Ngày 13/08/2021524
Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội Khóa XIII thông qua tại Kỳ họp thứ 6 vừa qua là văn kiện chính trị pháp lý cơ bản, thể hiện ý đảng, lòng dân đồng thời khẳng định quyền làm chủ của nhân dân và nhân dân là chủ thể trong nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tại đây, nội dung chế định bảo vệ Tổ quốc đã được thể chế hóa tập trung và xuyên suốt những quan điểm cơ bản, đường lối chủ đạo của Đảng, Nhà nước ta về bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng ta xác định nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới là: “Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, giữ vững hòa bình, ổn định chính trị, bảo đảm an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội; chủ động ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta”; đây là một trong hai nhiệm vụ chiến lược có mối quan hệ gắn bó hữu cơ với nhau: Xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Như vậy, khái niệm bảo vệ Tổ quốc được thể hiện trong Hiến pháp không chỉ bao hàm những nhiệm vụ cụ thể liên quan đến lĩnh vực quốc phòng, an ninh mà với tư duy mới về sức mạnh tổng hợp để bảo vệ Tổ quốc; theo đó, Hiến pháp sửa đổi năm 2013 đã tiếp tục kế thừa và có những phát triển mới, thể hiện một cách toàn diện có hệ thống trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội trong toàn văn bản Hiến pháp; tuy nhiên, sức mạnh đặc trưng của quốc phòng và an ninh mà lực lượng vũ trang là nòng cốt được thể hiện rõ nét, tập trung tại Chương IV với sự thống nhất gắn kết hữu cơ giữa hai phương diện quốc phòng và an ninh trong nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, đây cũng là nội dung mang đậm nét riêng của Hiến pháp nước ta so với nhiều bản Hiến pháp của các nước trên thế giới và chính là bản sắc văn hóa luôn được giữ vững và phát huy với truyền thống “dựng nước đi đôi với giữ nước” là quy luật tồn tại và phát triển của dân tộc ta.
Chương IV Bảo vệ Tổ quốc trong Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam trước hết khẳng định bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là sự nghiệp của toàn dân, so với Hiến pháp năm 1992 tuy sửa đổi không nhiều nhưng có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc khẳng định hệ thống các quan điểm của Đảng ta về quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân; vị trí, vai trò của nhân dân, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân luôn là chủ thể, động lực quyết định vận mệnh của đất nước, theo đó, Hiến pháp tiếp tục xác định trách nhiệm của Nhà nước trong việc củng cố, tăng cường nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân, của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, trong đó lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt, nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của đất nước để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, đồng thời bổ sung mục tiêu “góp phần bảo vệ hòa bình ở khu vực và trên thế giới”. Đây là vấn đề mới so với Hiến pháp năm 1992, thể hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ của Đảng ta đồng thời tuân thủ Hiến chương Liên Hợp Quốc và điều ước quốc tế mà nước CHXHCN Việt Nam là thành viên, khẳng định Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế vì lợi ích quốc gia, dân tộc, góp phần vào sự nghiệp hòa bình độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới.
Tiếp tục thể chế hóa quan điểm của Đảng ta về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, tại các Điều 65, 66, 67 trong đó thể chế hóa một cách đầy đủ hơn trách nhiệm của lực lượng vũ trang nhân dân phải tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, nhân dân, với Đảng và Nhà nước, có nhiệm vụ bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội, bảo vệ nhân dân, bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN, cùng toàn dân xây dựng đất nước và thực hiện nghĩa vụ quốc tế; trong đó quân đội nhân dân và dân quân tự vệ làm nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, công an nhân dân làm nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự an toàn xã hội, đấu tranh phòng chống tội phạm, đây vừa thể hiện tính nhất quán xuyên suốt vai trò lãnh đạo trực tiếp tuyệt đối về mọi mặt của Đảng đối với lực lượng vũ trang nhân dân, đồng thời khẳng định bản chất giai cấp của quân đội nhân dân và công an nhân dân từ nhân dân mà ra, vì nhân dân phục vụ, bác bỏ hoàn toàn tư tưởng luận điệu phi chính trị hóa lực lượng vũ trang đặc biệt là phi chính trị hóa Quân đội nhân dân Việt Nam của các thế lực thù địch.
Về nhiệm vụ “làm nghĩa vụ quốc tế” của lực lượng vũ trang, đây là nội dung Hiến định mới vừa phù hợp với mục tiêu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc vừa đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế, chủ động, tăng cường hợp tác quốc tế về quốc phòng an, ninh theo tinh thần Cương lĩnh (bổ sung và phát triển năm 2011) của Đảng và đây cũng là căn cứ để Quốc hội quy định chính sách pháp luật đối với lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam khi tham gia lực lượng giữ gìn hòa bình của Liên hợp quốc trong tình hình hiện nay, khẳng định một bước quan trọng vị thế của Việt Nam trong cộng đồng quốc tế.
Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong mọi tình huống, Hiến pháp năm 2013 tiếp tục hiến định những chính sách cơ bản tại Điều 68 nhằm cụ thể hóa chủ trương của Đảng và Nhà nước ta trong việc tăng cường sức mạnh quốc phòng an ninh cả về tiềm lực và thế trận, xây dựng khu vực phòng thủ, xây dựng thế trận lòng dân vững chắc trong thực hiện chiến lược bảo vệ Tổ quốc, kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng, an ninh; quốc phòng an ninh với kinh tế trong từng chiến lược quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng quân đội nhân dân và công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; đẩy mạnh phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh (bổ sung thêm công nghiệp an ninh), đây là nội dung mới nhằm hiện thực hóa chủ trương lớn của Đảng trong việc xây dựng, phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh trở thành bộ phận của công nghiệp quốc gia, góp phần đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đồng thời tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật bảo đảm cho các lực lượng vũ trang từng bước được trang bị hiện đại, trước hết là cho lực lượng hải quân; Phòng không, Không quân; lực lượng an ninh, tình báo, cảnh sát cơ động. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học, nghệ thuật quân sự, quân sự, an ninh, sẵn sàng đánh thắng trong các loại hình chiến tranh, giữ vững hòa bình, ổn định chính trị, tạo môi trường thuận lợi đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Ngoài những nội dung đã được thể hiện tập trung tại Chương IV về bảo vệ Tổ quốc, trong nhiều điều khoản của Hiến pháp luôn khẳng định “Tổ quốc Việt Nam là thiêng liêng, bất khả xâm phạm”, đồng thời nhấn mạnh “mọi hành vi chống lại độc lập chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, chống lại sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều bị nghiêm trị”, theo đó Hiến định rõ bảo vệ Tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng và quyền cao quý của công dân, mọi công dân phải thực hiện bình đẳng về nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc, trong đó có thực hiện chế độ nghĩa vụ quân sự là trung tâm; cùng với việc quy định nội dung cụ thể về trách nhiệm nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc của toàn dân, để bảo đảm thực hiện các nhiệm vụ quốc phòng, an ninh và xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân. Hiến pháp năm 2013 đã quy định thẩm quyền của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hiến định đầy đủ hơn vai trò thống lĩnh lực lượng vũ trang, Chủ tịch Hội đồng quốc phòng - an ninh của Chủ tịch Nước phù hợp với tình hình mới.
Có thể nói, Hiến pháp (sửa đổi) năm 2013 đã đánh dấu một mốc son quan trọng trong tiến trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Để quy định của Hiến pháp, nhất là các quy định về lĩnh vực quốc phòng, an ninh sớm đi vào cuộc sống, không những phải tăng cường công tác tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cơ quan tổ chức, cá nhân trong thực hiện Hiến pháp, mà còn phải tập trung hoàn thiện các quy định của hệ thống pháp luật bảo đảm yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng, an ninh và đối ngoại; chính sách pháp luật về xây dựng lực lượng vũ trang đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, do đó các cơ quan có trách nhiệm trong việc xây dựng chính sách quốc phòng - an ninh cần phối hợp chặt chẽ hơn để triển khai các quy định của Hiến pháp về quốc phòng - an ninh, bảo vệ Tổ quốc. Phải có kế hoạch rà soát những văn bản quy phạm pháp luật hiện hành có liên quan để kiến nghị bãi bỏ, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới theo lộ trình. Trước mắt, cần tập trung hoàn thiện các dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam và Luật Công an nhân dân (sửa đổi), sẽ trình Quốc hội cho ý kiến và thông qua trong năm 2014; dự án Luật Nghĩa vụ quân sự (sửa đổi), dự kiến trình Quốc hội cho ý kiến tại Kỳ họp thứ 8 và thông qua tại Kỳ họp thứ 9. Nhiều dự án luật, pháp lệnh khác đã được tính toán theo lộ trình để triển khai thực hiện các quy định của Hiến pháp về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Chúng ta hoàn toàn tin tưởng chắc chắn rằng, với sự thể chế hóa đúng đắn quan điểm, tư tưởng chiến lược của Đảng, quy định nhất quán, thể hiện mạnh mẽ ý chí, quyết tâm của toàn dân tộc trong Hiến pháp, sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa của chúng ta sẽ ngày càng củng cố vững chắc và thắng lợi rực rỡ.
Nguyễn Kim Khoa