(069). 518.055

Bộ đội Biên phòng bảo vệ vững chắc chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia trong tình hình mới

Ngày 06/08/2021212

Trong thời gian qua, trước những diễn biến phức tạp của tình hình trong nước và quốc tế, Đảng ta đã kịp thời đổi mới tư duy, nhận thức về bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Nghị quyết 08 của Bộ Chính trị ra đời đã cho chúng ta nhận thức rõ và sâu sắc, toàn diện hơn về bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Không chỉ giới hạn bảo vệ độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ mà phạm vi rộng lớn hơn cả về an ninh  quốc gia, nền tảng văn hoá, bảo vệ Đảng, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ sự nghiệp đổi mới và lợi ích quốc gia, dân tộc. Nghị quyết cũng xác định rõ sự gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, giữa quốc phòng - an ninh và phát triển kinh tế - xã hội, giữa đối tượng và đối tác, giữa hợp tác và đấu tranh.

Sức mạnh quốc phòng - an ninh bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới là sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, tư tưởng, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng- an ninh  và đối ngoại, sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước mà quân đội, công an  là lực lượng nòng cốt. Mặc dầu những năm qua, sự đầu tư cho quốc phòng - an ninh còn hạn hẹp, tình hình diễn biến phức tạp, kẻ địch chống phá quyết liệt, nhưng ý chí, trách nhiệm của toàn xã hội đối với công tác quốc phòng - an ninh được nâng cao, tạo được sự đồng thuận lớn trong các tầng lớp nhân dân. Các vấn đề phức tạp xẩy ra ở Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ và một số địa bàn trọng điểm khác, tuy còn những tiềm ẩn nhưng cơ bản chúng ta đã giải quyết ổn định và từng bước phát triển. Tuy nhiên, lâu nay chúng ta còn nặng tập trung đầu tư giải quyết những vấn đề trước mắt về trật tự xã hội, mà chưa quan tâm đúng mức những vấn đề cơ bản, nhất là đầu tư về an ninh quốc gia, tiềm lực quốc phòng, quân sự ở trình độ cao, do đó vẫn còn bị động, lúng túng, chủ quan trong dự báo, nhận định, đánh giá và xử lý một số tình huống phức tạp xảy ra trên một số địa bàn trọng điểm của đất nước.
Nước ta có chung đường biên giới với Trung Quốc dài 1.449.556km, qua 7 tỉnh của Việt Nam, 2 tỉnh của Trung Quốc; khu vực biên giới có 160 xã, 33 huyện thị xã, có 7 cửa khẩu biên giới, có 27 dân tộc anh em sinh sống. Biên giới Việt Nam- Lào dài 2.067km, qua 10 tỉnh Việt Nam và 10 tỉnh Lào, đã hoạch định 199/201 cột mốc, khu vực biên giới có 145 xã, 34 huyện, có 10 cửa khẩu, có 33 dân tộc anh em sinh sống. Biên giới Việt Nam- Campuchia dài 1.137km, qua 10 tỉnh Việt Nam, 7 tỉnh Campuchia, hoạch định được 72/322 cột mốc, khu vực biên giới có 103 xã, 34 huyện, 10 cửa khẩu, có 11 dân tộc anh em sinh sống. Bờ biển nước ta dài 3.260km, với 112 cửa sông, 22 vịnh, 53 cảng biển, có khoảng 3.000 đảo lớn nhỏ, trong đó có 47 đảo có dân sinh sống. Khu vực ven biển có 620 xã, phường, 126 huyện, thị, 28 tỉnh, thành. Những con số thống kê khái quát phần nào nói lên những thuận lợi cũng như khó khăn trong quản lý nhà nước về biên giới, đất liền và biển đảo.
Trong nhiều năm qua, Đảng ta đã có các chỉ thị, nghị quyết về xây dựng và bảo vệ biên giới quốc gia, Nhà nước đã tiến hành đàm phán, ký kết nhiều hiệp định, về biên giới với các nước láng giềng, đồng thời ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật để thể chế hoá đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng về biên giới. Từ đó, các cấp, các ngành, các địa phương và các lực lượng đã coi trọng việc lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về nhiệm vụ bảo vệ biên giới và xây dựng lực lượng bảo vệ biên giới.
Trong bảo vệ chủ quyền lãnh thổ biên giới quốc gia, chúng ta đã tiến hành đấu tranh giải quyết tốt hàng ngàn vụ việc chính trị, hình sự, tranh chấp xảy ra trên biên giới, vùng biển. Đặc biệt là ký Hiệp ước hoạch định biên giới đất liền với Trung Quốc và tiến hành phân giới, cắm mốc; ký Hiệp định phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa trong Vịnh Bắc Bộ; Hiệp định hợp tác nghề cá trong Vịnh Bắc Bộ giữa Trung Quốc với Việt Nam và đang từng bước triển khai thực hiện Dự án tôn tạo, tăng dày hệ thống mốc giới Việt Nam- Lào, ký Hiệp ước bổ sung Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia năm 1985 giữa Việt Nam- Campuchia, đang chuẩn bị triển khai hoạch định phân giới, cắm mốc, phân định chủ quyền giữa hai nước. Đồng thời, thông qua đàm phán, thương lượng đang mở ra phương hướng giải quyết các vấn đề tồn tại, tranh chấp chủ quyền biên giới, biển đảo giữa nước ta với các nước láng giềng.
Trong phát triển kinh tế- xã hội, Đảng, Nhà nước đã quan tâm đầu tư phát triển ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, vùng biên giới, hải đảo, nhiều công trình kinh tế trọng điểm đã được xây dựng, nhiều dự án kinh tế - xã hội xoá đói, giảm nghèo đã được thực hiện ở vùng sâu, vùng xa biên giới, hải đảo, hàng loạt các khu kinh tế mở, các cửa khẩu biên giới đã được khai thông; đường vành đai biên giới, đường tuần tra biên giới được mở rộng, hệ thống đồn biên phòng được tăng về số lượng, củng cố về chất lượng và di chuyển ra sát biên giới, các khu kinh tế- quốc phòng là hậu thuẫn và chỗ dựa rất lớn cho nhân dân và các đồn biên phòng ở vùng biên giới trọng điểm, phức tạp của Tổ quốc. Đã và đang mở ra nhiều cơ hội thuận lợi cho dịch vụ, giao lưu hàng hoá, vừa làm sôi động thị trường ở biên giới, vừa là điều kiện xây dựng quan hệ hợp tác hữu nghị giữa nước ta với các nước láng giềng.
Trong xây dựng biên giới hoà bình, hữu nghị, ổn định và hợp tác phát triển chúng ta đã giành được nhiều kết quả tốt đẹp. Chưa lúc nào quan hệ nhân dân và các lực lượng bảo vệ biên giới của nước ta với các nước láng giềng có mối quan hệ, giao lưu tốt đẹp như hiện nay. Những vấn đề tranh chấp chủ quyền, phòng chống tội phạm, cứu hộ, cứu nạn, xây dựng đời sống vật chất văn hoá tinh thần ở nhiều địa phương đã có sự phối hợp chặt chẽ với nhân dân và các lực lượng bảo vệ biên giới của nước ta với các nước láng giềng, góp phần tích cực vào sự ổn định tình hình biên giới giữa hai nước. Một số vấn đề biên giới, lãnh thổ, vùng chồng lấn trên biển với một số quốc gia đã được giải quyết.
Nhưng thực trạng hiện nay biên giới đất liền, vùng biển, vùng trời của Tổ quốc còn nhiều sơ hở, hiệu lực quản lý nhà nước về biên giới quốc gia chưa đầy đủ, thiếu vững chắc. Đường biên giới quốc gia trên thực địa còn chưa thực sự ổn định, vùng biển và một số vùng lãnh thổ quan trọng trên bộ còn đang tranh chấp hoặc bị lấn chiếm trái phép. Việc ký hiệp ước, hiệp định về biên giới đất liền, Vịnh Bắc Bộ với Trung Quốc và Hiệp ước bổ sung biên giới với Campuchia là cơ hội cho hoà bình, ổn định và phát triển ở khu vực và thế giới, phù hợp với lợi ích cơ bản của nhân dân hai nước. Nhưng từ nay cho đến khi phân định xong đường biên giới, hoàn thành việc cắm mốc trên thực địa và đảm bảo thực hiện hiệp ước, hiệp định nghiêm chỉnh là chặng đường đấu tranh quyết liệt, lâu dài và gian khổ. Các vùng biên giới chưa thực sự vững mạnh, nền kinh tế còn ở trình độ thấp kém, nhịp độ tăng trưởng thấp, giáo dục, y tế, văn hoá còn cách xa so với yêu cầu, nhiều vấn đề xã hội bức xúc và gay gắt chưa được giải quyết tốt. Nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân chưa được củng cố vững chắc, an ninh, chính trị, kinh tế, văn hoá và trật tự xã hội đang nảy sinh nhiều vấn đề mới nhưng hiệu quả phát hiện còn chậm, ngăn chặn đẩy lùi còn thấp. Công tác nghiên cứu, dự báo chiến lược về quốc phòng, an ninh, đối ngoại chưa theo kịp diễn biến của tình hình. Sự phối hợp giữa an ninh, quốc phòng, đối ngoại trong việc giải quyết một số vấn đề cụ thể thiếu chặt chẽ.
Trên thế giới, hoà bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn. Kinh tế thế giới và khu vực tiếp tục phục hồi và phát triển nhưng vẫn tiềm ẩn những yếu tố bất trắc khó lường. Những cuộc chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, xung đột dân tộc, sắc tộc, tôn giáo, chạy đua vũ trang, hoạt động khủng bố, tranh chấp về biên giới, lãnh thổ, biển đảo và các tài nguyên thiên nhiên tiếp tục diễn ra ở nhiều nơi với tính chất ngày càng phức tạp, gây bất ổn về kinh tế, chính trị, xã hội ở từng nước…
Để xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân vững mạnh toàn diện, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, đưa công tác quản lý- xây dựng và bảo vệ biên giới vùng biển tiến kịp yêu cầu nhiệm vụ, cần thực hiện những giải pháp vừa chiến lược, cơ bản vừa cụ thể, cấp bách sau:
Thứ nhất, tiếp tục tăng cường bảo vệ và quản lý biển đảo quốc gia. Bảo vệ biển đảo chính là bảo vệ chủ quyền, an ninh quốc gia, trước mắt là chống đói nghèo, lạc hậu. Mỹ và các nước lớn coi biển Đông là khu vực trọng điểm về quyền lợi. Các nước lớn coi việc mở rộng khu vực quyền lợi ra biển Đông là cuộc trường chinh thứ hai. Đối với nước ta bảo vệ và quản lý biển là một bộ phận trong chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của Đảng và Nhà nước ta. Vì vậy, trong khi vẫn chăm lo giải quyết những vấn đề trước mắt, Đảng, Nhà nước cần quan tâm đầy đủ những lợi ích lâu dài về biển, tăng cường nghiên cứu khoa học, hoàn chỉnh hệ thống pháp lý về biển, ban hành luật môi trường biển.
 Trước hết, tập trung củng cố tổ chức  lực lượng chuyên trách về biển, chuẩn bị lực lượng, phương tiện cơ sở vật chất tạo điều kiện để từng bước vươn ra làm chủ trên biển trong những thập kỷ đầu của thế kỷ XXI. Tiếp tục thực hiện có trọng điểm chương trình biển Đông, hải đảo, xây dựng các đoàn tàu, tập đoàn tàu lớn gắn kinh tế với quốc phòng- an ninh ở vùng biển trọng điểm, từng bước đưa dân ra sinh sống ở những đảo có đủ điều kiện. Tập trung đầu tư về mọi mặt cho vùng biển bãi ngang, nơi đang còn khó khăn thiếu thốn nhiều mặt, để từng bước trở thành phòng tuyến nhân dân vững chắc bảo vệ biển đảo của Tổ quốc.
Thứ hai, chú trọng nhiệm vụ quản lý, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia trong thời kỳ mở cửa, giao lưu hội nhập. Hiện nay, biên giới, vùng biển nước ta còn nhiều điểm tranh chấp, chồng lấn, đầy tiềm ẩn nguy cơ mất ổn định trước mắt và lâu dài. Về mặt chiến lược Đảng và Nhà nước ta cần tập trung đàm phán giải quyết dứt điểm về chủ quyền, lãnh thổ giữa nước ta với các nước láng giềng; các địa phương cần có sự chỉ đạo, định hướng để tăng cường quan hệ, giao lưu, tạo sự gần gũi, thân thiện, tin cậy lẫn nhau giữa nhân dân hai nước ở hai bên biên giới. Đó là tiền đề cơ bản để giải quyết các vấn đề phức tạp xảy ra dễ dàng và nhẹ nhàng hơn. Thực tế hiện nay trên các tuyến biên giới, nhất là Việt Nam- Trung Quốc- Campuchia và vùng biển, còn nhiều lý do khác nhau nên một số địa phương còn cứng nhắc, máy móc trong quan hệ  giao lưu không nên tạo ra những căng thẳng, phức tạp không cần thiết ở hai bên biên giới. Đồng thời, Đảng và Nhà nước cần phải có những cơ chế chính sách đặc biệt, thoả đáng cho lực lượng bảo vệ biên giới làm nhiệm vụ quan trọng, đặc biệt để họ yên tâm gắn bó cả cuộc đời binh nghiệp của mình nơi biên cương, hải đảo của Tổ quốc, thu hút được người tài giỏi lên biên giới nghiên cứu, làm việc.
Thứ ba, đổi mới công tác quản lý, bảo vệ và xây dựng biên giới, tập trung vào 3 khâu trọng yếu là: quản lý tốt mốc quốc giới và các dấu hiệu đường biên giới quốc gia; kiểm soát chặt chẽ việc lưu thông biên giới và duy trì nghiêm quy chế biên giới, kết hợp chặt chẽ bảo vệ đường biên, mốc giới với bảo vệ an ninh chính trị, an ninh kinh tế, an ninh văn hoá với phòng thủ sẵn sàng chiến đấu. Xây dựng kế hoạch chặt chẽ bảo vệ biên giới với bảo vệ nội địa và nội bộ; kết hợp chặt chẽ giữa ba tuyến: ngoại biên, biên phòng, nội địa (đất liền)- tuyến khơi- lộng- bờ (biển đảo). Phát huy sức mạnh tổng hợp tại chỗ với sức mạnh cả nước, sức mạnh của lực lượng chuyên trách và các lực lượng, phương tiện khác, tập trung trọng điểm, quán xuyến cho được chính diện đường biên giới và chiều sâu khu vực biên phòng, đối tượng và địa bàn phù hợp với đặc điểm từng tuyến biên giới. Đẩy mạnh hơn nữa việc quy hoạch đưa dân cư ra sát biên giới, nhất là những vùng biên giới chưa có dân hoặc dân ở xa biên giới; gắn quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế- xã hội với công tác bảo vệ, quản lý biên giới, phát triển nông- lâm- ngư nghiệp với chủ động điều chỉnh kịp thời về bố trí lực lượng thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân trên các vùng biên giới.
Thứ tư, tổ chức thực hiện chặt chẽ và có hiệu quả thiết thực các chương trình kinh tế- xã hội của Nhà nước với tăng cường sức mạnh quốc phòng, an ninh, thích hợp với từng tuyến biên giới, tạo cho được những điển hình về kinh tế nông- lâm- công nghiệp, những điểm sáng về văn hoá ở các vùng biên giới. Từng địa phương, từng cấp, từng ngành cần cụ thể hoá các chương trình kinh tế- xã hội của Nhà nước, rà soát điều chỉnh cơ cấu kinh tế kỹ thuật, cơ cấu đầu tư, định bước đi thích hợp cho từng vùng biên giới, gắn chặt xây dựng kinh tế văn hoá với củng cố quốc phòng- an ninh, coi trọng xây dựng cơ sở hạ tầng, điện, đường, trường, trạm, đầu tư thích đáng cho các khu kinh tế quốc phòng trên các địa bàn chiến lược quan trọng. Sự kết hợp nói trên cần đưa vào chương trình chiến lược kinh tế- xã hội của Nhà nước đến năm 2010- 2020. Tiếp tục phát triển các khu kinh tế- quốc phòng, xây dựng các khu quốc phòng- kinh tế với mục tiêu tăng cường quốc phòng- an ninh là chủ yếu, tập trung vào các địa bàn trọng điểm chiến lược và các khu vực nhạy cảm trên biên giới đất liền, biển đảo. Xây dựng công nghiệp quốc phòng trong hệ thống công nghiệp quốc gia, đầu tư có chọn lọc theo hướng hiện đại, vừa phục vụ quốc phòng, vừa phục vụ dân sinh.
Thứ năm, xây dựng chương trình phát triển và củng cố lực lượng chính trị- vũ trang tại chỗ, duy trì và nâng cao chất lượng phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc và phong trào thi đua quyết thắng trong dân quân tự vệ ở các xã biên giới. Tổ chức tốt ngày Biên phòng toàn dân hàng năm một cách thiết thực, để giáo dục nghĩa vụ và quyền lợi cho mọi thế hệ công dân đối với sự nghiệp bảo vệ biên giới. Gắn các chính sách xã hội với chủ trương xây dựng và củng cố quốc phòng- an ninh biên giới. Ban hành chính sách khuyến khích các hình thức kết nghĩa, đỡ đầu giữa nội địa, thành phố với biên giới, thực hiện chế độ luân chuyển thanh niên, cán bộ quân đội, công an, cán bộ khoa học, kỹ thuật thay phiên nhau tham gia nghiên cứu bảo vệ và xây dựng biên giới. Có kế hoạch tổ chức và động viên nhân dân các xã biên giới xung phong tình nguyện tham gia bảo vệ biên giới và xây dựng biên giới, hăng hái thực hiện các chương trình kinh tế- xã hội, đấu tranh chống lấn chiếm, chống buôn lậu, bài trừ tệ nạn xã hội, lập lại trật tự kỷ cương trên các vùng biên giới đang có nhiều diễn biến phức tạp. Đổi mới về tổ chức, nội dung, phương pháp huấn luyện, đào tạo đối với lực lượng vũ trang, phát triển khoa học quân sự, nghệ thuật chiến tranh nhân dân; đổi mới phương thức hoạt động của lực lượng chuyên trách, bán chuyên trách phối hợp với các tổ chức của nhân dân trong bảo vệ an ninh quốc gia.
Thứ sáu, tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước đối với hoạt động quốc phòng, an ninh. Bổ sung cơ chế phối hợp hoạt động giữa quốc phòng, an ninh, đối ngoại và một số bộ, ngành có liên quan trong phân tích, dự báo tình hình và làm tham mưu đề xuất các giải pháp thực hiện. Bổ sung, xây dựng và hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật, các chính sách xã hội có quan hệ đến nhiệm vụ quốc phòng, an ninh trong tình hình mới nhằm bảo vệ an ninh chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, góp phần giữ vững ổn định chính trị của đất nước, ngăn ngừa, đẩy lùi, làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch, không để bị động, bất ngờ. Coi trọng nhiệm vụ bảo đảm an ninh chính trị nội bộ, nâng cao khả năng tự bảo vệ của mỗi công dân, từng tổ chức, cơ quan, đơn vị, xây dựng “thế trận lòng dân” làm nền tảng phát huy sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết dân tộc trong sự nghiệp bảo vệ và chấn hưng đất nước hiện nay.
                                     

                                   Trung tướng Võ Trọng Việt- Chính ủy Bộ đội Biên phòng

 

Tin tức khác

Zalo phone Hotline