSSK đối vói các dân tộc ít người ở Tây Bắc đã có nhiều bước tiến đáng kể về: về mạng lưới y tế; về sức khoẻ sinh sản cho phụ nữ; chăm sóc sức khoẻ trẻ em.., qua các số liệu cụ thể tại địa bàn nghiên cứu chúng tôi thấy: Nhìn chung tình hình y tế, chăm sóc sức khỏe của các tỉnh vùng Tây Bắc vẫn còn nhiều khó khăn, thiếu thốn, tập trung vào một số lĩnh vực sau: cơ sở hạ tầng còn yếu, nguồn nhân lực y bác sĩ còn thiếu.

Về giáo dục ở Tây Bắc  Khái quát về sự nghiệp giáo dục đào tạo ở Tây Bắc ta thấy: Mạng lưới trường học đã phủ kín đến thôn bản. Bên cạnh đó những cố gắng về mọi mặt đã nâng chất lượng giáo dục có nhiều chuyền biến tích cực, góp phần cải thiện đáng kể trong việc nâng cao dân trí cho đồng bào các dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tích tiến bộ của hệ thống giáo dục của Tây Bắc vẫn còn tồn tại nhiều bất cập.

Một trong những vấn đề điển hình xã hội Tây Bắc được rất nhiều các ngành, các cấp quan tâm đó là vấn đề trồng cây thuốc phiện và buôn bán thuốc phiện cũng như vấn đề nghiên hút của đồng bào thiểu số ở các tỉnh Tây Bắc, trong đề tài này chúng tôi đề cập tới vấn đề này với nhiều số liệu và tàì liệu từ địa phương

Vấn đề trồng cây thuốc phiện, buôn bán và nghiện hút

Để triển khai mục này chúng tôi tập trung vào các nội dung sau: vấn đề trồng cây thuốc phiện; vấn đề nghiện hút và buôn bán ma tuý ở các địa phương. Qua các số liệu cụ thể từ các địa bàn nghiên cứu, chung tôi nhận thấy đây là vấn đề đang tồn tại và có chiều hướng gia tăng, là vấn đề nhức nhối của Tây Bắc đòi hỏi sự quan tâm của các cấp chính quyền và ngành công an phong chống ma tuý, tội phạm của tỉnh và Trung ương.

Vấn đề cơ bản thứ năm của vùng Tây Bắc mà chúng tôi muốn đề cập đến là sự biến đổi tôn giáo, tín ngưỡng truyền thông thông qua việc xuất hiện việc chuyển đạo của một bộ phận người Hmông trong vùng.

 Sự biến đổi tôn giáo tín ngưỡng truyền thống

Để triển khai tìm hiểu vấn đề nay chúng tôi bắt đầu từ việc nghiên cứu . Tín ngưỡng truyền thống của hai dân tộc được chọn làm mẫu nghiên cứu là dân tộc Thái và dân tộc Hmông và một số nội dung cụ thể như: tín ngưỡng truyền thống của người Hmông cụ thể như: nghi l thờ cúng tổ tiên; lễ mừng năm mới, nghi lễ đắm cưới; Sa man giáo ở người Hmông; hiện tượng xưng vua ở người Hmông; đạo Tin Lành ở Việt Nam.

Nhìn chung, vấn đề biến đổi tôn giáo tín ngưỡng truyền thống của các dân tộc Tây Bắc chỉ tập trung vào người Hmông, song thật nó chỉ là những niềm tin mù quáng bị các thế lực tôn giáo bên ngoài lợi dụng, hiện tượng Vàng Chứ về cơ bản chưa đủ sức lan rộng vùng người Hmông, còn với dân tộc Thái có lác đác một số biến động như theo Ki tô giáo, theo đạo Phật nhưng không nhiều.

Vấn đề thứ sáu mà đề tài tập trung nghiên cứu là vấn đề hệ thống chính trị cơ sở trong quản lý xã hội ở vùng Tây Bắc, đây là vấn đề làm nên sự sống còn của Tây Bắc trên con đường phát triển, không có một hệ thống chính trị đủ mạnh chúng ta sẽ rất khó khăn trong việc xây dựng bản làng vãn hoá mới và bảo vệ an ninh biên giới quốc gia

Hệ thống chính trị cơ sở trong quản lý cộng đồng các dân tộc nổi riêng, quản lý xã hội trong vùng nói chung.

Để giải quyết vấn đề này chúng tôi đi từ những khái niệm cơ bản của khung lý thuyết về: khái niệm về hệ thống chính trị từ đó chúng tôi đi vào các nội dung cụ thể như; một vài nhận xét về hệ thống chính trị cơ sở vùng Tây Bắc; vai trò của cấc tổ chức quan phương (đảng ủy, UBND và cấc tổ chức chính trị xã hội) và cắc tổ chức phi quan phương hướng quản lý cộng đồng của người Thái và người Hmông; các quy ước liên quan tới sản xuất; các quy ước về hôn nhân gia đình; các quy ước về trật tự an ninh, an ninh thôn bản; các quy ước về ý thức bảo vệ cộng đồng; mối quan hệ giữa các tổ chức phi quan phương và quan phương; xu hướng phát triển và những vấn đề đặt ra trong quản lý xã hội các dân tộc trong vùng; thực trạng công tác tạo nguồn cán bộ hệ thống chính trị cơ sở các tỉnh Tây Bắc; thực trạng công tác phát triển giáo dọc ở các tỉnh Tây Bắc - cơ sở để tạo nguồn cán bộ cho hệ thống chính trị cơ sở bền vững; thực trạng công tắc tổ chức cấn bộ liên quan đến yêu cầu tạo nguồn cấn bộ cho hệ thống chính trị cơ sở ở các tỉnh Tây Bắc; nguyên nhân của những thành công và hạn chế.

Qua thực thực tế nghiên cứu tại địa phương, với nhiều cứ liệu cụ thể chúng tôi nhận thấy, vấn đề củng cố hệ thống chính trị cơ sở của vùng các dân tộc thiểu số ở Tây Bắc là vô cùng cấp thiết, đòi hỏi sự quan tâm và đầu tư thích đáng của các cấp từ địa phương đến trung ương, có như thế chúng ta mới xây dựng Tây Bắc phát triển bền vững làm phên dậu biên cương vững chắc bảo vệ an ninh và biên giới quốc gia.

Vấn đề cơ bản thứ bẩy của vùng đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Bắc là: bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa tộc người của các dân tộc vùng Tây Bắc. Để triển khai nghiên cứu vấn đề này chúng tôi đã dựa trên những lý thuyết cơ bản về văn hoá, về bảo tồn di sản văn hoá, lý thuyết về tiếp biến văn hoá, quan điểm của Đảng ta về văn hoá vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển xã hội để từ đó đi vào tìm hiểu các nội dung cụ thể như: văn hóa truyền thống của các dân tộc Tây Bắc trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; thực trạng về đời sống văn hóa các dân tộc vùng Tây Bắc; đánh giá thực trạng văn hóa của đồng bào Tắy Bắc; vấn đề bảo tồn và phát huy những di sản văn hóa vật thể và phi vật thể tiêu biểu của cắc dân tộc vùng Tây Bắc; xu hướng phát triển của vấn đề bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóac tộc người;

Qua thực tế nghiên cứu tại các địa phương của Tây Bắc, chúng tôi thấy vấn đề bảo tồn và phát bản sắc văn hoá tộc ngưòi của các tỉnh Tây Bắc đã có những kết quả đáng ghi nhận, thông qua việc bảo tồn và phát huy tác dụng của các di sản văn hoá, qua việc phục hưng các lễ hội các nghề thủ công truyền thống và ẩm thực dân tộc lồng với các hoạt động du lịch góp phần phát triển kinh tế tại các địa phương, đem lại thu nhập cho chính các chủ thể văn hoá. Tuy nhiên, nhiều vấn đề vẫn còn tồn tại, đó là việc trong kế hoạch và quá trình triển khai xây dựng các nhà máy, khu công nghiệp với việc bản tồn các di sản vãn hoá còn nhiều bất cập gây sự mất mát rất đáng tiếc do sự thiếu hiểu biết về văn hoá tộc người và sự cần thiết phải bảo tồn phát huy nền văn hoá đó của các nhà xây dựng, các nhà quản lý, các nhà kinh tế. Trong giai đoạn tới, mong rằng vấn đề bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa sẽ được các cấp chính quyền địa phương quan tâm đúng mức trong khung cảnh Tây Bắc đang trên con đường công nghiệp hoá - hiện đại hoá manh mẽ.

Những thành tựu của Tây Bắc trên con đường đổi mới thời gian qua là nhờ sự quan tâm to lớn của Đảng và Nhà nước thông qua hàng loạt các chủ trương chính sách, các chương trình, dự án dành cho vùng đồng bào các dân tộc nhằm phát trển kinh tế - xã hội - văn hoá của các dân tộc trong đó có vùng Tây Bắc.

Nguyễn Thị Thanh Nga - PGS.TS. (Viện Khoa học xã hội)

Tin tức khác

Zalo phone Hotline