Ngày 12/08/2021222
Hợp tác về sông xuyên biên giới và nước ngầm ở châu Âu
Không giống như ở châu Á, nơi chia sẻ các nguồn tài nguyên nước xuyên biên giới thường là nơi tiếp giáp giữa các quốc gia, châu Âu đã có kinh nghiệm trong việc giải quyết các vấn đề về chia sẻ nguồn nước. Những quốc gia ở châu Âu, ngoại trừ những quốc gia nằm quanh bờ biển phía Nam, có nguồn nước đủ để đáp ứng nhu cầu của họ. Tập trung ở châu Âu sau sự ra đời của cuộc Cách mạng công nghiệp là việc thiết lập tự do hàng hải trên các sông quốc tế. Do đó, hiệp ước về nguồn nước và những thể chế đầu tiên ở châu Âu tập trung vào việc đảm bảo quyền tự do hàng hải trên sông.
Giai đoạn những năm thập kỷ sáu mươi của thế kỷ trước, những quan tâm liên quan đến nguồn nước ở châu Âu đã chuyển sang các văn bản quy phạm pháp luật và các biện pháp chống ô nhiễm nguồn nước. Điều này dẫn đến Hiệp định 1963 của Ủy ban Quốc tế về bảo hộ chống ô nhiễm nguồn nước sông Rhine, Hiệp định bổ sung năm 1976, và Công ước năm 1976 về bảo hộ chống ô nhiễm nguồn nước sông Rhine bởi Clorua. Tuy nhiên, một bước ngoặt trong thái độ và chính sách của châu Âu là sự cố năm 1986 tại một nhà máy Basel đã làm đổ 30 tấn thuốc diệt cỏ, thuốc diệt nấm, thuốc trừ sâu và thuốc nhuộm ra sông Rhine. Sự cố này đã buộc châu Âu phải có hành động cụ thể chống ô nhiễm nguồn nước.
Sự khác nhau giữa châu Á và châu Âu mở rộng tới bối cảnh địa chính trị ở hai châu lục. Ví dụ, trong khi châu Âu đã đạt được trạng thái cân bằng giữa và trong các quyền lực chính, châu Á lại không phát triển được bất cứ một trạng thái cân bằng trong các nguồn lực của nó. Tình hình hiện nay ở châu Á, thực tế, có thể được mô tả như là một trường hợp của sự mất cân bằng quyền lực.
Hẹp hơn về vấn đề nước, mặc dù nguồn lực tự nhiên và kinh nghiệm của họ không giống nhau. Châu Âu dẫn đầu trong việc phát triển công nghệ nước sạch, nắm giữ chìa khóa cho một tương lai nước an toàn hơn cho thế giới.
Các nguyên tắc và thực hành theo quy định của Ủy ban Kinh tế của Liên Hợp quốc tại châu Âu (UNECE) có liên quan đặc biệt tới châu Á, dẫn tới một thực tế là 53 trong tổng số 57 lưu vực sông xuyên biên giới ở châu Á không có cơ chế hợp tác. UNECE đã xác định nguyên tắc không gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới các nước khác thông qua Công ước về Bảo vệ và sử dụng nguồn nước xuyên biên giới và các hồ nước quốc tế, 1992 (được gọi là "Công ước Hen-xin-ki I"). Hai công ước khác của UNECE - Công ước Espoo về đánh giá tác động môi trường trong bối cảnh xuyên biên giới, và Công ước Helsinki II về những ảnh hưởng xuyên biên giới của các tai nạn công nghiệp - cũng có liên quan đến quản lý nguồn nước xuyên biên giới.
Hợp tác về sông xuyên biên giới và nước ngầm ở châu Á
Châu Á cần có chiến lược tiếp cận mới tập trung vào bảo tồn nguồn nước, đạt được hiệu quả và năng suất và quản lý tổng hợp tài nguyên nước liên quan đến tất cả các quốc gia lưu vực. Chỉ có những cách thức hợp tác để nắm bắt được tất cả các bên liên quan và phá vỡ sự tự do từ việc tiếp cận kinh doanh thông thường mới có thể giúp đưa ra những giải pháp tiềm năng.
Với vô số lưu vực giữa các nước, châu Á không thể tiếp tục phát triển thịnh vượng mà không cần xây dựng đối tác về chính trị và công nghệ để giúp ổn định mối quan hệ liên - ven sông, khuyến khích sử dụng nguồn nước hiệu quả hơn, thúc đẩy tính bền vững về môi trường, có chiến lược bảo tồn có tính khả thi và đầu tư để sản xuất nước sạch. Nếu các nước châu Á chú tâm đến những thách thức về nước, họ sẽ cần phải làm tốt việc lập kế hoạch có tính chiến lược và quản lý tài nguyên nước.
Vì vậy, câu hỏi lớn là: Làm thế nào các quốc gia châu Á có thể ngăn chặn các cuộc tranh giành quyết liệt về nguồn nước trở thành điểm giới hạn cho cuộc xung đột công khai? Để ngăn chặn các nguy cơ an ninh, các quốc gia châu Á phải đầu tư nhiều hơn nữa về việc thể chế hóa hợp tác về tài nguyên lưu vực sông xuyên biên giới nhằm củng cố sự ổn định có tính chiến lược, tiếp tục bảo vệ tăng trưởng kinh tế và thúc đẩy phát triển bền vững môi trường. Thể chế hóa nguồn nước các lưu vực hoặc giữa các quốc gia là cần thiết để giúp giảm rủi ro và xây dựng an ninh nước. Sự thiết lập của họ sẽ giúp làm giảm nguy cơ các cuộc tranh chấp trở thành cuộc xung đột.
Nước đã xuất hiện như một thử nghiệm về khả năng của châu Á trong việc xây dựng hợp tác, chứ không phải cạnh tranh trên một nguồn tài nguyên quan trọng. Căng thẳng về nước gia tăng thực sự là một thách thức an ninh then chốt cho châu Á, nơi có mức tăng trưởng kinh tế nhanh nhất thế giới và mật độ dân số lớn nhất càng thúc đẩy nhu cầu về nước và năng lượng gia tăng theo hình xoắn ốc.
Một nhu cầu là xây dựng các quy tắc của châu Á về chia sẻ tài nguyên lưu vực xuyên quốc gia, sử dụng như một hướng dẫn luật các nguyên tắc của luật về nước của Công ước Liên Hiệp Quốc 1997 sử dụng không định hướng của nguồn nước quốc tế. Rõ ràng, cách để ngăn ngừa hoặc kiềm chế xung đột ở châu Á là xây dựng các các thỏa thuận lưu vực liên quan đến tất cả các nước lân cận ven sông. Nếu một quốc gia ven sông chiếm ưu thế từ chối tham gia, thì các thoả thuận có tính tổ chức như vậy khó có thể có hiệu lực. Thỏa thuận phải tập trung vào tính minh bạch, chia sẻ thông tin, phân phối lợi ích công bằng, giải quyết tranh chấp, kiểm soát ô nhiễm, các dự án chung và một cam kết để tránh bất kỳ dự án nào sẽ làm giảm dòng chảy xuyên biên giới.
Để phòng ngừa những rủi ro kinh tế, châu Á có rất ít sự lựa chọn ngoài việc nâng cao hiệu quả và năng suất nguồn nước. Sự cần thiết được nhấn mạnh bởi thực tế rằng những cải tiến về hiệu quả sử dụng nước trong nông nghiệp, năng lượng và các ngành công nghiệp đã giữ ở mức 1% hoặc ít hơn mỗi năm trong hai thập kỷ ở châu Á. Trong trường hợp này, bảo đảm sử dụng nguồn nước hiệu quả hơn phải trở thành một ưu tiên trong chính sách quốc gia. Đầu tư lớn hơn cũng cần thiết để nâng cấp và duy trì cơ sở hạ tầng cấp nước, theo Ngân hàng Phát triển châu Á, tổng thiệt hại từ phân phối bị rò rỉ ở châu Á lên đến 29 tỷ mét khối nước đã xử lý một năm, có giá trị khoảng 9 tỷ đô-la.
Sử dụng nước cho nông nghiệp ở châu Á cao khác thường, do đó cần phải ưu tiên tiết kiệm từ việc bảo tồn và sử dụng hiệu quả nguồn nước trong nông nghiệp để có nhiều nước hơn cho công nghiệp và các thành phố. Các biện pháp sử dụng hiệu quả nước cho nông nghiệp phải tìm cách tăng "năng suất trên từng giọt nước” thông qua việc kết hợp cải thiện hiệu quả các ứng dụng nước và mạng lưới nước bằng việc nâng cao năng suất thu hoạch. Một phần quan trọng trong giải pháp về nước ở châu Á là cần một sự gia tăng đáng kể về hiệu quả sử dụng nước cho nông nghiệp.
(website Bộ Tài nguyên Môi trường)