Ngày 06/08/2021311
Việt Nam là một quốc gia biển nằm ven bờ Biển Đông (biển Việt Nam rộng gấp 3 lần diện tích đất liền) với đường bờ biển kéo dài trên 3.260km (không kể bờ các đảo) và nhiều đảo (trên 3.000 đảo lớn nhỏ), trong đó có hai quần đảo ngoài khơi là Hoàng Sa và Trường Sa.
Phần lục địa nước ta không có nơi nào cách xa biển trên 500 km, nên biển có thể phát huy ảnh hưởng đến mọi miền đất nước. Dải ven biển nước ta không chỉ tạo ra lợi thế “mặt tiền hướng biển” để mở cửa thông thương với thế giới bên ngoài, mà còn có thể kết nối biển với vùng lãnh thổ đông nam Trung Quốc, Lào, đông bắc Thái Lan và Cam-pu-chia thông qua hệ thống cảng biển, đường sắt và đường bộ.
Năng lực nội sinh và nhu cầu nội vùng của dải ven biển nước ta cũng rất đáng kể: tập trung các nguồn tài nguyên thiên nhiên, các hệ sinh thái quan trọng bậc nhất; tập trung khoảng trên 50% dân số cả nước (tính cho các tỉnh ven biển) và khoảng 30% dân số cả nước (tính cho các huyện ven biển); khoảng 50% các đô thị lớn và nhiều khu công nghiệp lớn đang được đầu tư phát triển mạnh, trong đó có ba vùng kinh tế trọng điểm quốc gia. Một dải đất hẹp và bờ biển dài như vậy vừa có lợi thế trong phát triển vừa có giá trị chiến lược về mặt phòng thủ đất nước khi xảy ra chiến tranh. Để phát huy thế mạnh và hạn chế điểm yếu, việc đa dạng hóa các loại hình phát triển theo vùng tự nhiên-sinh thái ven biển khác nhau là một nhiệm vụ mang tầm chiến lược. Phát triển vùng ven biển nhằm tạo động lực lan tỏa hỗ trợ phát triển vùng trung du-miền núi, đồng thời tạo cơ sở cho phát triển một nền kinh tế biển vững chắc và lâu dài, đặc biệt cần chú ý đến phát triển dịch vụ “quá cảnh” đối với các nước hoặc vùng lãnh thổ không có biển nói trên, cũng như các dịch vụ hàng hải và tìm kiếm cứu nạn trên Biển Đông. Điều này tạo ra tiền đề cho việc hoạch định một chiến lược biển tầm cỡ gắn với một nền quốc phòng, an ninh trên biển vững chắc, phù hợp với xu thế phát triển của một quốc gia biển.
Như vậy, các vấn đề biển của nước ta sẽ vừa chứa đựng yếu tố quốc gia, vừa chứa đựng yếu tố quốc tế. Cho nên, chính sách biển nước ta một mặt phải có tác động điều chỉnh hành vi phát triển của các ngành kinh tế biển, tạo ra một trật tự pháp lý ổn định trên biển Việt Nam, mặt khác phải “cho” khả năng hội nhập quốc tế, phù hợp với tinh thần của Công ước Luật biển của Liên hiệp quốc 1982. Trong phát triển chú trọng cả yếu tố truyền thống và hiện đại, chú trọng phát triển các nghề biển xa và chuẩn bị từng bước điều kiện để vươn khơi, vươn ra đại dương.
Trong bối cảnh thế giới tiến ra biển ở Thế kỷ 21 với các chiến lược biển quốc gia đầy triển vọng, và trong xu thế thế giới đang “lấy đại dương nuôi đất liền” như đã nói trên thì việc nhận diện một “Việt Nam biển” và vị trí của nó đối với chiến lược phát triển đất nước như vậy là một cách nhìn mới và đầy đủ về “chân dung kinh tế” đất nước. Biển phải trở thành yếu tố trọng yếu trong nền kinh tế quốc dân và trong việc lựa chọn con đường đi tới của dân tộc ta.
Nhận thức rõ vị trí chiến lược của biển, hải đảo đối với kinh tế và an ninh quốc phòng, Đảng ta đã sớm có những chủ trương, chính sách đúng đắn và nhất quán qua các thời kỳ về vấn đề này. Ngay sau khi nước ta giành được độc lập, ý thức của dân tộc Việt Nam về biển đã được hội tụ trong câu nói bất hủ của Bác Hồ: “Biển bạc của ta do nhân dân ta làm chủ” khi Người về thăm làng cá Tuần Châu (Quảng Ninh) và Cát Bà (Hải Phòng) vào dịp cuối tháng 3 đầu tháng 4 năm 1959.
Về mặt chủ trương, tiếp sau Hiến pháp nước ta năm 1992 sửa đổi (Điều 1) khẳng định chủ quyền và quyền chủ quyền của nước ta trên biển, Bộ Chính trị (ngày 6 tháng 5 năm 1993) đã ra Nghị quyết 03-NQ/TW về đẩy mạnh phát triển kinh tế biển. Nghị quyết này đã chỉ rõ: “Vị trí và đặc điểm địa lý của nước ta cùng với bối cảnh phức tạp trong vùng vừa tạo điều kiện, vừa đòi hỏi chúng ta phải đẩy mạnh phát triển kinh tế biển đi đôi với tăng cường bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia, bảo vệ tài nguyên và môi trường sinh thái biển. Phấn đấu trở thành một nước mạnh về kinh tế biển”. Quan điểm chính trị đó tiếp tục được cụ thể hóa trong Nghị quyết của các Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, IX. Theo đó, trong phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội 5 năm (2006-2010) đã chỉ rõ: “Phát triển mạnh kinh tế biển vừa toàn diện, vừa có trọng tâm, trọng điểm với những ngành có lợi thế so sánh để đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về kinh tế biển gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh và hợp tác quốc tế”.
Đến Hội nghị Ban chấp hành TW Đảng lần thứ 4 (khoá X) năm 2007, Đảng ta đã thông qua Nghị quyết 09/2007/NQ-TW về ban hành Chiến lược Biển Việt Nam đến năm 2020. Trong đó, xác định mục tiêu đến năm 2020 “phấn đấu đưa nước ta trở thành một quốc gia mạnh về biển và làm giàu từ biển”. Đồng thời, chiến lược đã đề ra hàng loạt phương hướng, nhiệm vụ cơ bản và giải pháp chủ yếu tiến ra biển xa, chuẩn bị điều kiện ra đại dương, trong đó phải phát triển một nền khoa học - công nghệ biển tiến, một nền kinh tế biển hiệu quả và bền vững, biển nước ta phải được quản lý tổng hợp và thống nhất về mặt nhà nước, giữ vững hòa bình và ổn định vùng biển, góp phần bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng biển của Tổ quốc.
Có thể nói, chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 đã thể hiện tư tưởng chỉ đạo và ý chí chính trị của Đảng và Nhà nước ta đối với các vấn đề cực kỳ hệ trọng của đất nước - biển và hải đảo. Một vấn đề vừa rộng lớn, vừa phức tạp, vừa đòi hỏi tính bao quát toàn diện và một tầm nhìn dài hạn, cũng như những giải pháp mang tính đột phá đối với các vấn đề kinh tế, xã hội, quản lý, quốc phòng - an ninh, khoa học - công nghệ, phát triển bền vững,...về biển và hải đảo của đất nước trong thời gian tới. Sự phát triển như vậy phải dựa trên thế mạnh, tính đặc thù và việc phát huy lợi thế của biển nước ta trong bối cảnh cụ thể của khu vực Biển Đông, cũng như việc bảo đảm lợi ích quốc gia trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế về biển.
Để thực hiện Nghị quyết 09/2007/NQ-TW, ngày 30 tháng 5 năm 2007, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 27/2007/NĐ-CP về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020. Theo đó, Chính phủ đã xác định các nhiệm vụ, nội dung cơ bản giao cho các bộ, ngành, địa phương liên quan quán triệt và triển khai trong thực tế. Một trong những nhiệm vụ tập trung chỉ đạo là từng bước hoàn thiện hệ thống thể chế, chính sách quản lý tổng hợp và thống nhất đối với biển và hải đảo. Tháng 3 năm 2008, Chính phủ giao Bộ Tài nguyên và Môi trường nhiệm vụ quản lý nhà nước tổng hợp và thống nhất đối với biển và hải đảo. Biển và hải đảo đã trở thành lĩnh vực quản lý nhà nước thứ 7 trong Bộ này và để giúp Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện nhiệm vụ, Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định thành lập Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam. Ở 28 tỉnh, thành phố ven biển, nhiệm vụ này giao cho Sở Tài nguyên và Môi trường cùng với việc thành lập các Chi cục, Phòng quản lý biển, hảo đảo trực thuộc Sở này. Về mặt chính sách, pháp luật về biển, Chính phủ lần đầu tiên ban hành Nghị định số 25/2009/NĐ-CP về quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển. Các Luật Biển Việt Nam (luật cơ bản về biển), Luật Tài nguyên và Môi trường biển đang được xây dựng theo cách tiếp cận quản lý tổng hợp, thống nhất... Tháng 6 năm 2010, Chính phủ phê duyệt quy hoạch hệ thống 16 khu bảo tồn biển đầu tiên ở Việt Nam tạo thuận lợi cho phát triển nghề cá bền vững, du lịch sinh thái biển ở các vùng biển, hải đảo của đất nước trong thời gian tới.
PGS.TS. Nguyễn Chu Hồi