Ngày 14/08/2021723
Ngày 31/12/2013, Quân ủy Trung ương đã ra Nghị quyết số 806-NQ/QUTW về hội nhập quốc tế và đối ngoại về quốc phòng đến năm 2020 và những năm tiếp theo. Đây là định hướng cơ bản, tạo cơ sở nền tảng đẩy mạnh hội nhập quốc tế và đối ngoại về quốc phòng lên tầm cao mới, đáp ứng mục tiêu, yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Thực hiện chủ trương hội nhập quốc tế (HNQT) do Đại hội XI của Đảng đề ra, những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, trực tiếp là của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, công tác HNQT và đối ngoại về quốc phòng đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, mang tính đột phá, tạo điều kiện thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (BVTQ). Nổi bật là, hợp tác quốc phòng với các nước ngày càng rộng mở, đi vào chiều sâu, hiệu quả, nhất là đối với các đối tác chiến lược. Đến nay, Việt Nam đã có quan hệ quốc phòng với hơn 60 nước, bao gồm cả các cường quốc; đã thiết lập cơ quan tùy viên quốc phòng của Việt Nam tại 34 quốc gia và có 45 nước đặt cơ quan tùy viên quốc phòng tại nước ta. Quan hệ quốc phòng song phương giữa Việt Nam với các nước không chỉ góp phần củng cố tình đoàn kết, hữu nghị, tăng cường hiểu biết và tin cậy lẫn nhau, mà còn thúc đẩy nhiều lĩnh vực hợp tác, ngăn ngừa xung đột, giải quyết các vấn đề an ninh đang nổi lên, tạo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội và giữ vững công cuộc lao động hòa bình của nhân dân. Trong đối ngoại quốc phòng, việc phối hợp tuần tra biên giới trên bộ, trên biển; hợp tác về huấn luyện, đào tạo; về khoa học công nghệ quân sự... là những lĩnh vực hợp tác quốc phòng quan trọng, ngày càng đi vào chiều sâu, đạt hiệu quả thiết thực. Đối với quan hệ quốc phòng đa phương cũng có bước phát triển vượt bậc cả về lượng và chất. Từ chỗ quan hệ ở mức hạn chế, Việt Nam đã tích cực tham gia vào tất cả các cơ chế hợp tác về quốc phòng, an ninh chủ yếu của khu vực, như : Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN (ADMM), Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN mở rộng (ADMM+), Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF) và các diễn đàn đối thoại quốc phòng, an ninh quan trọng khác. Trong quan hệ này, chúng ta không chỉ mở rộng và đa dạng hóa quan hệ, mà còn thực hiện đúng quan điểm của Đảng trong HNQT về quốc phòng; đã chủ động thúc đẩy hợp tác thông qua các sáng kiến để làm cho các mối quan hệ hợp tác sẵn có hiệu quả hơn; đồng thời, tích cực xây dựng các cơ chế hợp tác mới có lợi cho hòa bình và an ninh ở khu vực. Do vậy, vai trò của Việt Nam trong các cơ chế hợp tác quốc phòng, an ninh khu vực được cộng đồng quốc tế đánh giá cao.
Trong những năm tới, tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường, tác động trực tiếp đến công tác HNQT và đối ngoại về quốc phòng của nước ta. Vì vậy, để thực hiện tốt công tác HNQT và đối ngoại về quốc phòng đòi hỏi chúng ta phải quán triệt sâu sắc, vận dụng sáng tạo các chỉ thị, nghị quyết của Đảng về quốc phòng, an ninh và đối ngoại; trong đó, cần tập trung quán triệt và thực hiện triệt để Nghị quyết số 806-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương về HNQT và đối ngoại về quốc phòng đến năm 2020 và những năm tiếp theo.
Nội dung quán triệt cần làm rõ tư duy của Đảng về sự gắn bó mật thiết, hữu cơ giữa mục tiêu, chính sách của công tác HNQT và đối ngoại về quốc phòng với việc thực hiện các mục tiêu Chiến lược xây dựng và BVTQ đã được thể hiện rõ trong Nghị quyết số 806-NQ/QUTW. Đó là: HNQT và đối ngoại về quốc phòng phải nhằm “bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN; bảo vệ sự nghiệp đổi mới, CNH, HĐH; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; bảo vệ an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội và nền văn hóa; giữ vững ổn định chính trị và môi trường hòa bình”; đồng thời, “tạo điều kiện thuận lợi cho các lĩnh vực khác HNQT để xây dựng, phát triển đất nước theo định hướng XHCN”. Như vậy, các mục tiêu xây dựng và BVTQ luôn gắn bó, thống nhất với mục tiêu của HNQT và đối ngoại về quốc phòng. Các mục tiêu này cũng thể hiện sự đánh giá cao vai trò và khả năng của HNQT và đối ngoại về quốc phòng trong việc thực hiện các mục tiêu xây dựng và BVTQ. Đảng và Nhà nước ta luôn coi HNQT và đối ngoại về quốc phòng là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của quốc phòng Việt Nam. Trong điều kiện hiện nay, môi trường an ninh của đất nước đã có nhiều thay đổi. Cục diện chính trị thế giới, khu vực cũng đang biến động nhanh chóng, khó lường. Châu Á - Thái Bình dương trở thành khu vực quan trọng nhất của thế giới và là trọng tâm chiến lược toàn cầu của các cường quốc. Sự can dự ngày càng sâu, trên các lĩnh vực của các nước lớn vào khu vực này sẽ tạo ra nhiều cơ hội, nhưng đồng thời có không ít thách thức đối với quốc phòng - an ninh của nước ta. Trong điều kiện đó, HNQT và đối ngoại về quốc phòng phải là công cụ đắc lực của Đảng, Nhà nước để tăng cường hiểu biết, tin cậy lẫn nhau về chiến lược với các đối tác, nhất là đối với các nước lớn có liên quan đến quốc phòng - an ninh của Việt Nam. Đồng thời, đó còn là một trong những nhân tố quan trọng để nâng cao thế và lực của đất nước; tạo ra thế trận đối ngoại quốc phòng vững chắc với các cơ chế hợp tác mới, cả song phương và đa phương, góp phần tạo dựng một cấu trúc an ninh khu vực nhiều tầng, nhiều lớp, có tác dụng duy trì và củng cố hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển trong khu vực. Bên cạnh đó, với khả năng tranh thủ các nguồn lực và điều kiện quốc tế thuận lợi, HNQT và đối ngoại về quốc phòng sẽ góp phần quan trọng trong xây dựng quân đội nhân dân “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại” và nâng cao tiềm lực, sức mạnh quốc phòng của đất nước. Không những thế, việc kết hợp chặt chẽ giữa hợp tác và đấu tranh trong HNQT và đối ngoại về quốc phòng sẽ tạo cơ hội thực hiện chủ trương thêm bạn, bớt thù; giữ vững ổn định đất nước từ bên trong; tạo khả năng to lớn để thực hiện kế sách BVTQ từ xa, vững chắc. Ngoài ra, HNQT và đối ngoại về quốc phòng còn trực tiếp tham gia và tạo điều kiện để các lĩnh vực khác HNQT, nhất là hội nhập kinh tế quốc tế, góp phần đáng kể vào sự nghiệp CNH, HĐH đất nước; thúc đẩy sự liên kết mới giữa quốc phòng với kinh tế, kinh tế với quốc phòng, nâng cao sức mạnh tổng hợp để xây dựng và BVTQ với các mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ đã xác định. Công tác HNQT và đối ngoại về quốc phòng cần tranh thủ thời cơ, vượt qua thách thức, chủ động, tích cực triển khai đồng bộ, toàn diện các giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 806-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương; trong đó, cần tập trung làm tốt một số nội dung cơ bản sau:
Một là, đẩy mạnh và nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu, dự báo tình hình và tham mưu chiến lược; từ đó, chủ động trong xây dựng và thực hiện thắng lợi chiến lược HNQT về quốc phòng trong điều kiện mới. Trong đó, việc nắm tình hình phải được tổ chức chặt chẽ, thông qua nhiều kênh khác nhau để đối chiếu, kiểm chứng độ xác thực; đồng thời, coi trọng công tác phối hợp giữa các cơ quan, nhất là đối với các cơ quan chuyên trách về nghiên cứu, thu thập và xử lý thông tin để rút ra kết luận chính xác, kịp thời. Cùng với việc nắm bắt tình hình, cần làm tốt công tác nghiên cứu, dự báo và tham mưu chiến lược, trước hết là tham mưu chiến lược cho Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng tranh thủ thời cơ có lợi, ra các quyết sách kịp thời, phù hợp, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và BVTQ, thực hiện bảo vệ đất nước từ xa, không để bất ngờ về chiến lược. Trong điều kiện tình hình quốc tế có những diễn biến phức tạp, công tác tham mưu chiến lược trong HNQT và đối ngoại về quốc phòng phải đề xuất được các kế sách hay, phù hợp với điều kiện đất nước, xu thế thời đại, bảo đảm vừa giữ vững được độc lập, tự chủ, vừa không để đất nước bị cuốn vào quá trình cạnh tranh phức tạp giữa các cường quốc.
Hai là, tiếp tục mở rộng hợp tác quốc phòng song phương và đa phương nhưng phải có trọng điểm, ưu tiên những đối tác có tầm quan trọng chiến lược. Trước hết, cần tăng cường, đổi mới quan hệ quốc phòng với các nước láng giềng, các nước bạn bè truyền thống, các nước ASEAN, nhằm nâng cao hiệu quả hợp tác trong các cơ chế hợp tác quốc phòng do ASEAN giữ vai trò chủ đạo. Đồng thời, coi trọng quan hệ với các nước lớn, các đối tác chiến lược, nhằm tăng cường lòng tin, sự hiểu biết lẫn nhau để đẩy mạnh hợp tác; tích cực tham gia các hoạt động quốc tế một cách có trách nhiệm, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp tăng cường quốc phòng, BVTQ. Quá trình thực hiện HNQT và đối ngoại về quốc phòng, cần chú trọng ưu tiên cho hoạt động của Bộ đội Biên phòng và các quân khu giáp biên giới; quan hệ giữa các quân chủng, binh chủng, học viện, nhà trường và khối doanh nghiệp quốc phòng với các đối tác. Qua đó, nâng cao hiệu quả các cơ chế hợp tác, như: tuần tra chung, thiết lập đường dây nóng, diễn tập chung, nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia và giải quyết các vấn đề nảy sinh ở khu vực biên giới ngay từ cơ sở; đồng thời, chủ động hợp tác thực hiện kiểm soát, giải quyết các vấn đề về an ninh biển trong khu vực để phòng ngừa xung đột và giải quyết các vấn đề trên biển đang nổi lên.
Ba là, tăng cường công tác phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị làm công tác HNQT và đối ngoại về quốc phòng và phối hợp với các bộ, ngành, địa phương có liên quan. Trước mắt, cần nghiên cứu và xây dựng cơ chế phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị làm công tác HNQT và đối ngoại về quốc phòng trong toàn quân để thực hiện liên kết công tác này trong các ngành, lĩnh vực của quân đội với các quan hệ hợp tác quốc phòng khác thành một hệ thống chặt chẽ, nhằm tranh thủ lợi thế của đất nước, của quân đội trong thực hiện công tác HNQT và đối ngoại về quốc phòng. Về lâu dài, cần duy trì và tạo chuyển biến mới trong công tác phối hợp giữa Bộ Quốc phòng với các bộ, ban, ngành trung ương và các địa phương có liên quan để nâng cao hiệu quả HNQT về quốc phòng nói riêng, HNQT của cả nước nói chung.
Bốn là, tiếp tục kiện toàn hệ thống các cơ quan, đơn vị làm công tác HNQT và đối ngoại về quốc phòng; đồng thời, nâng cao chất lượng cán bộ quân đội trực tiếp làm công tác đối ngoại. Trong đó, hệ thống cơ quan, đơn vị chuyên trách về đối ngoại quốc phòng cần tiếp tục được kiện toàn cả về tổ chức biên chế và chức năng, nhiệm vụ, tạo động lực mới hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Cùng với chú trọng xây dựng tiêu chuẩn, quy chế đào tạo, bồi dưỡng đối với cán bộ làm công tác đối ngoại, các cơ quan chức năng của Bộ Quốc phòng cần sớm nghiên cứu, ban hành các chính sách đãi ngộ phù hợp để thu hút cán bộ có năng lực, trình độ và phẩm chất đạo đức tham gia công tác đối ngoại quốc phòng, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ đối ngoại và HNQT của quân đội.
Năm là, kết hợp tăng cường đầu tư cơ sở vật chất với nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực phục vụ công tác HNQT và đối ngoại về quốc phòng. Cùng với việc sử dụng ngân sách, các cơ quan, đơn vị cần tranh thủ khai thác các nguồn lực cả ở trong và ngoài nước để phục vụ ngày càng tốt hơn các yêu cầu của quá trình HNQT về quốc phòng. Trong đó, cần ưu tiên đầu tư trang bị cơ sở vật chất, phương tiện làm việc hiện đại cho các lực lượng trực tiếp làm nhiệm vụ đối ngoại ở khu vực biên giới đất liền, các bến cảng và trên biển, bảo đảm vừa đủ sức hoàn thành tốt nhiệm vụ trong mọi tình huống, vừa góp phần nâng cao vị thế, uy tín của quân đội và đất nước trên trường quốc tế.
Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, sự phối hợp chặt chẽ của các bộ, ban, ngành trung ương và địa phương cùng sự ủng hộ rộng rãi, mạnh mẽ của các tầng lớp nhân dân, công tác HNQT và đối ngoại về quốc phòng trong những năm tới sẽ tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng và BVTQ.
Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh