Ngày 15/08/2021953
Đồng bào Rục ở khu vực biên giới (KVBG) miền tây tỉnh Quảng Bình hiện tại với hơn 500 nhân khẩu. Con số đó có thể rất nhỏ so với các tộc người khác trên đất nước Việt Nam, nhưng với một tộc người từng đứng trước nguy cơ tuyệt chủng, thì đây là một con số cần được khẳng định...
Khoảng những năm 1958, 1959, đã có lời đồn về một nhóm "người nguyên thủy" đang sinh sống ở KVBG miền tây tỉnh Quảng Bình. Theo nhà nghiên cứu văn học dân gian Đinh Thanh Dự, trước năm 1945, cha ông là Đinh Cường và chú ruột của ông là Đinh Hương khi đi rừng, đến Báng Xang, Bó Rọ (huyện Minh Hóa - Quảng Bình) đã gặp người Rục. Nhưng bà con lảng tránh, không muốn tới gần. Dù vậy, hai cụ vẫn nói chuyện với họ bằng tiếng Sách, tiếng Nguồn, dù không hiểu được mấy
Theo TS. Trần Trí Dõi, Đại học KHXH và NV - Đại học Quốc gia Hà Nội, người từng bỏ công nghiên cứu người Rục từ những năm 70 của thế kỷ trước, tộc danh "người Rục" có từ những năm sau Cách mạng tháng Tám. Người Rục vốn là láng giềng của người Sách, từng đạt tới trình độ văn minh như người Sách, người Mày. Ba tộc người này đều tự nhận mình là người Chứt, vì có chung đặc điểm là "những người sống trong hang đá", cùng với người Arem và Mã Liềng hợp thành dân tộc Chứt. Đầu năm 1960, người Rục được vận động và tập trung sống ở vùng Cú Nhái, sau này là bản Hợp Hòa. Lúc ấy người Rục chỉ có 34 người, gồm 11 nam, 23 nữ, bốn em nhỏ và một già làng là ông Vịp.
Người Rục kiếm sống chủ yếu bằng săn bắt, hái lượm; thức ăn lấy bột từ ruột cây búng báng (còn gọi là bột nhúc) cùng thú rừng, cá ốc ở khe suối, thi thoảng mới có người phát rẫy gieo lúa hoặc ngô, rồi thả đấy mặc cho trời đất. Họ thích sống trong hang đá, một số gia đình lại dựng lều lợp bằng lá chuối, ít ngày sau lá úa vàng, lại bỏ đi nơi khác. Họ không ưa đổi chác, không muốn giao tiếp, làm quen với bất kỳ người lạ nào. Rồi họ dùng vỏ cây để đóng khố cho đàn ông, đắp váy cho đàn bà. Vỏ cây còn dùng lót nằm, làm chăn đắp trong những ngày giá rét. Dụng cụ sinh hoạt ngoài một số dao rừng cùn mòn, có lẽ đã qua nhiều thế hệ, còn dùng cả gỗ, đá. Cuộc sống du canh, du cư, săn bắt, hái lượm để kiếm kế sinh nhai mặc nhiên trở lại cùng họ.
Tại bản Ón, xã Hợp Hòa huyện Minh Hóa số đông bà con người Rục đã biết trồng sắn, ngô, chuối ở vườn nhà. Đã có nhiều gia đình phát triển chăn nuôi bò, lợn, gà tăng nguồn thu nhập. Nhiều giếng nước sạch được xây cất. Thế nhưng người Rục vẫn thích lấy nước từ gốc cây chuối. Cây chuối rừng được cắt gần sát gốc, rồi nạo thành lòng chảo nhỏ, lớp bẹ chung quanh như thành giếng con con. Nước từ gốc cây ứa ra, có vị chát dùng nấu canh, kho cá, tạo nên hương vị rất lạ. Hoặc họ dùng nước từ các rục nước tự nhiên dưới bóng những cây búng báng, cây đoác xanh tươi. Với người Rục, rượu, thuốc lá và nước chè xanh là ba thứ không thể thiếu khi ngồi lại với nhau. Nếu có gia đình nào đó mời, khách có thể say sưa nằm lại đôi ba ngày, ra về ngủ quên dọc đường là chuyện thường.
Người Rục thường kể cho nhau nghe nhiều truyện cổ tích, truyền thuyết, thần thoại ly kỳ. Truyền thuyết kể lại rằng, xưa kia người Rục từng bị trận đại hồng thủy chưa từng có. Nguyên nhân của đại hồng thủy là do con người sống buông thả, không nghe lời khuyên ngăn, thích gì làm nấy, nên Trời phạt. Đất đai bị biển cả vùi tận đáy, chỉ còn lại núi đá. Thế là núi đá hè nhau đi lấp biển để có đất cho con người làm nhà và trồng tỉa. Truyền thuyết ấy chứng tỏ người Rục từ lâu vẫn mơ ước có đất đai để sinh sống và dựng nhà, dựng cửa.
Đặc tính chung của người Rục, luôn tỏ ra tự chủ, không muốn gây phiền hà đến người khác. Trừ những người nào đặc biệt tin cậy, họ mới kể về mình, về gốc gác gia đình và hát những bài dân ca ca ngợi núi rừng, nơi họ sinh ra rồi lớn lên.
Ngày nay, cuộc sống của người Rục đã có nhiều khởi sắc nhờ quá trình đầu tư rất lớn của nhà nước, từ năm 1990, Nhà nước đã đầu tư hàng chục tỷ đồng để xây dựng cơ sở hạ tầng, cải tạo môi trường sống nhằm bảo tồn và phát triển vùng đồng bào Rục tập trung tại xã Thượng Hóa. Kết quả đã có nhiều khả quan, từ chỗ chỉ có 34 người (năm 1959) đến nay người Rục đã có trên dưới 500 người. Từ năm 2002, với hơn 20 tỷ đồng đầu tư từ Chương trình 135 và các dự án khác, vùng người Rục xã Thượng Hoá đã được xây dựng nhiều công trình công cộng; tiêu biểu như các công trình đường vào bản ón, trị giá 12,7 tỷ đồng; hệ thống cấp điện bản Yên Hợp - Mò O ồ ồ, trị giá 2,6 tỷ đồng, trạm y tế trị giá hơn 1,3 tỷ đồng. Chương trình 134 cũng đã hỗ trợ xây dựng hàng trăm ngôi nhà ở kiên cố cho đồng bào trị giá gần hai tỷ đồng... Bên cạnh đó, một số bệnh dịch thông thường như sốt rét, sởi, tả... đã được khống chế nhờ hệ thống trạm y tế và bác sĩ thường xuyên túc trực tại các bản cũng như đồng bào tự nâng cao ý thức chăm sóc sức khỏe cho bản thân. Số người đi học, biết chữ cũng tăng lên, chiếm khoảng 30% tổng số người Rục hiện có... Đáng nói hơn, đối với đại đa số đồng bào Rục hiện nay, tình trạng bỏ làng để trở lại sống hang động, di trú tự nhiên trong rừng đã hầu như không còn. Đồng bào đã tự ý thức được cuộc sống định canh định cư và giá trị của sức lao động để làm ra cái ăn, cái mặc.
Những năm vừa qua, nhờ sự giúp đỡ của Bộ đội Biên phòng, đã có người Rục đầu tiên trồng được lúa nước là ông trưởng bản Yên Hợp. Từ việc phát hoang gần 800m2 đất làm lúa; làm hệ thống dẫn nước; đào ao trữ nước đến việc ủ giống, gieo mạ, bón phân, Bộ đội Biên phòng xắn quần áo lội ruộng, gieo mạ còn đồng bào thì đứng xem, cứ thế cho đến khi thu hoạch, toàn bộ số thóc 2,5 tạ nằm trong bao nhà trưởng bản thì một số người mới tìm đến rụt rè đề nghị bộ đội làm giúp cái hạt thóc. Cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng 585 đã phải ủng hộ mỗi người một ngày lương cộng với hàng trăm công lao động. Bước đột phá lúa nước đã mở ra hướng đi cho đồng bào Rục nhất là khi các cấp chính quyền và lực lượng BĐBP luôn song hành cùng đồng bào Rục trên bước đường hòa nhập và phát triển.
(BBT)