(069). 518.055

Chính sách giữ yên vùng biên phía Bắc của vua Lê Thánh Tông

Ngày 10/08/2021855

Trong 38 năm cầm quyền của mình, vua Lê Thánh Tông luôn kiên định, giữ vững nguyên tắc độc lập tự chủ quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ. Lời răn dụ cho Thái bảo Lê Cảnh Huy vào năm 1473 trước khi đi giải quyết tranh chấp biên giới đã trở thành tuyên ngôn chủ quyền quốc gia của triều Lê Thánh Tông: ''Một thước núi, một tấc sông của ta lẽ nào lại vứt bỏ? Ngươi phải kiên quyết tranh biện, chớ cho họ lấn dần. Nếu họ không nghe, có thể sai sứ sang phương Bắc trình bày rõ điều ngay lẽ gian. Nếu ngươi dám đem một thước, một tấc của Thái Tổ làm mồi cho giặc thì phải tội tru di''.

Thái độ kiên quyết, dứt khoát không nhân nhượng kẻ thù một khi chúng xâm phạm biên cương Tổ quốc của Lê Thánh Tông được thể hiện nhất quán trong chính sách, quy định đối với vùng biên và qua những lần đấu tranh giành đất. Lê Thánh Tông thường xuyên nhắc nhở triều thần, các viên quan vùng biên giới theo dõi, giám sát mọi động tĩnh vùng biên. Triều đình còn đặt ra những quy định nghiêm khắc ra vào nơi biên giới, những nơi buôn bán mà thương khách Trung Quốc thường đi lại như trang Vân Đồn. Các quy định vùng biên được chính thức đưa vào Bộ luật Hồng Đức hay tên chính thức là Quốc triều hình luật (gồm có 722 điều) thực hiện dưới triều vua Lê Thánh Tông. Trong đó có nhiều điều thuộc các chương Vệ cấm, Tạp luật, đều quy định cụ thể về việc cấm người trong nước cũng như người nước ngoài phạm luật ra vào bất hợp pháp nơi biên giới với những hình phạt rất nghiêm khắc.

Điều 22 ghi rõ: Người trốn ra khỏi biên giới đi sang nước khác thì bị chém. Người giữ cửa quan (người coi xét cửa bể cũng thế), nếu không biết thì lưu đi châu gần, biết mà cố ý cho đi thì cùng một tội với người trốn đi nước ngoài người chủ trương bị biếm 2 tư...

Điều 23, 25,26, 27 có quy định rõ việc dân vùng biên bán đất, sản vật cùng bán binh khí, vận chuyển thực phẩm cho người nước ngoài. Người dân phạm tội phải xử phạt, cả những viên quan chỉ huy cũng đều bị liên đới vì đã không làm tròn chức trách.

Các điều từ 60 đến 64 quy định chặt chẽ tiếp xúc buôn bán với người nước ngoài mà trọng tâm là khách buôn Trung Quốc: Người ở trang Vân Đồn chở hàng hóa Trung Quốc lên Kinh thành, phải được giấy phép của An phủ sứ và thông qua cơ quan kiểm soát thuế hàng hóa. Nếu không chấp hành, khách buôn cùng các cơ quan hữu trách đều bị trách phạt.

Vua Lê Thánh Tông luôn cảnh giác với số người Trung Quốc mượn cớ này hay cớ khác lọt sâu vào nội địa nước ta. Năm Quang Thuận thứ 8 (1467) có hai thuyền buôn chở gạo của triều Minh bị bão giạt vào vùng Yên Bang (Quảng Ninh), được tin báo, vua Lê Thánh Tông cho quân sĩ giam giữ lại. Năm Hồng Đức thứ 3 (1472), khi được biết quan quân triều Minh đi Hội khám tập trung nhiều quân vùng giáp ranh Yên Bang, vua Lê Thánh Tông lập tức phái quan triều đình đi thăm dò, nếu phát hiện tình hình bất thường phải hội họp ngay quân các xứ để phòng giữ.

Một khi phát hiện người Minh vào nước ta trái phép thì triều đình lệnh trục xuất ngay không cần tra hỏi. Vào năm 1467, khi tìm thấy số người Minh trên thuyền buôn của nước Sumatra, lập tức ra lệnh kiên quyết bắt trả về Trung Quốc. Triều đình cũng thường xuyên chấn chỉnh đội ngũ quản lý vùng biên, bản thân vị Quân vương Lê Thánh Tông từng cho đặt thêm một vệ quân ở Yên Bang, lập danh bảo ở Tân Yên (Quảng Ninh).

Lê Thánh Tông luôn kịp thời khuyến khích khen thưởng người có công và trừng trị những kẻ có tội ở những vùng địa đầu Tổ quốc. Triều Lê Thánh Tông thực thi chế độ ưu đãi đối với những người làm quan nơi biên giới: Nếu lệ thường cứ 9 năm mới được chuyển đổi đi nơi khác, thì viên quan nào công cán tại nơi biên viễn độc địa mà nuôi dân có phương pháp, thu thuế má không nhiều mà đủ, làm việc đầy 6 năm thì cho đổi đi nơi khác tốt. Nếu có viên quan nào giả thác ốm để tránh đi xa, nộp thuế nhiều thì lại phân vùng xa xôi, sau 6 năm mới được xét lại.

Trong việc bảo vệ biên cương phía Bắc thời vua Lê Thánh Tông, nổi bật lên chính sách đối ngoại khôn khéo, đầy mưu lược trong những lần giải quyết vấn đề biên giới Việt Nam - Trung Quốc. Dưới triều Lê Thánh Tông có mấy vụ điển hình tranh chấp: Vào năm 1467, Sầm Tổ Đức người phủ Trấn An, tỉnh Quảng Tây đem hơn 1.000 người giả thác đi bắt giặc trốn rồi cho người vào cướp trâu bò, súc vật và bắt người vùng Thông Nông (Cao Bằng), lại tâu láo người phía Việt Nam giả vờ quy phục vào cướp Trấn An. Phía ta cho người dò hỏi, đều biết phía Tổ Đức vu cáo, lập tức triều thần tư báo cho quan Bố chính tỉnh Quảng Tây, đòi lại người và súc vật bị cướp.

Triều Lê Thánh Tông khi giải quyết tranh chấp rất triệt để, một mặt đưa công văn trách cứ, mặt khác đưa quân triều đình lên tận nơi để xem xét và trợ giúp quân dân nơi đó dẹp giặc. Không những chỉ dùng lý lẽ đấu tranh mà hơn nữa triều Lê Thánh Tông còn có những hành động quyết liệt để chống lại việc lấn chiếm, cướp bóc, xâm phạm chủ quyền của phương Bắc. Vào những năm 1473, 1475, 1477, thư tịch đều có chép những sự kiện mà phía Đại Việt đem quân đi trấn dẹp bọn lấn chiếm.

Nguyên nhân thành công của triều Lê Thánh Tông trong việc bảo vệ chủ quyền biên cương phía Bắc:

- Kết hợp chặt chẽ sức mạnh trí tuệ của trung ương và các biện pháp quản lý, ứng phó linh hoạt của các quan địa phương.

- Quan hệ giữa trung ương và địa phương là thường xuyên, kịp thời. Một khi có động tĩnh khác lạ ở địa phương đều được nhanh chóng báo cáo lên trung ương. Qua khảo sát nghiên cứu, triều đình lại đưa ra phương sách phù hợp để áp dụng vào thực tế của từng địa phương.

- Xây dựng được một quốc gia hùng mạnh, có nền an ninh quốc phòng vững chắc. Minh sử từng chép về Lê Thánh Tông như sau: Hạo (chỉ vua Lê Thánh Tông) hùng dũng kiệt xuất, tự phụ nước giàu dân mạnh, thường ngang nhiên làm phách.

- Thực hiện tốt chính sách hòa thân với không chỉ các thế lực trấn trị địa phương biên giới trong nước (với các hình thức ban phong quan chức, hòa hiếu với các họ lớn như họ Vi ở Lạng Sơn, họ Đèo ở Sơn La, họ Hoàng, họ Bế ở Cao Bằng). Ngoài ra, còn tìm cách liên kết với các biên thần triều Minh (dưới hình thức hối lộ, giao hảo), như trường hợp viên Trung quan là Tiềm Năng ở Vân Nam lại tư thông với Hạo liên kết các di được sách Minh sử chép lại.

- Một điều cốt lõi nữa trong việc bảo vệ chủ quyền đất nước là Lê Thánh Tông nắm vững được nội tình của triều Minh trong từng thời kỳ, cho nên có thể đưa ra những phương thức thích hợp, kịp thời để đối phó với tình hình biến động tại biên giới.

TS. Nguyễn Hữu Tâm

Tin tức khác

Zalo phone Hotline