(069). 518.055

Cột cờ Hiền Lương trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước

Ngày 07/08/2021885

Trong kháng chiến chống Mỹ (1954 – 1975), Khu phi quân sự - Vỹ tuyến 17 chính là nơi cả hai phía: Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Việt Nam cộng hòa thể hiện trực tiếp bộ mặt của mình. Cột cờ Hiền Lương ra đời trong ý nghĩa nhằm xây dựng một biểu tượng để nhân dân hai bờ có thể thấy được “sự vượt trội” của mỗi chế độ. Tại đây, liên tục từ năm 1954 đến 1967, đã diễn ra cuộc “chạy đua” độc đáo nhằm giành ưu thế về chiều cao của cột cờ và chiều rộng của lá cờ.

Quốc kỳ là biểu tượng của mỗi quốc gia, dân tộc. Đối với nhân dân Việt Nam, lá cờ đỏ sao vàng còn là biểu tượng của lòng yêu nước, ý chí đấu tranh cho độc lập tự do và thống nhất đất nước. Đặc biệt, ở đầu cầu Hiền Lương, lá cờ đỏ sao vàng còn mang một ý nghĩa lớn hơn thế. Lá cờ đỏ sao vàng trước hết phải là hình ảnh đầu tiên có thể nhìn thấy cho dù đứng ở bất cứ vị trí nào trong Khu phi quân sự. Vì vậy, cờ phải ở độ cao như thế nào để nhân dân bờ Nam có thể thấy được nhằm củng cố thêm nghị lực và ý chí đấu tranh cho ngày thống nhất đất nước, Bắc Nam sum họp một nhà, đồng thời thấy được sự hơn hẳn của chế độ xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc đối với chế độ tay sai miền Nam. Cột cờ Hiền Lương ra đời trong ý nghĩa đó.

alt

Cột cờ Hiền lương trong chiến tranh chống Mỹ

Đối với đối phương, cột cờ Hiền Lương “không chỉ là nơi dừng chân của lý tưởng quốc gia” mà còn là nơi “tung ra khắp bốn phương trời cái lý tưởng cao siêu của cách mạng nhân vị”  [1]. Do vậy, ở bờ  Nam địch cũng có nhiều nỗ lực nhằm xây dựng một cột cờ chiếm ưu thế so với của ta.

Ngày  8/10/1954, ta dựng cột cờ đầu tiên cao 12m ở sát đầu cầu Hiền Lương, lá cờ rộng 24m2. ở bờ  Nam, địch cắm lá cờ tam tài của Pháp và lá cờ vàng ba sọc đỏ của chính quyền Bảo Đại lên nóc lô cốt Xuân Hòa cao 15m. Sau đó, ta nâng cột cờ lên 18m, lá cờ rộng 32m2. Từ  30/6/1955, Pháp chuyển giao các đồn cảnh sát cho chính quyền Ngô Đình Diệm, lá cờ Pháp bị bỏ đi. Từ đây, cuộc đấu tranh nâng cao cột cờ giữa ta và địch mới thực sự diễn ra gay gắt, thể hiện trình độ kĩ thuật cũng như ý đồ chính trị của mỗi bên.

Tháng 2/1956, chính quyền Ngô Đình Diệm xây cột cờ mới bằng thép cao 25m, lá cờ rộng 96m2. Ngày 19/7/1957, Khu Vĩnh Linh lắp ráp trụ cờ bằng thép ống cao 32m, cách cầu khoảng 50m về phía Bắc, lá cờ rộng 108m2. Cột cờ sơn màu trắng, trên đỉnh gắn ngôi sao bằng đồng có đường kính 1,2m, năm đỉnh sao gắn 15 bóng điện loại 50w. Năm 1961, địch nâng cột cờ lên 35m, cao hơn hẳn cột cờ ta.

Tiếp tục “cuộc đấu tranh”, năm 1962, nhân dịp sửa lại cổng chào và Đồn Công an Hiền Lương bị hư hoại do bão, Trung ương điều hẳn một đơn vị công binh và đưa vật liệu từ Hà Nội vào Vĩnh Linh xây dựng một trụ cờ mới bằng thép ống cao 38,6m, lá cờ rộng 134m2. Với chiều cao của cột cờ và độ rộng của lá cờ, đồng bào bờ  Nam ở tận Dốc Miếu hay trên Kinh Môn cách xa 6 – 8km đều có thể nhìn thấy. Hàng ngày, lá cờ của ta được kéo lên từ 6h30 đến 18h30. Vào dịp lễ tết hay quốc khánh, cờ được duy trì 24/24h.

Cột cờ cao hơn, lá cờ to hơn cũng chưa thỏa mãn nguyện vọng của đồng bào, đồng chí bờ  Nam. Mỗi khi cờ bị phai màu hoặc bị gió đánh rách chưa kịp thay, đồng bào lại nhắn sang yêu cầu ta phải treo cờ thật tươi màu và không để cờ bị rách.        

Biết nhân dân bờ  Nam luôn hướng về miền Bắc qua lá cờ nên địch đã bắt những gia đình ở gần bờ sông phải dỡ nhà chuyển ra xa, thậm chí có lúc chúng còn cấm cả nhân dân nhìn ra Bắc ! Những lúc đó, bà con lại nhắn sang yêu cầu ta hàng ngày kéo cờ sớm hơn, chiều hạ muộn hơn để đồng bào được tự do chào cờ, tránh sự nhòm ngó của địch và nguyện vọng đó đã được ta đáp ứng.

Đối với đồn CANDVT Hiền Lương, để bảo vệ lá cờ, sự vất vả không phải là ít. Lá cờ của ta đã lớn, cột cờ lại cao, gió từ biển thổi vào khá mạnh nên chỉ quật nhẹ vào dây chăng là bị rách. Thông thường mỗi tháng thay một lần nhưng vá cờ thì năm bảy lần. Đặc biệt vào mùa gió nam thổi mạnh, hơi muối từ biển vào làm cờ chóng mục, mau rách nên một tuần phải thay một lá. Tính “từ  19/5/1956 đến 8/10/1967, ta đã treo hết 267 lá cờ các loại”[2]. Sức nặng của lá cờ trên dưới 16kg không đáng là bao nhưng cả khối vải hàng trăm mét ấy xếp lại rất cồng kềnh, mỗi buổi sáng kéo cờ lên có khi phải huy động cả tiểu đội. Vất vả nhất là khi cờ chưa lên đến đỉnh bị cuốn vào dây chăng. Những lúc ấy đòi hỏi người lên sửa phải rất khéo tay và dũng cảm vì đã có lần gió bung đuôi cờ suýt quật ngã người sửa. Vì vậy, trụ cờ xây dựng năm 1962 được thiết kế thêm một cabin ở đốt cuối cùng để ta kéo và thu cờ được thuận tiện hơn. Lá cờ được gói gọn kéo lên đó và chỉ cần hai chiến sĩ cũng treo được cờ mà vẫn đảm bảo an toàn.

Trong khi đó, ở bờ  Nam, địch dừng lại, không nâng trụ cờ lên nữa dù chúng có thừa phương tiện và kỹ thuật. Một trong những lý do khiến Biệt đội cảnh sát giới tuyến không dám đề nghị cấp trên cho nâng trụ cờ lên cao hơn ta chính vì chúng không dám chấp nhận sự nguy hiểm ở trên cao khi phải đánh vật với gió và dây chằng. Vì vậy, cả hai cột cờ cùng dừng lại ở độ cao đó. Thực tế này đã thu hút sự chú ý đặc biệt của báo chí quốc tế. Tờ Dân tộc (The Nation), Thái Lan, số ra ngày  6/5/1960 đã có bài viết gọi đây chính là “biên giới tranh chấp của cột cờ cao nhất” [3].

Từ ngày  8/2/1965, Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại Vĩnh Linh với quy mô và cường độ ngày càng lớn. Cột cờ Hiền Lương trở thành một trong những mục tiêu đánh phá ác liệt của địch [4]. Cuộc chiến đấu để bảo vệ cờ của quân dân Vĩnh Linh do vậy cũng diễn ra hết sức quyết liệt.

Ngày 17/9/1965, 6 chiếc AD.6 ném bom vào Đồn CANDVT Hiền Lương. Trước hỏa lực chống trả mạnh mẽ của ta, phi công Mỹ ném chệch xuống khu gia binh của đồn cảnh sát Xuân Hòa làm chết và bị thương 52 người, trong đó có đồn trưởng cùng vợ, hai con và cả nhân viên tình báo nằm vùng. Tờ trình Nguyệt để tháng 9/1965 của Tỉnh trưởng Quảng Trị thừa nhận: “Sau vụ phi cơ Việt – Mỹ ném bom lầm đồn cảnh sát Hiền Lương ngày 17/9/1965 gây thiệt hại đáng kể về nhân mạng và tài sản của cảnh sát Bến Hải và đồng bào khiến dư luận hoang mang” [5]Tiếp theo, ngày 13/11/1965, máy bay Mỹ trong khi oanh tạc khu vực cầu và cột cờ Hiền Lương, bị sự chống trả mãnh liệt của ta đã ném nhầm bom xuống bờ Nam, làm chết một cảnh sát và gây nên một số thiệt hại vật chất của nhân dân. Công văn của Nguyễn Chánh Thi, Tư lệnh Quân đoàn I và Vùng I chiến thuật kiêm Đại biểu Chính phủ tại Trung nguyên Trung phần gửi Westmoreland, Tổng chỉ huy quân viễn chinh Mỹ ở miền Nam Việt Nam,nói rõ: “Hồi 09h20 ngày 13/11/1965, một số phi cơ phản lực thuộc không lực Hoa Kỳ sau khi oanh tạc và pháo kích vùng phi quân sự Bắc Bến Hải, đã ném nhầm hai quả bom rơi trên phần đất thuộc vùng Nam giới tuyến, cách cầu Hiền Lương 400m khiến cho một nhân viên cảnh sát tử thương, một đình làng và một số nhà cửa, gia súc, hoa màu của dân chúng”. Hậu quả của vụ này (cũng như vụ 16/9), theo Nguyễn Chánh Thi là rất nghiêm trọng vì “đã gây trong quần chúng niềm công phẫn xúc động và hoang mang vô cùng trầm trọng, hơn nữa đã tạo những cơ hội tốt để Việt cộng khai thác, tuyên truyền xuyên tạc thiện chí của những lực lượng Đồng minh của Việt Nam cộng hòa” [6].

Hai cột cờ, một cao một thấp, biểu tượng cho hai chế độ cùng tồn tại song song trên giới tuyến cho đến ngày  2/8/1967, khi Mỹ huy động một lực lượng lớn pháo binh, không quân, hải quân phối hợp đánh gãy cột cờ ta. Ngay trong đêm đó, ta đặt bộc phá đánh gục cột cờ ở bờ  Nam.

Ngày  3/8/1967, Đồn Công an Hiền Lương dựng lên một cột cờ mới bằng gỗ. Liên tục trong nhiều năm, sau mỗi trận đánh, cột cờ gãy đổ, lá cờ bị mảnh bom, đạn pháo xé rách, lập tức một cột cờ mới, một lá cờ mới được thay thế. Để có được điều đó, không thể không kể đến công sức của mẹ Nguyễn Thị Diệm ở thôn Hiền Lương. Dù tuổi cao sức yếu nhưng mẹ đã kiên quyết không chịu đi sơ tán mà ở lại bám trụ, hàng ngày cần mẫn khâu vá lại từng lá cờ, khi cờ mới chưa kịp đưa vào.

Để bảo vệ cờ, ta đã đánh trên 300 trận lớn nhỏ, 3 lần bắt biệt kích địch vượt sông đặt mìn phá hoại cột cờ, 2 chiến sỹ công an vũ trang hy sinh, 8 bị thương, 11 dân quân Hiền Lương ngã xuống để lá cờ Tổ quốc luôn tồn tại trên bầu trời giới tuyến [7].

Quá trình xây dựng và bảo vệ cột cờ Hiền Lương thực chất là một cuộc đấu tranh quyết liệt mang một tầm vóc và ý nghĩa chính trị lớn lao giữa ta và địch. Trong quá trình đó, lá cờ đỏ sao vàng của ta luôn cao hơn, to hơn cờ của địch, thể hiện ưu thế của chế độ xã hội chủ nghĩa miền Bắc trước chế độ tay sai của Mỹ ở miền Nam, có tác dụng cổ vũ lớn lao đối với niềm tin, ý chí của đồng bào, chiến sĩ bờ Nam vào thắng lợi tất yếu của ta trong cuộc đấu tranh bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam. Hiên ngang trong“mưa bom bão đạn” của Mỹ và chính quyền Sài Gòn, cột cờ Hiền Lương mãi là biểu tượng đẹp của lòng dũng cảm, ý chí kiên cường, bất khuất của quân dân “lũy thép anh hùng” trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vừa qua.

 

 (Hoàng Chí Hiếu - Khoa Lịch sử - Trường ĐHSP Huế)

 


[1]Diễn văn khánh thành kỳ đài Hiền Lương ngày  25/2/1956 của Quận trưởng Trung Lương. Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, Tp. Hồ Chí Minh, kí hiệu TNTP 863/2.

[2]. Bảo tàng Quảng Trị, Hồ sơ di tích đôi bờ Hiền Lương, tài liệu đánh máy, tr. 6.

[3]. Hoàng Chí Hiếu, Cuộc đấu tranh nâng cao cột cờ và sơn cầu Hiền Lương qua báo nước ngoài, Tạp chí Khoa học Công nghệ & Kinh tế Quảng Trị, số 4, tháng 11/2005, tr. 30. 

[4]. Chỉ tính từ cuối 1965 đến 1967, địch đã 192 lần ném bom (trong đó có 6 lần dùng B.52) với hơn 7.000 tấn bom đạn các loại, hơn 2.000 quả đại bác trên diện tích chưa đến 1ha của khu vực cầu và cột cờ Hiền Lương [Bộ Chỉ huy Bộ đội biên phòng Quảng Trị (1999), Lịch sử Bộ đội biên phòng Quảng Trị (1959 - 1999), Đông Hà, tr. 90].

[5]. Tòa Hành chánh Quảng Trị, Tờ trình Nguyệt để tháng 9/1965. Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, Tp. Hồ Chí Minh, ký hiệu PTT 151.

[6]Công văn số 13.124/QĐI/VICT/TLC, ngày  29/11/1965 của Trung tướng Nguyễn Chánh Thi gửi Đại tướng Westmoreland. Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, Tp. Hồ Chí Minh, kí hiệu PTT 15.631.

[7]. Ban quản lý di tích và danh thắng Quảng Trị (2005), Đôi bờ Hiền Lương, tr. 135

 

Tin tức khác

Zalo phone Hotline