Ngày 07/08/2021402
Đó là câu mở đầu cho một nguyên lý của Đức Lê Thái Tổ, vị anh hùng của sự nghiệp giải phóng dân tộc ta trong cuộc Kháng chiến chống giặc Minh đô hộ và mở ra một thời thịnh trị của triều Lê về kế sách giữ nước. Câu tiếp theo, cũng là cái nguyên lý thứ hai được người chỉ huy cuộc kháng chiến 10 năm trường kỳ để phục hưng Đại Việt sau 20 năm bị ngoại bang đô hộ, là “Đất nước nên lo kế lâu dài”.
“Biên phòng hảo vị trù phương lược- Xã tắc ưng tu kế cửu an” có thể được coi như cái nguyên lý bền vững đã giúp dân tộc ta trường tồn với lịch sử như một quốc gia độc lập. Quốc gia ấy, bắt đầu từ Vùng Đất Tổ của các Vua Hùng đã trải qua một thử thách tưởng chừng sẽ diệt vong bởi chiều dài hơn một thiên niên kỷ bị phương Bắc xâm lược, đô hộ và cai trị như một quân huyện trước khi bước vào nền tự chủ vững bền được đánh dấu bằng Chiến thắng Bạch Đằng của Đức Ngô Vương Quyền (năm 938).
Trải tiếp hai triều Đinh và Tiền Lê, với việc rời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long, triều Lý đã tạo dựng một nền tảng vững chắc cho nền tự chủ Đại Việt có thể trường tồn và bờ cõi không ngừng được mở mang. Có thể nhận ra cái nguyên lý mà Đức Lê Thái Tổ đã đúc kết được thể hiện nhất quán ở mọi thời thịnh trị của mọi triều đại. Đó là hoà hiếu, khôn khéo và quyết liệt bảo vệ biên cương phía Bắc và không ngừng Nam tiến để mở rộng lãnh thổ trong bối cảnh có những xung đột với các vương quốc cổ ở phương Nam. Không chỉ bằng các cuộc chiến tranh mà bằng cả ngoại giao hôn nhân cùng sức mạnh văn hoá của nền văn minh lúa nước và tổ chức làng xã rất truyền thống mà lãnh thổ nước ta ngày càng hoàn thiện.
Ngay từ thời nhà Đinh, người đứng đầu Đại Cồ Việt đã xưng “đế” nhằm thể hiện sự tự chủ mà sau này được thể hiện trong “vần thơ thần” bên chiến tuyến sông Như Nguyệt thời Lý “Nam quốc sơn hà Nam đế cư...” hay như trong “Bình Ngô đại cáo” của vua Lê Thái Tổ và mưu sĩ Ức Trai Nguyễn Trãi: “Giang sơn bờ cõi đã chia/ Phong tục Bắc Nam cũng khác”.
Nhưng cũng có thể nói rằng dưới triều Lý, tuy có cuộc động binh của Lý Thuờng Kiệt đánh sang châu Ung, châu Khiêm để chặn hoạ từ gốc còn về căn bản Đại Việt giữ được hoà hiếu với phương Bắc. Không những thế , với sự khôn khéo trong ngoại giao, triều Lý còn “đòi” lại được châu Quảng Nguyên giàu tài nguyên là mỏ vàng để đổi lấy việc trao trả tù binh cho nhà Tống (1079). Ngay người phương Bắc cũng có lời trách người đứng đầu của mình là ham voi của người Việt mà để mất vàng của đất Quảng Nguyên (Nhân tham Giao Chỉ tượng/ Khước thất Quảng Nguyên kim).
Rồi đến năm 1084, vua Lý Nhân Tông giao cho Binh bộ Thị lang Lê Văn Thịnh sang Tống bàn việc biên cương mà thuyết phục được phương Bắc trả lại cho ta 6 huyện Bảo Lạc cùng 2 động Túc Tang. Sau này, nhà sử học Phan Huy Chú phân tích và cho rằng: “Việc biên giới đời Lý được nhà Tống trả lại đất rất nhiều. Bởi vì, trước thì có oai thắng trận... đủ làm cho nhà Tống phải phục, sau thì sứ thần bàn bạc, lời lẽ thung dung, càng thêm khéo léo, cho nên cầu gì được nấy, làm cho lời tranh biện của người Trung Quốc phải khuất, mà thế lực của Nam Giao được mạnh. Xem đó cũng có thể biết qua thế cường thịnh của thời bấy giờ...”.
Cũng cần nói thêm rằng, triều đình Đại Việt bằng chính sách phủ dụ, trọng dụng và kết thân bằng hôn nhân với các tù trưởng vùng biên giới tạo nên sự vững chãi cho vùng phên dậu của lãnh thổ quốc gia. Đến thời Trần, với 3 cuộc kháng chiến thành công lừng lẫy chống giặc Nguyên- Mông, triều đình nhà Trần còn phát huy ngoại giao hôn nhân để mở mang bờ cõi và liên kết đồng minh khiến cho chủ quyền quốc gia không chỉ rộng hơn mà còn vững chắc hơn. Với việc gả công chúa Huyền Trân cho vua Chiêm Thành là Chế Mân, lãnh thổ Đại Việt thời Trần có thêm châu Ô và châu Lý (Thuận Châu và Hoá Châu).
Sau thời nhà Trần là nhà Hồ. Triều đại này tồn tại rất ngắn ngủi nhưng cũng để lại một bài học sâu sắc. Đó là việc nhà Hồ tuy mở rộng được lãnh thổ phương Nam tới vùng đất nay là tỉnh Quảng Ngãi, nhưng chỉ với việc giao 59 thôn chép theo tên xã là Lộc Châu cho nhà Minh mà sách “Đại Việt sử ký toàn thư” sau này đã phê phán gay gắt: “Cái tội bán đất... giết đi cũng không hết tội được...” đủ thấy trong tâm thức của người Việt chúng ta, công cuộc gìn giữ bờ cõi lãnh thổ được coi trọng và thiêng liêng như thế nào.
Triều Lê dựng nghiệp từ thắng lợi của cuộc kháng chiến giải phóng khỏi ách chiếm đóng của giặc Minh đã tạo nên một thời kỳ hơn ba thế kỷ không có bóng giặc ngoại xâm, một phần vì một đường lối ngoại giao đề cao hoà hiếu và nhân nghĩa đồng thời cũng nhờ ý chí giữ gìn xã tắc sơn hà của các đấng minh quân mà tiêu biểu là Hoàng đế Lê Thánh Tông.
Lê Thánh Tông đã từng ra sắc chỉ cho các phủ lộ, trấn, châu, huyện rằng: “Ai ở cõi biên giới thì phải giữ quan ải cẩn thận, không được thông đồng với người nước ngoài”. Ngài còn răn dạy các quần thần của mình rằng: “Một thước núi, một tấc sông của ta không nên vất bỏ, người nên cố cãi, chớ cho họ lấn dần, nếu họ không nghe còn có thể sai quan sang Bắc triều bày tỏ phải trái. Nếu ngươi dám lấy một thước núi, một tấc đất của Thái tổ mà đút mồi cho giặc thì phải tội tru di”.
Chính Lê Thánh Tông là người đã sai đo đạc, thám sát đất đai, hải đảo, bờ biển cả nước để vẽ bản đồ làm phương tiện quản lý giang sơn. Bộ “Hồng Đức bản đồ” là một thành tựu đỉnh cao của công việc giữ gìn bờ cõi để nối truyền cho những đời sau. Trong bộ Luật Hồng Đức (Quốc triều hình luật) cũng do Lê Thánh Tông sai soạn, có những điều luật quy định rõ ràng: “Người nào trốn qua cửa quan ra khỏi biên giới đi sang nước khác thì bị chém (theo thuyền buôn nước ngoài mà ra nước ngoài cũng bị tội này) - (Điều 71); “những người bán ruộng đất ở bờ cõi cho người nước ngoài thì bị tội chém...” ( Điều 74); “những người trốn ra nước ngoài, thì bị xử tội phản nghịch, điền sản phải tịch thu sung công...” (Điều 653).
Dưới triều Lê cũng là thời kỳ biên giới phía Tây Đại Việt được củng cố, trong bối cảnh các chúa Trịnh- Nguyễn phân tranh nhưng biên giới phía Bắc được ổn định, còn các chúa Nguyễn thì nối tiếp nhau mở mang và ổn định vùng lãnh thổ Đàng Trong ở phương Nam để sau khi Anh hùng Quang Trung - Nguyễn Huệ tiêu diệt cả hai thế lực cát cứ đã đặt ra nền tảng cho sự thống nhất lãnh thổ và bước vào đầu thế kỷ XIX thì triều Nguyễn đã hoàn thiện quá trình đó bằng những cuộc cải cách hành chính dưới triều Minh Mạng, xác lập một lãnh thổ hoàn chỉnh của nước Đại Nam trước khi bị chủ nghĩa thực dân Pháp nổ súng xâm lược vào giữa và nửa sau thế kỷ XIX.
Với bộ “Hoàng Việt nhất thống dư địa chí”, lãnh thổ quốc gia đã được khẳng định: “Bờ cõi đó đây, sau hơn 200 năm thu về một mối, Bắc cho đến Lạng Sơn, Nam cho đến Hà Tiên, tất cả 31 trấn, dinh, đạo lớn nhỏ đều về với thanh giáo, đất đai rộng lớn, bao la đó, thực mà nói từ xưa đến nay chưa bao giờ có được”.
Cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp đã tạo ra những tác động khiến cho triều đình Việt Nam chẳng những phải đối phó với những rối ren do nạn thổ phỉ của phương Bắc tràn sang mà còn bị phụ thuộc vào nhà Thanh khi liên kết để chống Pháp. Trong bối cảnh ấy, sau khi thực dân Pháp đã chiếm đóng và đô hộ nước ta, các cuộc thương lượng biên giới Pháp- Thanh, cũng như việc xác định các đường biên giới phía Tây nước ta trong khuôn khổ nằm chung trong lãnh thổ thuộc địa Đông Dương của Pháp cũng dần được xác định theo các phương thức ghi nhận hiện đại với hệ thống bản đồ theo phong cách Tây phương và hệ thống cột mốc biên giới. Đó là những di sản lịch sử để khi nước Việt Nam đã độc lập tự chủ, thống nhất lãnh thổ, bằng cuộc đấu tranh giải phóng và bằng công cuộc xây dựng đất nước, đường biên giới quốc gia của nước ta ngày càng được xác lập ổn định, chính xác tiếp thu những thành tựu công nghệ hiện đại cũng như hội nhập với những cam kết của luật pháp quốc tế.
Việc thương lượng và ký kết những hiệp định biên giới quốc gia trong đó có cả vùng trời, vùng biển với các quốc gia có liên quan, tham gia các cam kết quốc tế, việc kiên trì đường lối “muốn làm bạn với tất cả các nước dân chủ, không muốn gây sự với ai” (Hồ Chí Minh - 1946), giữ hoà hiếu với các quốc gia có chung biên giới và khu vực, kiên quyết bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ và lợi ích quốc gia chính là phương lược và kế sách để tiếp tục củng cố những thành quả lịch sử của cha ông để lại và sẽ là tiền đề cho sự ổn định và phát triển lâu dài của dân tộc Việt Nam.
Thực tiễn lịch sử càng làm sáng tỏ nguyên lý mà hơn nửa thiên niên kỷ trước dân tộc ta đã đúc kết: “Biên phòng cần có phương lược tốt/ Đất nước nên lo kế lâu dài”.
Dương Trung Quốc