(069). 518.055

Một số điểm mới của Nghị định số 26/2019/NĐ-CP của Chính phủ và trách nhiệm của Bộ đội Biên phòng trong tháo gỡ cảnh báo “thẻ vàng” của Ủy ban Châu âu đối với hải sản Việt Nam

Ngày 16/08/2021238

Ngày 23/10/2017, Ủy ban châu Âu (EC) đã cảnh báo “thẻ vàng” đối với sản phẩm thủy sản khai thác của Việt Nam xuất khẩu vào thị trường châu Âu (EU) vì chưa tuân thủ các quy định của Liên minh châu Âu (EU) Việt Nam thực hiện chưa tốt quy định về chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU). Quy định về IUU gồm 3 tiêu chuẩn với những hải sản nhập khẩu vào EU. Đầu tiên là hoạt động đánh bắt thủy sản bất hợp pháp, nghĩa là các tàu cá đánh bắt thủy sản ở những vùng biển trái phép hoặc cấm đánh bắt, những tàu cá không được cấp phép đánh bắt hay vi phạm quy định khai thác hải sản của quốc gia, quốc tế. 

Tiếp đó, IUU quy định những hoạt động khai thác hải sản cần được báo cáo với cơ quan chức năng nhằm tuân thủ những quy định của pháp luật trong nước, quốc tế. Yếu tố cuối cùng yêu cầu các tàu đánh cá treo cờ của một quốc gia nào đó và không được khai thác quá mức, đánh bắt cá con hay tàn phá nguồn thủy sản của một khu vực. Khi áp dụng biện pháp phạt “thẻ vàng”, 100% lô hàng thủy sản có nguồn gốc khai thác từ Việt Nam sẽ bị kiểm tra khi xuất khẩu sang EU. Nếu không tuân thủ các quy định về IUU, Việt Nam sẽ bị xác định là quốc gia không hợp tác và có thể sẽ bị áp dụng biện pháp “thẻ đỏ”. Trường hợp bị áp dụng “thẻ đỏ”, tất cả sản phẩm thủy sản từ khai thác của Việt Nam sẽ bị cấm xuất khẩu vào EU. Mặt khác, ảnh hưởng này không chỉ dừng lại ở EU, bởi vì EU là quy chuẩn của nhiều thị trường lớn khác trên thế giới; điển hình là từ ngày 1/1/2018, Mỹ - thị trường nhập khẩu hải sản lớn của Việt Nam cũng đã áp dụng chương trình giám sát nhập khẩu thủy, hải sản vào Mỹ.

Ủy ban châu Âu đưa ra 9 khuyến nghị Việt Nam cần phải thực hiện ngay trong 6 tháng (từ ngày 23/11/2017 đến ngày 23/4/2018). Sau thời gian kiểm tra, từ ngày 15/5/2018 đến ngày 24/5/2018, Đoàn Thanh tra của EC đã ghi nhận những tiến bộ từ Việt Nam và sẽ quay lại để xem xét vấn đề “thẻ vàng” đối với hải sản Việt Nam vào tháng 1/2019. Sau đó, EC tiếp tục kéo dài thời gian cảnh báo “thẻ vàng” đối với hải sản Việt Nam đến tháng 6/2019 và mới nhất là đến tháng 11/2019.

Dự kiến vào tháng 11/2019, Đoàn Thanh tra của EC sẽ sang Việt Nam kiểm tra việc thực hiện các khuyến nghị của EC sau 2 năm bị cảnh báo “thẻ vàng”. Trong lần kiểm tra này, Đoàn Thanh tra sẽ kiểm tra 4 nhóm khuyến nghị mà EC đã yêu cầu Việt Nam phải thực hiện là: khung pháp lý; hệ thống theo dõi, giám sát và kiểm soát hoạt động tàu cá; thực thi pháp luật và truy xuất nguồn gốc thủy sản từ khai thác.

Nhằm thực hiện các nhóm khuyến nghị mà EC đã yêu cầu, trước hết Việt Nam đã khẩn trương hoàn thiện khung pháp lý, luật hóa các quy định quốc tế để chống khai thác IUU. Cụ thể, đã ban hành Luật Thủy sản năm 2017 và hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn, gồm 2 nghị định của Chính phủ, 1 quyết định của Thủ tướng, 8 thông tư hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Đáng chú ý, ngày 8/3/2019, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 26/2019/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thủy sản, có hiệu lực từ ngày 25/4/2019 (Sau đây gọi tắt là Nghị định số 26/2019/NĐ-CP). Nghị định gồm 9 chương, 75 điều; trong đó Chương IV quy định về khai thác thủy sản có nhiều điểm mới so với quy định trước đây của pháp luật. Những điểm mới cụ thể như:

Một là, quy định về quản lý tàu cá trong các vùng biển Việt Nam phù hợp với thông lệ, tập quán phấp luật quốc tế

Nghị định số 33/2010/NĐ-CP chỉ quy định 1 loại là tàu cá và sử dụng công suất máy chính để phân vùng khai thác thủy sản. Trong đó, tàu lắp máy có tổng công suất máy chính từ 90 CV trở lên khai thác thủy sản tại vùng khơi và vùng biển cả; tàu lắp máy có tổng công suất máy chính từ 20 CV đến dưới 90 CV khai thác hải sản tại vùng lộng và vùng khơi; tàu lắp máy có công suất máy chính dưới 20 CV hoặc tàu không lắp máy khai thác hải sản tại vùng biển ven bờ… Quy định này chưa chặt chẽ, chưa cụ thể, chưa phù hợp với thông lệ, tập quán và quy định của pháp luật quốc tế.

Khắc phục tồn tại trên, Điều 44 Nghị định số 26/2019/NĐ-CP đã phân biệt 2 loại tàu cá: tàu đánh bắt nguồn lợi thủy sản và tàu hậu cần đánh bắt nguồn lợi thủy sản. Trong đó, tàu hậu cần đánh bắt nguồn lợi thủy sản, bao gồm: tàu thăm dò, tìm kiếm, dẫn dụ nguồn lợi thủy sản, tàu vận chuyển (chuyển tải, chế biến) thủy sản, sản phẩm thủy sản, trừ tàu chở thủy sản, sản phẩm thủy sản bằng contaier. Đồng thời, căn cứ vào chiều dài lớn nhất của tàu cá để phân vùng khai thác thủy sản đối với từng loại tàu, cụ thể là:

- Đối với tàu đánh bắt nguồn lợi thủy sản: tàu có chiều dài lớn nhất từ 15m trở lên hoạt động tại vùng khơi, không được hoạt động tại vùng ven bờ và vùng lộng; tàu có chiều dài lớn nhất từ 12m đến dưới 15m hoạt động tại vùng lộng, không được hoạt động tại vùng khơi và vùng ven bờ; tàu có chiều dài lớn nhất dưới 12m hoạt động tại vùng ven bờ không được hoạt động tại vùng lộng và vùng khơi; tàu đăng ký tại tỉnh nào, chỉ được hoạt động tại vùng ven bờ của tỉnh đó; trừ trường hợp có thỏa thuận về hoạt động tàu cá ở vùng ven bờ của ủy ban nhân dân hai tỉnh.

- Đối với tàu hậu cần đánh bắt nguồn lợi thủy sản: tàu có chiều dài lớn nhất từ 15m trở lên hoạt động tại vùng ven bờ, vùng lộng và vùng khơi; tàu có chiều dài lớn nhất từ 12m đến dưới 15m hoạt động tại vùng ven bờ và vùng lộng, không được hoạt động tại vùng khơi; tàu có chiều dài lớn nhất dưới 12m hoạt động tại vùng ven bờ không được hoạt động tại vùng lộng và vùng khơi.

Hai là, quy định về quản lý hệ thống giám sát tàu cá

Luật Thủy sản năm 2003, Nghị định số 33/2010/NĐ-CP và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan chưa quy định về tàu cá bắt buộc phải lắp đặt hệ thống giám sát hành trình. Điều này chưa phù hợp với quy định của pháp luật quốc tế và tạo sơ hở trong việc quản lý tàu cá hoạt động ở các vùng biển, vi phạm nghiêm trọng quy định về chống khai thác IUU. Khắc phục những sơ hở của quy định trước đây, Điều 45 Nghị định số 26/2019/NĐ-CP quy định:

- Tàu cá có chiều dài lớn nhất từ 15m trở lên bắt buộc phải được lắp thiết bị giám sát hành trình. Lộ trình lắp đặt là: tàu cá có chiều dài lớn nhất từ 24m trở lên phải lắp trước ngày 1/7/2019; tàu làm nghề lưới kéo, câu cá ngừ đại dương có chiều dài lớn nhất từ 15m đến dưới 24m phải lắp trước ngày 1/1/2020; tàu cá có chiều dài lớn nhất từ 15m đến dưới 24m phải lắp trước ngày 1/4/2020;

- Thuyền trưởng phải bảo đảm thiết bị giám sát hành trình tàu cá hoạt động liên tục 24 giờ/24 giờ từ khi tàu cá rời cảng đến khi cập cảng. Trường hợp thiết bị giám sát hành trình tàu cá bị hỏng, thuyền trưởng phải sử dụng các thiết bị thông tin liên lạc khác, báo cáo vị trí tàu cá về trung tâm giám sát tàu cá ở trung ương và 28 tỉnh, thành phố ven biển 6 giờ/lần và phải đưa tàu về cảng để sửa chữa trong 10 ngày kể từ khi thiết bị giám sát hành trình tàu cá bị hỏng;

- Yêu cầu của thiết bị giám sát hành trình lắp đặt trên tàu cá: phải được kết nối, đồng bộ với phần mềm hệ thống giám sát tàu cá lắp đặt tại trung tâm dữ liệu giám sát tàu cá ở trung ương và 28 tỉnh, thành phố ven biển; tự động truyền qua hệ thống thông tin vệ tinh tối thiểu 12 vị trí/ngày với tần suất 2 giờ/lần các thông tin: vị trí tàu, thời gian đối với thiết bị lắp đặt trên tàu cá có chiều dài lớn nhất từ 24m trở lên; cảnh báo cho thuyền trưởng khi tàu vượt qua ranh giới cho phép trên biển; tự động truyền bằng một trong các phương thức qua hệ thống thông tin vệ tinh, hệ thống thông tin di động GSM, hệ thống thông tin sóng mặt đất sử dụng các băng tần MF, HF, VHF tối thiểu 8 vị trí/ngày với tần suất 3 giờ/lần các thông tin: vị trí tàu, thời gian đối với thiết bị lắp đặt trên tàu cá có chiều dài lớn nhất từ 15m đến dưới 24m; cảnh báo cho thuyền trưởng khi tàu vượt qua ranh giới cho phép trên biển; sai số tọa độ vị trí tàu cá nhận từ hệ thống định vị toàn cầu GPS hiển thị trên thiết bị giám sát hành trình tàu cá không quá 500m, độ tin cậy 99%...

Ba là, quy định cụ thể, chặt chẽ hơn về điều kiện tàu cá hoạt động khai thác thủy sản ngoài vùng biển Việt Nam

Nghị định số 26/2019/NĐ-CP đã quy định cụ thể và chặt chẽ hơn so với Nghị định số 33/2010/NĐ-CP về các điều kiện và trình tự, thủ tục cấp phép để tàu cá Việt Nam được hoạt động khai thác thủy sản ngoài vùng biển Việt Nam phù hợp với quy định của pháp luật quốc tế về chống khai thác IUU. Theo đó, tàu cá phải có đủ các điều kiện sau mới được xét cấp giấy phép khai thác thủy sản ngoài vùng biển Việt Nam:

- Tàu cá có chiều dài lớn nhất từ 15m trở lên, có mã số của Tổ chức Hàng hải quốc tế (IMO) và không vi phạm khai thác bất hợp pháp;

- Có quan sát viên theo quy định của Tổ chức quản lý nghề cá khu vực hoặc quốc gia ven biển;

- Thuyền viên và người làm việc trên tàu cá phải có giấy chứng nhận đã qua lớp bồi dưỡng quản lý nghề cá tại vùng biển quốc tế đối với trường hợp cấp giấy phép đi khai thác tại vùng biển do tổ chức quản lý nghề cá khu vực quản lý.

- Tàu cá phải lắp đặt thiết bị giám sát hành trình tự động truyền qua hệ thống thông tin vệ tinh…

Bốn là, quy định cụ thể hơn về trách nhiệm quản lý nhà nước đối với hoạt động khai thác thủy sản

Nghị định số 26/2019/NĐ-CP quy định cụ thể hơn về trách nhiệm quản lý nhà nước nói chung đối với hoạt động khai thác thủy sản, trách nhiệm của Bộ Quốc phòng, trong đó có BĐBP. Khoản 4 Điều 71 Nghị định số 26/2019/NĐ-CP quy định về trách nhiệm của Bộ Quốc phòng:

- Chỉ đạo lực lượng thực thi pháp luật trên biển kiểm tra, kiểm soát tàu cá Việt Nam, tàu cá nước ngoài dời cảng, cập cảng và hoạt động trên biển theo quy định của pháp luật;

- Chỉ đạo lực lượng BĐBP phối hợp với các cơ quan chuyên ngành tại cảng cá kiểm tra tàu cá, thuyền viên ra vào cảng cá theo quy định của pháp luật;

- Chỉ đạo lực lượng Hải quân, BĐBP, Cảnh sát biển phối hợp, hỗ trợ Kiểm ngư thực thi pháp luật trên biển theo quy định của pháp luật;

- Phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quản lý tàu cá, thuyền viên, người làm việc trên tàu cá nước ngoài hoạt động trong vùng biển Việt Nam và tàu cá Việt Nam hoạt động trên các vùng biển.

Để thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán và lợi ích quốc gia trên các vùng biển, đảo của Việt Nam; bảo đảm việc tuân thủ pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, các đơn vị BĐBP cần phải quán triệt, thực hiện tốt các quy định của Luật Biển Việt Nam năm 2012, Luật Thủy sản năm 2017, Nghị định số 26/2019/NĐ-CP và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan. Trong đó, tập trung thực hiện tốt những nội dung cơ bản sau:

Thứ nhất, cấp ủy, chỉ huy các đơn vị trong BĐBP cần nghiên cứu và quán triệt đến từng cán bộ, chiến sĩ của đơn vị nắm chắc các quy định của EU liên quan đến chống khai thác IUU; đồng thời nhận thức rõ được trách nhiệm của lực lượng BĐBP và của bản thân trong tham gia tháo gỡ cảnh báo “thẻ vàng” của EC đối với hải sản Việt Nam. Mặt khác, cần thường xuyên duy trì việc bố trí, sử dụng lực lượng phối hợp với thanh tra chuyên ngành thủy sản thường trực tại các cảng cá để tổ chức kiểm tra, kiểm soát tàu cá và thuyền viên ra vào cảng cá; cập nhật dữ liệu vào cơ sở dữ liệu nghề cá Việt Nam. Phối hợp chặt chẽ với các lực lượng thực thi pháp luật khác trên biển (Hải quân, Cảnh sát biển, Kiểm ngư…) tăng cường tuần tra, kiểm tra, kiểm soát và xử lý tàu cá khai thác vi phạm các quy định của pháp luật; tập trung tại các vùng biển giáp ranh, chồng lấn, có nhiều tàu cá hoạt động; ngăn chặn tàu cá Việt Nam vi phạm vùng biển nước ngoài và hỗ trợ ngư dân yên tâm bám biển khai thác hải sản…

Thứ hai, đối với công tác tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật. Tổ chức biên soạn tài liệu và đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho nhân dân ở các vùng biển, đảo; chú trọng lồng ghép việc tuyên truyền, phổ biến về những nội dung cơ bản của Luật Thủy sản năm 2017, Nghị định số 26/2019/NĐ-CP và các văn bản pháp luật khác có liên quan đến chống khai thác IUU. Trong đó, đối tượng cần ưu tiên tập trung tuyên truyền là các chủ tàu, thuyền trưởng, ngư dân, chủ cơ sở dịch vụ hậu cần khai thác thủy sản tại 28 tỉnh, thành phố ven biển. Trên cơ sở đó, giúp nhân dân hiểu rõ những quy định mới của pháp luật, nhất là những quy định liên quan đến lĩnh vực thủy sản và chống khai thác IUU, làm nền tảng để nâng cao nhận thức, ý thức tuân thủ pháp luật. Đồng thời, cần chú trọng tuyên truyền về các quy định của pháp luật liên quan đến vấn đề phân định vùng biển giữa Việt Nam và một số quốc gia láng giềng, lưu ý các vùng biển chưa phân định, chồng lấn với các nước; tuyên truyền về tình trạng khai thác trái phép thủy sản ở vùng biển nước ngoài và chế tài pháp lý nặng nề để xử lý các cá nhân, tổ chức vi phạm. Từ đó, góp phần nâng cao ý thức tham gia bảo vệ chủ quyền biển, đảo của nhân dân cũng như hạn chế và dần xóa bỏ tình trạng xâm phạm vùng biển nước ngoài khai thác thủy sản trái phép.

Thứ ba, tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương, nhất là cấp ủy, chính quyền các cấp ở 28 tỉnh, thành phố ven biển chỉ đạo quyết liệt và hiệu quả việc khắc phục 4 khuyến cáo mà EC đã yêu cầu; đặc biệt là cần chấm dứt ngay tình trạng tàu cá và ngư dân của địa phương khai thác bất hợp pháp tại các vùng biển nước ngoài. Thực hiện nghiêm các quy định của Luật Thủy sản năm 2017, Nghị định số 26/2019/NĐ-CP và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan; tập trung làm tốt công tác đăng kiểm tàu cá, việc cấp phép hạn ngạch khai thác và việc cập nhật, khai thác và quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia về thủy sản; kiểm soát chặt chẽ hoạt động tại các cảng cá của địa phương mình, đảm bảo 100% tàu cá có chiều dài lớn nhất từ 15m trở lên phải cập cảng cá có tên trong danh sách cảng cá chỉ định để bốc dỡ thủy sản; bắt buộc chủ tàu cá khai thác xa bờ hoặc thuyền trưởng phải thực hiện ghi nhật ký khai thác, báo cáo khai thác, lắp đặt, vận hành thiết bị giám sát hành trình theo quy định, bật thiết bị 24/24 giờ và kết nối với trạm bờ của chi cục thủy sản các tỉnh, thành phố.

Thứ tư, công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm và xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực thủy sản. Các đơn vị BĐBP cần chú trọng tổ chức tuần tra, kiểm soát cả trên bờ và trên các vùng biển thuộc phạm vi hoạt động để kịp thời phát hiện, ngăn chặn và xử lý nghiêm minh các hành vi phạm tội liên quan đến hoạt động khai thác thủy sản, nhất là các tội phạm thuộc quyền hạn điều tra của BĐBP như: tội hủy hoại nguồn lợi thủy sản; tội tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ; tội vi phạm quy định về xuất cảnh, nhập cảnh; tội tổ chức cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh trái phép… Trong đó, cần tích cực thu thập chứng cứ, tài liệu để phục vụ điều tra, xử lý đối với những ngư dân thường xuyên tái phạm việc khai thác thủy sản trái phép ở vùng biển nước ngoài, nhất là những người bị lực lượng chức năng nước ngoài đã bắt giữ, xử lý.

Tổ chức tập huấn, quán triệt và chỉ đạo các đơn vị xử lý vi phạm hành chính theo quy định của Nghị định số 42/2019/NĐ-CP ngày 16/5/2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thủy sản. Trong đó, cần tập trung vào các hành vi vi phạm quy định về chống khai thác, như: không trang bị thiết bị giám sát hành trình trên tàu cá, mức phạt tối đa đối với chủ tàu cá về hành vi này là phạt tiền từ 800 triệu đồng đến 1 tỷ đồng (Điều 20); không có, không ghi, không nộp nhật ký khai thác thủy sản, nhật ký thu mua chuyển tải thủy sản (Điều 25); tàu cá có chiều dài lớn nhất từ 15m trở lên không cập cảng cá có tên trong danh sách cảng cá chỉ định để bốc dỡ thủy sản (điểm b khoản 1 Điều 39).

 

Trần Quý Diện

 

Tài liệu tham khảo

1. Chỉ thị số 45/CT-TTg ngày 13/12/2017 của Thủ tướng Chính phủ về một số nhiệm vụ, giải pháp cấp bách nhằm khắc phục cảnh báo của Ủy ban Châu Âu về chống khai thác thủy sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định.

2. Nghị định số 26/2019/NĐ-CP ngày 8/3/2019 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thủy sản.

3. Nghị định số 42/2019/NĐ-CP ngày 16/5/2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thủy sản.

4. Luật Thủy sản số 18/2017/QH14 ngày 21/11/2017.

5. Quyết định số 78/QĐ-TTg ngày 16/01/2018 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Kế hoạch hành động quốc gia nhằm ngăn chặn, giảm thiểu và loại bỏ khai thác thủy sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định đến năm 2025.

Tin tức khác

Zalo phone Hotline