Ngày 07/08/2021739
Do vị trí địa lý thuận lợi “tiếp liền với cảnh thổ Chân Lạp”, lại có hai thuỷ đạo sông Tiền, sông Hậu chảy từ Nam Vang vào đất Nam Bộ qua cửa khẩu Châu Đốc, vì vậy con đường buôn bán giữa Gia Định - Nam Vang dần dần được hình thành.
Trong thế kỷ XVIII-XIX, Châu Đốc là vùng biên thuỳ quan trọng ở tuyến biên giới Tây-Nam, nơi đây từng được coi là “phong vũ biểu” không chỉ trong mối quan hệ bang giao giữa Đàng Trong với Chân Lạp, mà nó còn là “hàn thử biểu” của mối giao thương Gia Địn - Nam Vang. Do đó, con đường buôn bán Gia Định- Nam Vang không chỉ có tác động đến sự phát triển kinh tế của vùng đất này, mà còn ảnh hưởng đến tình hình chính trị, xã hội, giao lưu văn hoá của các cộng đồng cư dân trong khu vực, cũng như vấn đề bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của nhà Nguyễn. Bài viết này bước đầu tìm hiểu về vùng đất cửa khẩu Châu Đốc trên con đường giao thương Gia Định- Nam Vang và những tác động, ảnh hưởng của nó đến vùng biên ải Tây Nam từ thế kỷ XVIII- XIX.
1. Tình hình buôn bán ở cửa khẩu Châu Đốc từ năm 1757-1802
Đến năm 1757, đất đạo Châu Đốc trở thành chủ quyền chúa Nguyễn. Vùng đất mới này có tên là "Châu Đốc tân cương", lưu dân Việt đến đây còn ít ỏi. Nửa sau thế kỷ XVIII, chúa Nguyễn đã lập ra ở vùng Châu Đốc các quan tấn: Châu Giang, Tân Châu, Đông Xuyên, Chiến Sai... để vừa kết hợp quản lý chủ quyền lãnh thổ, vừa kiểm soát thu thuế tuần ty với các thuyền buôn Gia Định - Nam Vang. Con đường buôn bán Gia Định- Nam Vang được khai thông.
Về cơ bản, thời kỳ cuối thế kỷ XVIII ở Nam Bộ, Nguyễn Ánh có hai chính sách kinh tế quan trọng: khuyến nông, cấm giết trâu bò để có sức kéo sản xuất nhằm có nhiều thóc gạo cho quân lương và buôn bán với nước ngoài đổi lấy vũ khí quân dụng nhằm đánh bại vương triều Tây Sơn. Nguyễn Ánh cấm dân buôn bán với người nước ngoài, nếu lén lút sẽ bị trừng trị nặng. Chính quyền Nguyễn Ánh giành độc quyền buôn bán để phục vụ nhiệm vụ quân sự. Khuyến khích tàu nước ngoài đến bán vũ khí, đạn dược hay nguyên liệu để chế thành súng đạn. Như vào tháng 5 năm Kỷ Dậu (1789), quy định: những thuyền buôn người Thanh nếu chở đến 4 thứ: sắt, gang, kẽm, lưu huỳnh thì nhà vua mua cả. Nếu số hàng đem đến nhiều thì miễn không thu thuế cảng, lại còn cho mua nhiều hàng chở về. Nếu tàu nào chở đến 10 vạn cân được xếp hạng nhất, miễn thuế cảng, cho chở gạo về 30 vạn cân, chở đến 6 vạn cân là hạng nhì, cho chở gạo về 22 vạn cân, chở đến 4 vạn cân thì cho chở về 15 vạn cân... Với chính sách này, đã có nhiều thuyền buôn mang hàng quân dụng đến bán nên Nguyễn Ánh mua sắm được số lượng vũ khí khá dồi dào. Khi chính sách buôn bán với người Thanh có kết quả tốt, Nguyễn Ánh cũng đã có những chính sách tương tự với người Xiêm. Năm 1797 quy định: Thuyền buôn người Xiêm đến buôn ở Nam Bộ, hạng thuyền lớn chở 30.000 cân sắt, hạng trung 20.000 cân, hạng nhỏ 10.000 cân trở lên đến bán theo giá cả thì được mua các sản vật tơ, vải... Nếu không thì bị cấm, không cho đến buôn bán Với những quy định như trên, Nguyễn Ánh đã thu được những kết quả như mong muốn.
Việc cấm dân buôn bán đường biển ra nước ngoài và thuyền buôn các nước không được chở trộm vật cấm như thóc gạo, kỳ nam, trầm hương, ngà voi, sừng tê ngoài mục đích như nói trên, còn có thể do Nguyễn Ánh không muốn tư thương chở gạo bán ra phía Bắc, địa bàn quân Tây Sơn.
Tuy vậy, khác với chính sách ngăn cấm buôn bán tuyến biển, đối với Chân Lạp và Xiêm La thì Nguyễn Ánh lại không cấm. Có chăng, những lúc cấm đó chỉ là "việc quyền nghi một thời" nhằm tranh thủ Chân Lạp, vì sợ tư thương Việt ngoài buôn bán còn tranh chiếm và làm những việc tổn thương đến quan hệ "hoà hiếu" của "lân bang" mà Nguyễn Ánh đang muốn tranh thủ, lợi dụng, nhằm tạo một địa bàn, một chỗ dựa an toàn, tiến thoái khi "thiên nan, vạn nan" để tập trung lực lượng chống lại Tây Sơn. Ví như, năm 1790, Nguyễn Ánh cấm thuyền buôn Nam Kỳ không được đi qua các đạo thủ Quang Hoá, Tuyên Uy, Thông Bình để sang buôn ở Chân Lạp, hoặc sai lấy 68 sở thuỷ lợi ở Hậu Diện thuộc Tiền giang và ở Châu Đốc thuộc Hậu giang trả về Chân Lạp, cấm người Việt không được xâm lấn hoặc mua riêng.
Chính sách tranh thủ Xiêm- Miên của Nguyễn Ánh đã góp phần làm cho lực lượng Đàng Trong được bảo toàn. Trong những lần bị quân Tây Sơn đuổi dài, Nguyễn Ánh "tẩu quốc" đến nương nhờ Xiêm vương, chờ cơ hội "phục quốc". Ngoài ra, người Xiêm còn sai quân để giúp Nguyễn Ánh về đánh lại Tây Sơn. Tuy nhiên, do Nguyễn Văn Thành can ngăn, nên Nguyễn Ánh từ chối. Trong thời gian dốc sức cuối cùng để giành thắng lợi quyết định với quân Tây Sơn, vì thiếu lương quân, Nguyễn Ánh phải nhờ đến lương thực Xiêm- Miên. Đầu năm 1802, Nguyễn Ánh sai đi mua thóc ở Xiêm500 xe và thu ở Chân Lạp 1.000 xe để cấp cho quân sĩ. Thắng lợi của Nguyễn Ánh trước Tây Sơn, một phần quan trọng do nguyên nhân tranh thủ được Chân Lạp và Xiêm La.
Do đó, nửa sau thế kỷ XVIII, ở tuyến biển Nguyễn Ánh "đóng cửa", cấm ngặt dân buôn bán ra nước ngoài và cấm tàu thuyền nước ngoài mua những thứ cấm. Trái lại, ở tuyến Tây-Nam, Nguyễn Ánh mở cửa cho buôn bán, cho thuyền buôn Chân Lạp và thuyền buôn nước ngoài đi từ Ba Xắc đến Nam Vang (1795) như vua Chân Lạp xin. Người Chân Lạp đến buôn ở Nam Kỳ chủ yếu là muối và gạo, là những thứ họ thiếu nhiều nhất. Vì vậy, Nguyễn Ánh đã ban ấn "Ngự tứ thông hành" để họ đi qua cửa khẩu Trấn Di và cửa khẩu Châu Đốc được thuận tiện (1795). Dân Nam Kỳ đi buôn Nam Vang cũng được phê bằng đóng dấu triện "Thông hành thủ tín" (thông hành giữ làm tin). Lệ thuế thuyền buôn Gia Định- Nam Vang, hạng nhất 300 quan, hạng nhì 200 quan, hạng ba 100 quan.
Như vậy, ở tuyến biển, trong nửa sau thế kỷ XVIII, Nguyễn Ánh giữ độc quyền buôn với nước ngoài, nhằm mua bán vũ khí phục vụ chiến tranh chống Tây Sơn, còn cấm hẳn tư thương buôn bán lén lút, ai làm trái thì bị trị tội nặng, xử 100 roi, xiềng sung dịch 3 năm, tài sản sung công. Nhưng đối với Chân Lạp và Xiêm La thì Nguyễn Ánh không cấm, thậm chí còn tạo điều kiện cho con đường buôn bán Gia Định- Nam Vang thông thương, mà chủ yếu qua cửa khẩu Châu Đốc, vì đi vòng đường biển Hà Tiên thì xa hơn nhiều.
2. Tình hình giao thương giữa Châu Đốc-Chân Lạp từ năm 1802-1867
a. Chính sách buôn bán
Chính sách buôn bán của triều Nguyễn đối với biên giới Tây- Nam là sự tiếp tục chính sách của Nguyễn Ánh nửa sau thế kỷ XVIII, mà luồng buôn bán, giao thương qua hai đường chính là cửa khẩu Châu Đốc và đường biển Hà Tiên. Tuy nhiên, nếu thuyền buôn Gia Định đi Nam Vang qua cửa khẩu Châu Đốc sẽ gần hơn đi vòng đường biển Hà Tiên, vì Châu Đốc cách Nam Vang chỉ có 244 dặm rưỡi.
- Về lệ thuế: năm 1802, khi vừa lên ngôi, vua Gia Long quy định lệ thuế thuyền Nam Kỳ đi buôn Nam Vang chia làm 3 hạng như sau: Hạng nhất tiền thuế 210 quan, hạng nhì 140 quan, hạng ba 70 quan. Tuy nhiên, thời kỳ này do không quy định thước, tấc nên người buôn dùng tre kết thành bè chở hàng không có hạn lượng. Mãi đến năm 1836, Minh Mệnh mới sai địa phương đo kích thước bề ngang thuyền làm thành danh sách nộp tại sở tào chính địa phương và định lại mức thuế: thuyền hạng nhất có xà ngang 7 thước trở lên mỗi lần tiền thuế 200 quan, hạng nhì 6 thước trở lên thuế 150 quan, hạng ba 5 thước thuế 100 quan. Còn những thuyền buôn trong 5 tỉnh Nam Kỳ nếu đi buôn Chân Lạp mà thân thuyền ngắn hơn, không sâu rộng như thuyền đi buôn Chân Lạp thì đánh thuế thêm như: thuế nội hạt bề ngang lòng thuyền 6 thước thu 5 quan, 5 thước thu 3 quan, nay thu gấp đôi. Thuế nội hạt loại thuyền 4 thước 8- 9 tấc trở xuống là 1,5 quan nay thu gấp rưỡi là 2 quan 2 tiền 30 đồng. Đến năm 1839 quy định thêm lệ thuế thuyền buôn Nam Kỳ đi buôn Chân Lạp, được nêu trong bảng 1 như sau:
Bảng 1: Thuế thuyền buôn Nam Kỳ - Chân Lạp
|
TT |
Kích thước thuyền |
Mức thuế |
Ghi chú |
|
1 |
4 thước 8-9 tấc trở xuống |
2 quan 1 tiền 30 đồng |
Như lệ thuế năm 1836 |
|
2 |
5 thước trở lên |
6.0.00 |
" |
|
3 |
6 thước trở lên |
10.0.00 |
" |
|
4 |
7 thước trở lên |
14.0.00 |
Mới định |
|
5 |
8 thước trở lên |
18.0.00 |
" |
|
6 |
9 thước trở lên |
22.0.00 |
" |
|
7 |
10 thước trở lên |
Theo lệ trên tăng thêm lên |
" |
Ngoài lệ thuế buôn bán, triều Nguyễn còn có những quy định khá cụ thể điều lệ xét hỏi việc kiểm soát buôn bán qua biên giới ở cửa khẩu Châu Đốc. Theo quy định năm 1851 thì:
+ Thuyền dân người Kinh, người Thanh, người Man, người Thổ Nam Kỳ muốn đi buôn Cao Miên đều phải kê rõ họ tên "quán chỉ" thuyền, số người bao nhiêu, đi bao nhiêu ngày thì về, cần có lý trưởng, bang trưởng "kết nhận", quan tỉnh xét thực phê vào làm bằng. Nếu mang hàng cấm, người dị dạng thì bắt giải về tỉnh để xét. Nếu quá hạn dưới một tháng thì "tạm ghi lỗi", ngoài một tháng thì phạt nặng chủ thuyền, ngoài ba tháng mà không thấy trở về thì đem những người bảo đảm "kết nhận" xét rõ trị tội nặng.
+ Thuyền người nước Thanh, người Thổ nước Cao Miên xin giấy ở quan Phiên đến tỉnh An Giang buôn bán phải qua các đồn bảo xét thực cho đi, khi xong việc trở về đem giấy phê làm bằng trước đổi cho "tờ trát", hết hạn đem về nộp. Nếu quá hạn thì tra xét xem thuyền ấy đã đến hạt nào tự cho hạt ấy đuổi về thu lại trát của tỉnh, phát giao giấy bằng cũ rồi tha về. Nếu chở trộm vật cấm thì bắt giải tỉnh xét...
- Việc "đóng cửa", "mở cửa" biên giới buôn bán ở cửa khẩu Châu Đốc và tuyến Tây-Nam: từ năm 1802-1833, quan hệ giữa nhà Nguyễn và Chân Lạp bình thường nên con đường buôn bán Gia Định- Nam Vang diễn ra tốt đẹp, thậm chí có lúc Gia Long còn tạo điều kiện thuận lợi cho thuyền buôn Chân Lạp và miễn thuế cho, như năm 1806 đến 1808, Gia Long lại ban ấn "Ngự tứ thông hành chi ấn" cho người Chân Lạp và miễn thuế cho những người Chân Lạp, người Thanh buôn bán ở Nam Kỳ nếu có bài thuyền và ấn triện hợp lệ. Nhưng từ năm 1833, sau khi Lê Văn Khôi khởi binh ở Nam Kỳ, việc buôn bán giữa Gia Định - Nam Vang bị cấm hẳn. Cuối năm 1834, tỉnh thần An Giang là Nguyễn Công Trứ tâu xin, Minh Mệnh tạm bỏ lệnh cấm tư nhân chuyên chở gạo, muối, cho dân Kinh được sang Chân Lạp buôn bán và đến tháng 4 năm Ất Mùi (1835) thì bỏ hẳn lệnh cấm, cho thông thương như cũ.
Tuy nhiên, năm 1840 chiến tranh xảy ra khắp đất Nam Kỳ, tàn phá đất Châu Đốc, Vĩnh Tế, Thất Sơn, Hà Tiên và kéo dài mãi đến năm 1847. Vì vậy, việc giao thương giữa Nam Kỳ- Chân Lạp bị đình chỉ. Năm 1846, triều Nguyễn cho mở trường giao dịch (chợ biên giới) ở Đa Phúc gần thành Châu Đốc, phủ Tây Ninh, tỉnh Biên Hoà để dân vùng biên giới thông thương. Sau chiến tranh từ năm 1847 trở đi, triều Nguyễn lại mở cửa biên giới cho buôn bán trở lại. Cho đến năm 1853, dân Cao Miên bị đói, triều đình sợ người Miên đến Nam Kỳ mua nhiều thóc gạo làm cho giá cả đắt lên, nên cấm mua bán...
Như vậy, từ năm 1802-1867, trên cơ bản triều Nguyễn mở cửa "cho buôn bán thông thương giữa Nam Kỳ- Chân Lạp, đặc biệt là hai thứ muối, gạo". Việc "đóng cửa" hay "mở cửa" trục buôn bán Gia Định- Nam Vang qua cửa khẩu Châu Đốc nhìn chung bị chi phối chủ yếu do nguyên nhân chính trị và quân sự.
Dưới thời phong kiến, nhà Nguyễn vẫn coi nước Chân Lạp là một phiên thuộc, dân Chân Lạp là "con đỏ của triều đình", cho nên việc mở cửa cho buôn bán cũng là để thể hiện "nhất thị đồng nhân". Điều đó có thể giải thích rõ một phần tại sao ở tuyến biển cấm rất chặt, không cho tư nhân buôn bán ra nước ngoài, cho đến năm 1876 Tự Đức mới "mở cửa", thì ở tuyến Tây- Nam triều Nguyễn không cấm (trừ những thời gian ngắn có chiến tranh). Thời kỳ này cuộc tranh giành ảnh hưởng ở Chân Lạp của phong kiến Việt và phong kiến Xiêm diễn ra khá gay gắt, thể hiện bằng cuộc xung đột năm 1840-1847, tàn phá đất Tây- Nam, buôn bán bị tắc nghẽn và đời sống của dân Nam Kỳ khổ cực, một phần do ảnh hưởng nặng nề của nạn can qua.
- Việc thu thuế thuyền buôn bằng hiện vật
Trong lệ thuế Minh Mệnh năm 1836 quy định: các thuyền buôn đến buôn bán từ Nam Kỳ đến Chân Lạp và ngược lại đều chiếu thu gạo, muối bằng 1/10 số lượng hàng hoá (giá mỗi phương gạo 1 quan tiền, 1 phương muối giá 3 tiền) trừ vào tiền thuế. Nếu các thuyền buôn chở hàng hoá đi qua lại địa phận các đồn thủ ở Châu Đốc như Châu Giang, Tân Châu, An Lạc, Trấn Di và nhánh sông Đông Xuyên thuộc Hậu giang đều do viên đồn khám đo, chiết hạng thu thuế. Hoặc là khi thuyền đi buôn Chân Lạp, thuyền ấy thuộc hạng nào, chở số muối, gạo bao nhiêu, quan địa phương phê giấy nói rõ khi đến nơi xét thực đánh thuế bằng 1/10 hàng hoá, thu thuế bằng muối, gạo như trên. Nếu thiếu muối, gạo thì thu thuế tiền cho đủ ngạch thuế, nếu thừa muối, gạo thì mua hết và trả tiền theo giá quy định trên. Thuyền Nam Kỳ đi buôn Chân Lạp hoặc ngược lại tính theo lệ này thu thuế. Lệ thuế năm 1839 cũng nhắc lại lệ thu thuế bằng muối, gạo thay tiền thực hiện như trước.
Như vậy, thuế được thu bằng hiện vật gạo và muối thay tiền. Tại sao lại như vậy? Thời kỳ này ở tuyến Tây- Nam thường xảy ra chiến tranh biên giới và bị Xiêm xâm lược (1833, 1841), có lúc chiến tranh kéo dài (1840-1847) trên đất Nam Kỳ và Chân Lạp. Vì vậy, khi có chiến tranh, quan quân Nguyễn đến Nam Kỳ và Chân Lạp rất đông, lượng lương thực cho quân tốn phí rất nhiều. Vì vậy, việc thu thuế buôn chuyến bằng gạo, muối thay tiền nhằm lấy làm lương quân là một biện pháp kinh tế- quân sự đạt kết quả và làm lợi cho nhà nước khá nhiều.
- Về mức thuế, có 2 loại tiền thuế: thuế cửa quan bến tuần và thuế hàng hoá. Thuế cửa quan bến tuần là thuế đánh vào phương tiện theo chuyến, phân hạng thu theo kích thước lớn nhỏ của thuyền buôn. Thuế hàng hoá là thuế đánh vào khối lượng hoặc số lượng hàng hoá buôn bán. Mức thuế bằng 1/10 giá trị hàng hoá (tức 10%).
b. Việc buôn bán
Như trên đã nói, do vị trí địa lý gần Nam Vang hơn Hà Tiên, lại có hai thuỷ đạo lớn thông thương, nên Châu Đốc là cửa khẩu trên trục buôn bán Gia Định- Nam Vang. Thứ hai, do điều kiện sông rạch, đường thuỷ liền nhau "nên dân phần nhiều ở thuyền buôn bán kiếm lời". Vị trí địa lý và địa hình đã hình thành một cách tự nhiên luồng buôn bán này. Thứ ba, đến thời Nguyễn, kinh tế hàng hoá đã phát triển, đặc biệt ở Nam Kỳ khá mạnh. Lợi nhuận do buôn bán tạo ra hấp dẫn rất nhiều người đi buôn, tâm lý buôn bán cũng sớm hình thành trong suy nghĩ của người dân Châu Đốc.
"Cắt lúa làm chi đau lưng mỏi cổ
Bước xuống ghe hàng cầm chỗ bán buôn"
Hơn nữa, Chân Lạp dù đất rộng, phì nhiêu, nhưng "dân Phiên phần nhiều vì có lòng sợ khó, ngại khổ, bỏ không cày cấy", cho nên đói kém vẫn thường hay xảy ra. Vì thế, những thứ mà người Chân Lạp thường thiếu nhất là muối với gạo và họ hay phải đến Hà Tiên, Châu Đốc và Nam Kỳ để mua. Mặt khác, thời đó đất Chân Lạp rất nhiều sản vật quý, những núi đậu khấu làm người Xiêm rất thích, ngà voi, sừng tê, sa nhân, gân hươu, mật ong, gỗ quý... giá cả lại rẻ, người Chân Lạp thì có những thứ không biết cách khai thác... Vì vậy, đã cuốn hút nhiều người đi buôn Chân Lạp, đặc biệt những người Hoa ở Nam Kỳ. Con đường buôn bán Gia Định- Nam Vang diễn ra khá tấp nập. Có lúc dân Nam Kỳ đi buôn thành từng đoàn lên đến 500 người ở các sách man Cổ Khăng, Bồ Lô (Chân Lạp) lại cầm binh khí để tự vệ làm cho những người Xiêm cũng phải sợ, đề phòng, nên sau Gia Long quy định chỉ được cấp giấy thông hành tối đa là 10 người để láng giềng khỏi phải sợ.
Ở Châu Đốc, huyện Đông Xuyên là nơi trồng dâu nuôi tằm nổi tiếng, đặc biệt mặt hàng lụa Mỹ A, Cẩm Tự của Tân Châu được bán sang tận Chân Lạp, Lào, thậm chí sang cả đến Xiêm, Hạ Châu (Singapore), Ấn Độ, Philipin. Giữa thế kỷ XVIII, lái buôn phương Tây Pierre Poire đến Gia Định đã đặc biệt chú ý tơ lụa Tân Châu. Trong ký ức người Chăm, nơi đây vẫn còn lưu giữ giai thoại hình ảnh về những chiếc thuyền con của người Chăm buôn hàng từ Chân Lạp về chạy ngang luồn lách, đến nỗi canô tuần tiễu của thực dân Pháp không tài nào đuổi bắt được. Người Hoa ở Châu Đốc nắm vai trò chủ đạo trong lĩnh vực thương mại. Khi người Pháp mới đến miền Tây đã vấp phải sự cạnh tranh của thương nhân Hoa kiều, vì họ có đường dây buôn bán với Trung Hoa qua ngả Hà Tiên và Cao Miên. Người Hoa buôn bán lúa gạo, tơ lụa Tân Châu đưa sang Nam Vang và thu gom các sản phẩm quý của núi rừng như mật ong, đậu khấu, sa nhân, nhung hươu, ngà voi... Vùng gốm của người Khmer ở Tri Tôn hàng năm xuất nhiều nồi, cà ràng, trách, om... ở các làng Nam Quy, Châu Lăng, Trà Đảnh sang Nam Vang.
Để tăng cường giao thương buôn bán của cư dân hai bên biên giới, triều Nguyễn cho mở trường giao dịch (chợ biên giới) ở Đa Phúc, gần thành Châu Đốc (1844), mỗi tháng chợ họp 6 kỳ, mỗi kỳ 2 ngày. Người Kinh, Thổ, Thanh, Chăm đi lại buôn bán rất nhiều. Việc mở trường giao dịch ở Châu Đốc không chỉ để lưu thông hàng hoá, làm sinh kế cho dân, mà còn nhân đó để triều Nguyễn nắm tình hình biên giới và "bí mật phòng ngừa", "không để cho tình hình ngoài biên giới tiết lậu". Trong thời gian biên giới yên ổn, việc giao thương qua cửa khẩu Châu Đốc được duy trì, thuyền buôn qua lại nhiều thì nhà nước cũng thu về một số tiền thuế đáng kể. Thống kê tiền thuế các cửa quan Châu Đốc từ năm 1837-1840 ở bảng 2 thể hiện một phần điều đó.
Bảng 2: Thống kê tiền thuế thu ở các cửa khẩu Châu Đốc
|
TT |
Tên sở |
1837 |
1838 |
1839 |
1840 |
Cộng |
|
1 |
Châu Giang |
4.899 |
8.934 |
9.236 |
9.067 |
32.136 |
|
2 |
Đông Xuyên |
734 |
1.277 |
2.338 |
1.755 |
6.104 |
|
3 |
An Lạc |
1.012 |
1.240 |
1.404 |
949 |
4.605 |
|
4 |
Tân Châu |
3.742 |
4.950 |
5.506 |
4.241 |
18.439 |
|
|
Cộng |
10.387 |
16.401 |
18.484 |
16.012 |
61.284 |
Từ tháng 8 năm Canh Tý (1840) do có chiến tranh biên giới, nên thuế năm này thu được ít hơn trước. Năm 1843, triều Nguyễn cho đình miễn thu thuế ở cả 4 sở này.
Như vậy, từ tình hình buôn bán ở cửa khẩu Châu Đốc có thể nhận thấy:
- Nằm trong điều kiện tự nhiên thuận lợi về đất đai, khí hậu thời tiết và nhân văn, nhiều ruộng đất tư, thủ công nghiệp khá, kinh tế hàng hoá phát triển, tâm lý buôn bán sớm hình thành, lại là một cửa khẩu quan trọng trên trục đường giao thương Gia Định - Nam Vang, nên việc buôn bán và kinh tế vùng Châu Đốc được kích thích phát triển. Tình hình buôn bán ở Châu Đốc tác động đến phát triển kinh tế, đặc biệt là kinh tế nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, làm động lực cho phát triển xã hội, hỗ trợ một phần cho ổn định, củng cố độc lập chủ quyền và quản lý bảo vệ lãnh thổ, đồng thời góp phần vào việc trao đổi và giao lưu văn hoá giữa các tộc người trong và ngoài vùng.
- Chính sách buôn bán của triều Nguyễn ở Châu Đốc và Nam Kỳ luôn gắn liền với nhiệm vụ chính trị-quân sự chống xâm lược; quản lý, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và ổn định trật tự xã hội phong kiến. Triều Nguyễn mở cửa cho buôn bán tuyến Tây- Nam, nhưng cấm hẳn tư thương buôn bán tuyến biển vì sợ tiết lậu tình hình, cũng như sợ gạo, muối bị bán đi nhiều làm cho giá cả cao và gây thiếu đói. Lúc bình thường thì mở cửa cho buôn bán, lúc có chiến tranh hoặc biên sự thì nghiêm cấm. Vừa mở cửa cho buôn bán, nhưng thông qua đó để nắm tình hình biên giới; vừa cho phát triển buôn bán vừa kết hợp các quy định thu thuế bằng hiện vật gạo, muối để sung đủ lương quân nơi biên giới; vừa có chính sách an dân, chiêu tập, phát triển buôn bán, ổn định cuộc sống của các nhóm dân cư.
- Người Hoa ở Châu Đốc cũng như Nam Kỳ có tài buôn bán, làm chủ thị trường thương mại, nhưng lại bị sức mạnh của bộ máy hành chính quan liêu áp chế, phong toả nên cũng chỉ phát triển trong chừng mực, không thoát ra khỏi sức mạnh của thể chế. Mặc dù vậy, người Hoa ở Châu Đốc cũng có nhiều đóng góp, hình thành nên các trung tâm buôn bán Châu Đốc, Tân Châu, Cù lao Giêng... trong vùng và phát triển buôn bán ra ngoài vùng, góp phần làm cho buôn bán ở cửa khẩu Châu Đốc phát triển.
Con đường giao thương Gia Định- Nam Vang đã được hình thành và phát triển có ảnh hưởng rất quan trọng đến vùng đất biên ải Tây Nam, kích thích sản xuất nông nghiệp, thủ công nghiệp và kinh tế hàng hoá…ở khu vực biên giới phát triển; góp phần ổn định cư dân, tạo cơ sở xã hội cho nhà nước ở vùng đất mới. Quá trình giao thương ở cửa khẩu Châu Đốc không chỉ tác động quan trọng đến ổn định chính trị, xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho người Việt trong việc việc giữ gìn phong tục tập quán, bảo tồn văn hoá truyền thống, mà còn thúc đẩy sự tiếp xúc, giao lưu văn hoá giữa các tộc người trong khu vực Việt, Khmer, Chăm, Hoa thông qua giao thương buôn bán; là nhân tố quan trọng trong việc cố kết cộng đồng, ổn định tâm lý lưu dân Việt trụ vững, vượt qua những khó khăn trong thời kỳ khẩn hoang buổi đầu ở địa bàn biên cương Tây- Nam phức tạp. Sự phát triển giao thương buôn bán trên con đường Gia Định– Nam Vang đã hỗ trợ tích cực cho những hoạt động quân sự của nhà nước trong việc khẳng định chủ quyền, quản lý và bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ biên giới Tây Nam trong bối cảnh chính trị đầy biến động và phức tạp của khu vực của khu vực ở thế kỷ XVIII– XIX.
TS Cao Thanh Tân