Ngày 08/08/2021234
Đồn Biên phòng Bản Máy nằm trên độ cao 1.100m so với mực nước biển, ở phía Tây của địa đầu Tổ quốc. Chúng tôi đã từng "chinh phục" những đồn biên phòng xa xôi nhất của mảnh đất biên cương này, nhưng lần đầu tiên đặt chân lên Bản Máy, một đồn biên phòng thuộc loại khó khăn nhất của tỉnh Hà Giang, mới thấm hết nỗi vất vả của những người lính nơi biên cương giá lạnh.
Vượt qua "con đường đau khổ"
Đi qua con đường quanh co bên sườn núi Tây Côn Lĩnh, vượt qua Cổng trời, cảm giác như mình đang tan vào mây, chạm vào biên giới của trời. Qua Cổng trời 1, Cổng trời 2, qua cái giá buốt của vùng núi quanh năm sương mù bao phủ, chúng tôi đến huyện Hoàng Su Phì. Từ đây, bắt đầu một hành trình khác để đi vào Đồn Biên phòng Bản Máy. Từ thị trấn Hoàng Su Phì vào Bản Máy chỉ khoảng 35km, nhưng phải đi bằng xe máy… "Nếu cách đây hai năm, các cô nhà báo chỉ đi bộ thôi, chứ vào đây còn chưa có đường". Cậu lính biên phòng mới về đầu quân ở đây vui vẻ đón chúng tôi.
Chiếc xe máy thuộc loại "dã chiến", ậm ạch trên con đường đất đá lầy lội gần hai tiếng đồng hồ mới vào đến trung tâm bản. Con đường quanh co ven sườn núi, đi qua bản Phùng, bản Pắng, qua Chiến Phố, qua những ngôi nhà cheo leo như những cái hộp diêm nằm dán vào vách núi. Tôi không nhớ mình đã đi qua bao nhiêu vòng cua của núi đá, bao nhiêu đoạn dốc lên xuống để vào tới trung tâm bản. Bao quanh là núi, chập chùng là núi. Đá và đá. Mới hiểu được sự sống diệu kỳ của con người Hà Giang, lớn lên từ đá, sinh tồn cùng với đá. Những khu ruộng bậc thang đã thu hoạch chỉ còn trơ lại rơm rạ dưới cái nắng hiếm hoi của mùa đông giá lạnh.

Các chiến sĩ Đồn Biên phòng Bản Máy "bốn cùng" với người dân.
Đường vào Bản Máy chìm trong sương mù và lạnh giá của mùa đông. Đường mới chỉ rải nhựa được 1/4. Còn lại vẫn là đường đất, với những vòng cua gấp nguy hiểm. Có những đoạn, chúng tôi phải nhắm mắt, phó mặc số phận cho mấy anh lính biên phòng, bởi chỉ sơ sểnh một chút thôi cả xe và người sẽ lao xuống vực. "Nếu chị đến đây vào mùa mưa, có khi mắc kẹt lại mấy ngày trời giữa đường vì bị sạt lở. Hay đang đi như thế này mà xe gặp phải sự cố thì cũng chỉ có nước ngồi ôm mặt mà khóc". Ngoảnh trước là núi, ngoảnh sau là rừng. Mịt mù. Tịnh không một bóng người. Thế nhưng trong điều kiện khắc nghiệt đó, hằng ngày, cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Bản Máy vẫn mấy chuyến vào ra lấy công văn giấy tờ và trao đổi công việc. Trong khi nhiều đồn biên phòng ở tỉnh Hà Giang, xe ô tô vào tận nơi, thì có lẽ Đồn Biên phòng Bản Máy vẫn phải chờ (không biết đến khi nào) "con đường đau khổ" được hoàn thiện.
Hai tiếng đồng hồ với cảm giác "phiêu" của du lịch mạo hiểm, chúng tôi vượt con dốc cuối cùng gần như thẳng đứng để lên độ cao hơn 1.000m vào Đồn Biên phòng Bản Máy. Chiếc xe máy của anh lính trẻ rít lên kèn kẹt. Lên tới nơi an toàn. Tôi thở phào nhẹ nhõm. Đứng trên Đồn Biên phòng Bản Máy nhìn xuống, chỉ thấy núi và một màu xanh ngút ngàn. Những bản làng của người Tày, Nùng, người La Chí nép mình bình yên bên núi. Và dòng Suối Đỏ, ngoằn ngoèo như một dải lụa mềm ôm trọn lấy núi đá, là ranh giới phân chia nước ta và nước bạn.
Nằm trên một quả đồi, Đồn Biên phòng Bản Máy được bao quanh bởi những hàng cây long não cao vút trồng từ thời Pháp. Hương thơm từ những hàng cây long não cổ thụ cao ngút ngàn tan vào không gian khiến chúng tôi quên đi cảm giác mệt mỏi sau một hành trình vất vả. Mùa này, quả long não chín, rụng đầy lối đi. Lớm chớm những nụ hoa đào, mai rừng hé nụ trong cái giá lạnh của buổi chiều, khiến cảm giác tết đã bắt đầu gõ cửa trên vùng cao heo hút này.
Đến "bản mồ côi vợ"
Đồn Biên phòng Bản Máy nằm ở địa bàn xã Bản Máy, nơi có địa hình phức tạp, bao quanh bởi đồi núi. Khí hậu ở đây rất khắc nghiệt, quanh năm lạnh giá, khiến cho mọi sinh hoạt của người dân rất khó khăn. Tuổi thọ trung bình của người dân Bản Máy rất thấp, chỉ khoảng 60 tuổi. Bản Máy gồm có 4 thôn và 5 dân tộc cùng chung sống, chủ yếu là người Nùng, Tày, Mông sống rải rác. Đây được gọi là địa bàn ba sạch: Không ma túy, không di cư, không tuyên truyền đạo trái pháp luật. Những người lính biên phòng ở đây thực hiện phương châm 4 cùng: cùng ăn, cùng ở, cùng làm và cùng nói tiếng dân tộc với bà con để hòa nhập vào đời sống của họ. Có lên vùng cao, có sống cùng lính biên phòng, mới hiểu được sự gắn bó của quân và dân ở đây.
Trong chén rượu nóng xua tan cái lạnh giá của những ngày cuối đông khắc nghiệt, những người lính biên phòng kể rằng, ở đây có một xóm mồ côi vợ, đàn ông trong bản không lấy vợ, tập trung sống với nhau. Chúng tôi nắc nỏm mừng thầm vì có một đề tài "độc" cho số báo xuân sắp tới. Xóm không chồng thì nhiều, chứ xóm mồ côi vợ có lẽ là độc nhất Việt Nam. Sáng hôm sau, chúng tôi mới vỡ lẽ bởi nụ cười dí dỏm của Thiếu tá, Phó đồn trưởng Nguyễn Xuân Hải. "Chả phải đi đâu xa, Đồn Biên phòng Bản Máy chính là "bản mồ côi vợ". Nghe câu nói đùa của anh Hải, lòng tôi chùng lại.
Vợ của các anh hầu hết đều làm nghề giáo. Lý do đơn giản để họ chọn vợ nghề giáo là ổn định và có thể chia sẻ với những người chồng quanh năm xa nhà, coi đồn biên phòng là nhà, biên giới là quê hương như các anh. Người may mắn lấy vợ ở tỉnh Hà Giang còn có cơ hội được về hoặc thỉnh thoảng đón vợ lên thăm. Cách hai, ba tháng một lần, chị Hương, vợ anh Hải lặn lội mấy chục cây số bằng chiếc xe máy xuyên rừng, đến thăm chồng. Chị là giáo viên cấp 2 ở huyện Hoàng Su Phì. Tôi không thể tưởng tượng nổi làm sao con người bé nhỏ, gầy guộc như chị có thể vượt qua con đường lầy lội và nguy hiểm đó để vào được đây. Còn chị chỉ cười hiền hậu: "Đi mãi rồi cũng quen".
Không có được may mắn của chị Hương và anh Hải, hầu hết những người lính biên phòng ở Bản Máy mỗi năm chỉ về phép được 1 đến 2 lần. Họ đều sống trong tình cảnh gia đình "3, 4 niêu". Phương châm của những người đàn ông ở "bản mồ côi vợ" là "không được giận vợ, vì thời gian ở với vợ quá ngắn ngủi". Thiếu tá Đặng Quốc Phong, Chính trị viên phó, quê ở Tam Dương, Vĩnh Phúc tranh thủ nhắn tin cho vợ, vừa trò chuyện cùng chúng tôi. Anh là người gắn bó lâu năm với Đồn Biên phòng Bản Máy. Tốt nghiệp đại học, anh đầu quân về đây, sau đó qua thực tế ở Lũng Làn, Đồn Biên phòng Thanh Thủy và cuối cùng lại về Bản Máy. Vợ anh cũng là giáo viên. Anh yêu biên giới và gắn bó với mảnh đất này như là quê hương của mình. Có lần, khi vợ sinh đứa con thứ hai, anh Phong đề nghị đặt tên là Sơn Vĩ, để nhớ về một vùng đất anh đã từng công tác, nhưng chị vợ nhất định không chịu. Đơn giản, vì chị không muốn nhớ lại quãng thời gian xa nhau. Anh Phong kể, có lần một người hàng xóm nửa đêm hớt hải gọi điện cho anh để tìm con. Thì ra, con của họ đi chơi với bạn không về. Chỉ biết tin cậy anh bộ đội hàng xóm nên nhờ tìm. Anh Phong, từ độ cao hàng nghìn mét, vẫn gọi về nhà chỉ đạo cuộc tìm kiếm "độc nhất vô nhị" này.
Đại úy Vũ Hữu Hoàn đang loay hoay khám bệnh cho mấy người dân ở xung quanh đồn. Anh Hoàn từ Đồn Biên phòng Lũng Làn chuyển về đây được hai năm. Quê anh ở tỉnh Hải Dương. Hoàn làm nghề y. Thuốc men khan hiếm, cộng với những hủ tục lạc hậu của người vùng cao khiến công việc của anh vô cùng vất vả. Nhiều lúc, anh vét cạn cả những đồng lương cuối cùng để mua thêm đường, sữa cho dân vì họ quá nghèo. Dân thương bộ đội lắm, thỉnh thoảng có quả trứng, mớ rau, họ đều mang lên biếu. Ngày giỗ, tết, còn lên tận nơi mời anh đến dự. Có người đi mất nửa ngày đường lên đồn biên phòng để chỉ mời bằng được bác sĩ Hoàn về ăn giỗ. Vợ Hoàn đang bị ung thư tuyến giáp. Nỗi buồn nặng trĩu. Thế nhưng vì nhiệm vụ, anh không thể rời vị trí của mình. Gia tài lớn nhất của anh chị là hai cậu con trai và một thùng chất đầy những lá thư họ vẫn viết thường xuyên cho nhau từ ngày yêu. Dù những lá thư từ Bản Máy gửi về phải mất nửa tháng trời mới đến được tay người nhận…
Đêm xuống ở miền biên ải chỉ có sương mù và giá lạnh. Nhưng tâm hồn những người chiến sĩ nơi địa đầu Tổ quốc này thì vô cùng ấm áp và nồng hậu. Họ đã bỏ sau lưng mình những bộn bề lo toan và cả những hạnh phúc giản đơn của cuộc sống đời thường để giữ bình yên cho mảnh đất xa xôi, khắc nghiệt này. Bởi phía sau họ, luôn có một hậu phương vững vàng, những người vợ và những đứa con… Họ, hơn ai hết, trở thành chỗ dựa cho những người lính quanh năm xa nhà nơi biên ải. Và một mùa xuân nữa lại về nơi đây
Hà Trang